Luận văn thạc sĩ quản lý tài sản công ở viện khoa học nông nghiệp việt nam - Pdf 58

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG
TÀI SẢN CÔNG TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CÔNG LẬP..............................................................................................................6
1.1. Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp................................................................. 6
1.2. Quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập....12
1.3. Nội dung quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công
nghệ công lập.................................................................................................... 18
1.4. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến quản lý tài sản công trong các đơn vị
sự nghiệp khoa học công nghệ công lập............................................................ 23
1.5. Một số kinh nghiệm quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp của một số
nước và bài học kinh nghiệm............................................................................ 25
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆN
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.........................................................35
2.1. Giới thiệu về Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam................................. 35
2.2. Thực trạng công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam...........................................................................................................39
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian vừa qua................................................ 55
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam............................................................................................... 57
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM............62
3.1. Yêu cầu đặt ra đối với hoàn thiện công tác quản lý tài sản công ở Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam...................................................................... 62
3.2. Thuận lợi và khó khăn đối với đổi mới công tác hoàn thiện công tác
quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam..........................64


3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài sản công ở Viện

26/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công
nhằm từng bước đưa hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công đi vào nề nếp, đảm
bảo tính kỷ cương, công khai chuẩn hóa theo chế độ và tiêu chuẩn cụ thể.
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam là đơn vị sự nghiệp khoa học công
nghệ công lập trong lĩnh vực nông nghiệp, thời gian qua công tác quản lý tài sản
công đã có nhiều cố gắng. Từ xây dựng và áp dụng các nguyên tắc, định mức phân
bổ giao dự toán kinh phí được thực hiện với mục tiêu đầu tư trọng tâm trọng điểm,
không dàn trải đến thực hiện mua sắm tài sản công minh bạch, tiết kiệm, sử dụng tài
sản công cơ bản đúng mục đích… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được,
công tác quản lý tài sản công của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam vẫn còn
tồn tại những hạn chế cần khắc phục như: quá trình quản lý và sử dụng còn chưa
chặt chẽ, chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu và phần mềm theo dõi tài sản công một
cách hệ thống, tổ chức bộ máy quản lý tài sản công mỏng, không đồng đều về trình
độ…Chính vì vậy, đề tài “Quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam” có tính cấp thiết
1


nhằm nghiên cứu nội dung, các biện pháp quản lý góp phần đề xuất một số giải pháp
nhằm tăng cường hoạt động quản lý tài sản công tại đơn vị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về tài sản công nói chung, quản lý tài sản công trong các cơ quan
của nhà nước nói riêng đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài đề cập đến khá
nhiều. Có thể kể đến một số công trình có liên quan đến lĩnh vực này như:
“Managing Government Property Assets: International Experiences” (Quản
lý tài sản Chính phủ: những kinh nghiệm quốc tế) [29] của các tác giả Conway
Francisand, Charles Undelan, George Peteson, Olga Kaganova và James McKellar
đã chỉ ra (i) Những hạn chế trong cơ chế quản lý tài sản công ở khu vực hành chính
sự nghiệp ở các nước nêu trên trước khi cải cách quản lý; (ii) Đánh giá những kết

Một số tác giả như Trần Văn Giao “Góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài
sản công trong các đơn vị sự nghiệp” [13]; La Văn Thịnh “Sử dụng công cụ kế toán
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập ở Việt Nam” [21] đã khái quát và chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa
đơn vị sự nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, kinh phí hoạt
động và hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công. Với hệ thống số liệu phong phú, các
tác giả đã đánh giá tình hình quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp
ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2010, từ đó đề ra những giải pháp nhằm khai thác
có hiệu quả, tiết kiệm tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp.
Tác giả Nguyễn Văn Xa “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý tài sản công
giai đoạn 2001-2010” [28] trên cơ sở nghiên cứu cơ chế quản lý tài sản công từ
năm 1995-2000, tác giả đã đề xuất các giải pháp tổng thể để đổi mới cơ chế quản lý
tài sản công giai đoạn 2001-2010. Có thể nói ở nước ngoài đã có nhiều công trình
nghiên cứu về quản lý tài sản công đã xuất hiện từ sớm và khá bài bản, đảm bảo cơ
sở lý thuyết cho quá trình tổ chức quản lý tài sản công. Ở trong nước, với những
mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả tiếp cận vấn đề quản lý tài sản công
hoặc ở tầm vĩ mô chung cho cả đất nước, hoặc khái quát chung cho khu vực hành
chính sự nghiệp nên chưa phân tích cụ thể mối quan hệ giữa quản lý tài sản công


với các nội dung khác của các đơn vị sự nghiệp công lập. Chính vì thế quản lý tài
sản công tại các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập vẫn cần tiếp tục
được nghiên cứu để làm sáng tỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ thực trạng quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam, chỉ ra những mặt đã làm được, những mặt còn hạn chế, phân tích
nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài sản, tổng hợp kinh nghiệm quản

thứ cấp của Viện Khoa học Nông nghiệp từ năm 2014-2018, kết hợp với phân tích
tỷ lệ và so sánh đối chứng nhằm đánh giá thực trạng, rút ra những mặt đã làm được,
những mặt còn hạn chế, làm rõ các nguyên nhân chủ quan, khách quan.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở khung lý thuyết và phân tích
thực trạng, luận văn làm rõ bối cảnh tác động đến quản lý tài sản công tại Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam để đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận
Luận văn góp phần bổ sung căn cứ về lý luận quản lý tài sản công nói chung.
6.2. Về thực tiễn
Thông qua nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý tài sản công tại Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này tại đơn vị.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận
văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý sử dụng tài sản công tại đơn
vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài sản công ở Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản công ở
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG TÀI SẢN
CÔNG TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP
1.1. Tài sản công tại đơn vị sự nghiệp
1.1.1. Khái niệm về tài sản công
Tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi mặt đời sống của con

(năm 2013) định nghĩa: Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ NSNN hoặc do pháp
luật quy định thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: trụ sở làm việc, quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm
việc; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và
ngoài nước cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định [18].
Từ các nghiên cứu trên, tài sản công được hiểu là: Tài sản công là tài sản
thuộc sở hữu Nhà nước, bao gồm tài sản hình thành từ nguồn vốn NSNN hoặc có
nguồn gốc từ NSNN; Tài sản được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài
trợ, đóng góp, tặng cho Nhà nước; Các tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà
nước thông qua quốc hữu hóa hoặc quy định bằng pháp luật như: đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên
thiên nhiên khác; Tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; Tài sản kết cấu
hạ tầng thuộc các ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng thuộc sở hữu Nhà nước, được
Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử dụng.
Các tài sản công chịu sự kiểm tra giám sát của Nhà nước trong quá trình
quản lý sử dụng theo đúng các quy định hiện hành.
1.1.2. Đơn vị sự nghiệp công lập và tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập
Sự nghiệp: Là chỉ những hoạt động có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội. Vì
vậy, khi nói đến hoạt động sự nghiệp là nói đến quá trình tổ chức thực hiện những hoạt
động có lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng xã hội.
Đơn vị sự nghiệp: Là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt
động sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình
thường của xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận.


Đơn vị sự nghiệp công lập: Là đơn vị do Nhà nước thành lập, nhằm thực
hiện một số nhiệm vụ chuyên môn nhất định trong những lĩnh vực nào đó, được
Nhà nước cấp kinh phí hoạt động và được thu phí để bù đắp một phần hay toàn bộ
chi phí hoạt động.
Đơn vị sự nghiệp công lập phải hội tụ các điều kiện: là cơ quan do Nhà nước

nhà nước đầu tư tạo nên chủ yếu là các tài sản được hình thành từ NSNN và các
nguồn lực tài chính có nguồn gốc NSNN. Tài sản công được gián tiếp sở hữu trong
các đơn vị sự nghiệp là các tài sản có được không qua các kênh đầu tư của nhà nước
(chẳng hạn các tài sản được tài trợ, biếu tặng, thu phạt).
- Căn cứ vào công dụng của tài sản khi khai thác, sử dụng, có thể chia tài
sản trong đơn vị sự nghiệp thành các loại sau:
+ Nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn
liền với đất đai.
+ Phương tiện vận tải: xe ô tô phục vụ công tác (bao gồm xe ô tô phục vụ chức
danh, xe ô tô dùng chung và xe ô tô chuyên dùng) và các phương tiện vận tải khác.
+ Máy móc, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác.
- Căn cứ theo đặc điểm hao mòn của tài sản, tài sản công trong đơn vị sự
nghiệp được phân loại thành tài sản hao mòn là những tài sản sau khi sử dụng bị
mất đi tính chất, hình dạng và tính năng ban đầu theo thời gian như: máy móc, thiết
bị, phương tiện vận chuyển...) và tài sản không bị hao mòn (là những tài sản sau khi
sử dụng cơ bản vẫn giữ được hình dạng ban đầu, được sử dụng nhiều lần, khấu hao
trong thời gian dài, chẳng hạn như đất đai).
- Căn cứ đặc điểm, tính chất, giá trị, thời gian hoạt động của tài sản, người
ta chia tài sản trong đơn vị sự nghiệp thành tài sản cố định và tài sản khác (tài sản rẻ
tiền, mau hỏng) hoặc bất động sản (là các tài sản không di dời được như: đất đai,
nhà cửa, công trình xây dựng gắn với đất đai) và động sản (là những tài sản không
phải bất động sản như: phương tiện vận chuyển, trang thiết bị làm việc).
- Căn cứ tính chất kinh tế của tài sản công: có thể chia thành tài sản công sử
dụng cho kinh doanh và tài sản công không kinh doanh. Tài sản công sử dụng cho
kinh doanh là tài sản sử dụng để tạo ra nguồn thu tài chính, được đầu tư vào lĩnh
vực sản xuất và lưu thông. Tài sản công không kinh doanh là các tài sản được sử


dụng để duy trì hoạt động, thực hiện các chức năng được giao của đơn vị sự nghiệp.
- Trong thực tiễn, để quản lý tài sản trong đơn vị sự nghiệp công lập, người

hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản) và quyền định đoạt (là quyền chuyển giao quyền sở
hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó) của chủ sở hữu theo quy định của pháp
luật. Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp đều thuộc sở hữu nhà nước, là một loại
hình thức sở hữu đặc biệt (ở nước ta hiện nay sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu
toàn dân mà Nhà nước là đại diện), trong khi đó quyền sử dụng tài sản công trong
đơn vị sự nghiệp được thực hiện bởi từng đơn vị sự nghiệp được Nhà nước giao tài
sản để phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước giao.
Tính chất tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản là một đặc
điểm hết sức quan trọng, có thể dẫn tới những khó khăn trong quản lý tài sản công
khi “Người sở hữu tài sản” (Nhà nước đại diện) trao một số quyền quản lý nhất định
đối với tài sản cho “Người khác” (các đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản) nhằm phục
vụ lợi ích, mục đích của chủ sở hữu, nhưng người trực tiếp sử dụng tài sản không
hành động vì lợi ích của chủ sở hữu mà vì chính bản thân họ.
- Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập rất đa dạng, được phân bố
rộng trên phạm vi cả nước, do nhiều chủ thể quản lý, sử dụng và trình độ quản lý,
sử dụng của các chủ thể rất khác nhau: Có loại tài sản được sử dụng trong hầu hết
các đơn vị sự nghiệp (chẳng hạn: trụ sở làm việc, xe ô tô, máy tính, máy photo,...)
nhưng cũng có loại tài sản chỉ có một số đơn vị sự nghiệp sử dụng cho hoạt động,
nhiệm vụ đặc thù theo ngành, lĩnh vực sự nghiệp mà đơn vị hoạt động (chẳng hạn
như thiết bị y tế đối với đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế, thiết bị thí
nghiệm trong một số đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh khoa học công nghệ). Vì vậy, cần
phải có mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phù hợp với từng loại tài sản, từng loại
hình chủ thể quản lý, sử dụng.
- Giá trị của tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập giảm dần trong
quá trình sử dụng: Phần giá trị giảm dần đó được xem là yếu tố chi phí tiêu dùng
công để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công, không thể trực tiếp thu hồi được phần giá
trị hao mòn của các tài sản qua quá trình sử dụng, mà phần lớn thu hồi gián tiếp qua
phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước hoặc qua hiệu quả hoạt động của các hoạt
động sự nghiệp phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.




- Bảo đảm thực hiện mục tiêu nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc
gia, chú trọng những lĩnh vực khoa học công nghệ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
- Bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa
đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công
nghệ ưu tiên, trọng điểm.
1.2.2. Quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập
Nhà nước là chủ sở hữu của mọi tài sản công, nhưng chủ thể trực tiếp khai
thác, sử dụng tài sản công là các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy nhà nước để thực
hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Chính vì thế, để thực hiện vai trò chủ sở hữu
tài sản của mình, Nhà nước phải thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài
sản công nhằm sử dụng, bảo tồn, phát triển nguồn tài sản công một cách tiết kiệm,
hiệu quả để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, Nhà nước
không thể thực hiện quản lý trực tiếp đối với toàn bộ quá trình hình thành, khai
thác, sử dụng, kết thúc tài sản của tất cả các cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp sử
dụng tài sản mà quản lý thông qua ban hành các cơ chế, chính sách có liên quan đến
quản lý tài sản công và thực hiện phân cấp quản lý tài sản công cho các cơ quan,
đơn vị sử dụng.
Ở Việt Nam, chủ thể giúp Nhà nước quản lý tài sản công được xác định là hệ
thống cơ quan công sản: Cục quản lý công sản trực thuộc Bộ Tài chính, phòng
Quản lý công sản thuộc Sở Tài chính chính tại các địa phương và các bộ phận,
phòng, ban chuyên trách quản lý tài sản công được giao tại các Bộ, ngành Trung
ương. Mỗi một chủ thể quản lý đảm nhận những chức năng, nhiệm vụ khác nhau để
giúp Nhà nước thực hiện các hoạt động liên quan đến quản lý tài sản công như xây
dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về quản lý tài sản công; thực hiện
đầu tư, mua sắm tài sản công; điều tiết, bố trí sử dụng tài sản công theo các quy
định về tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước ban hành; kiểm tra, giám sát việc sử
dụng tài sản công. Đối tượng của quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp khoa

tồn, phát triển nguồn tài sản công và sử dụng tài sản công theo quy định của pháp
luật, đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế -


xã hội, bảo vệ được môi trường, môi sinh, hoàn thành nhiệm vụ do Nhà nước giao.
Hai là, đảm bảo sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức chế độ mà
nhà nước quy định.
Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra, kiểm soát các quá trình hình thành,
sử dụng, khai thác và xử lý tài sản công. Nói một cách khác, người được giao trực
tiếp quản lý, sử dụng tài sản công phải thực hiện theo ý chí của nhà nước (người đại
diện chủ sở hữu tài sản công). Mặt khác, do những đặc điểm riêng có của tài sản
công là tổ chức, cá nhân được giao trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản không phải là
người có quyền sở hữu tài sản; tài sản công được phân bổ ở khắp mọi miền đất
nước, được giao cho các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sử
dụng. Do đó, nếu Nhà nước không tổ chức quản lý tài sản công theo một cơ chế,
chính sách, chế độ thống nhất phù hợp với mô hình kinh tế mà nhà nước theo đuổi
sẽ dẫn đến tình trạng tuỳ tiện trong đầu tư xây dựng, mua sắm, sửa chữa, sử dụng,
điều chuyển, thanh xử lý tài sản; nhất là sử dụng tài sản không đúng mục đích được
giao, sử dụng tài sản công vào việc riêng, sử dụng tài sản lãng phí, kém hiệu quả,
làm thất thoát tài sản, giảm nguồn lực tài sản công.
Ba là, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp, gắn với yêu
cầu hiện đại hoá và tái trang bị tài sản công đi liền với hiện đại hoá đất nước.
Nhà nước thực hiện quản lý tài sản công cũng chính là thực hiện quyền sở
hữu tài sản; trong đó đặc biệt là quyền định đoạt đối với tài sản công bao gồm:
quyền đầu tư xây dựng, mua sắm, điều chuyển, thanh xử lý tài sản (bao gồm cả bán
tài sản)... Quản lý tài sản công phải hướng tới mục tiêu phục vụ thực hiện các nhiệm
vụ của đơn vị sự nghiệp. Nếu nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp tăng lên hoặc có thay
đổi trong yêu cầu về chất lượng dịch vụ thì tài sản công phải thay đổi để đáp ứng.
1.2.4. Các yêu cầu quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp khoa học công
nghệ công lập

cho từng đối tượng sử dụng, tránh hiện tượng trang bị tuỳ tiện theo ý muốn của chủ
thể sử dụng; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là thước đo đánh giá mức độ
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản công của từng đơn vị; mặt khác, tiêu chuẩn,
định mức sử dụng tài sản là cơ sở để thực hiện công tác quản lý, thực hiện sự kiểm


tra, kiểm soát của Nhà nước. Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối
với những tài sản có giá trị lớn được sử dụng phổ biến ở các cơ quan nhà nước, các
đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức khác. Trên cơ sở tiêu chuẩn, định
mức sử dụng tài sản đối với các tài sản sử dụng phổ biến, các Bộ, ngành, địa
phương quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản sử dụng có
tính đặc thù.
Thứ ba, quản lý tài sản công trong đơn vị sự nghiệp phải được thực hiện
thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan,
đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài sản công. Phân cấp
quản lý tài sản công để đảm bảo việc quản lý phù hợp với đặc điểm của tài sản
công; đồng thời cũng được xuất phát từ phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý
kinh tế - xã hội giữa Quốc hội, Chính phủ với các cấp chính quyền địa phương, giữa
Chính phủ với các Bộ, ngành về việc xây dựng cơ chế, chính sách, chế độ quản lý
tài sản; về xây dựng và ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản; về nguyên
tắc quản lý tài sản công.
Thứ tư, quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước. Xuất
phát từ việc tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà
nước và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm
bảo (trừ một số trường hợp cá biệt); do đó, việc quản lý tài sản công phải gắn với
quản lý ngân sách nhà nước. Hay nói một cách khác, quản lý tài sản công là quản lý
ngân sách nhà nước đã được chuyển hoá thành hiện vật - tài sản. Quản lý tài sản
công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước, có nghĩa là mọi cơ chế, chính sách,
chế độ quản lý tài sản công, định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản công phải phù hợp
với quy định về quản lý ngân sách nhà nước, việc trang bị tài sản công cho các cơ

đầu tư xây dựng tại đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập gồm hai giai
đoạn: quyết định chủ trương đầu tư và thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản. Việc
quyết định chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản của người có thẩm quyền
được căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản, chế độ quản lý tài sản, thực
trạng, nhu cầu về tài sản công và khả năng nguồn lực tài chính để đầu tư xây dựng,
mua sắm tài sản của từng đơn vị để làm cơ sở xây dựng kế hoạch, ghi vào dự toán


ngân sách nhà nước hàng năm. Việc quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp,
không hiệu quả được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đầu tư dàn
trải, thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước. Vì vậy, khi xem xét, quyết định chủ
trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản để sử dụng cho hoạt động chuyên môn,
người có thẩm quyền cũng cần cân nhắc, so sánh với các phương án khác để đảm
bảo hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và hiệu quả đầu tư, chẳng hạn như thay vì
đầu tư mới có thể cải tạo, chuyển đổi công năng, mục đích sử dụng của các tài sản
khác còn nhàn rỗi một cách phù hợp về mặt kỹ thuật và các yếu tố khác hoặc có thể
xem xét phương án đi thuê đối với những tài sản chỉ có nhu cầu sử dụng trong thời
gian ngắn, không thường xuyên hoặc chưa có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư xây
dựng, mua sắm.
Sau khi có chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản, việc thực hiện đầu
tư, mua sắm tài sản phải được tuân thủ theo các quy trình nghiệp vụ, quy định về
đầu tư và xây dựng, quy định về mua sắm tài sản công. Trong quản lý ở giai đoạn
này cần chú ý là chỉ được đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản đã được ghi vào kế
hoạch, dự toán, không thực hiện các nhu cầu xây dựng, mua sắm tài sản ngoài kế
hoạch (trừ các trường hợp được cấp có thẩm quyền bổ sung, các tài sản mua sắm do
tài trợ, biếu, tặng).
Quá trình đầu tư xây dựng để hình thành tài sản là các công trình xây dựng
(nhà cửa, vật kiến trúc...) sau khi có chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền phê
duyệt được thực hiện theo quy định về đầu tư xây dựng và được giao cho một chủ
thể có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện (Chủ đầu tư). Kết thúc

trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, trực tiếp ký hợp đồng
với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ; hoặc đơn vị mua sắm tập
trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, ký văn bản thỏa thuận
khung với một hoặc nhiều nhà thầu được lựa chọn làm cơ sở để các đơn vị có nhu
cầu mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp tài sản.
Đơn vị có chức năng mua sắm tập trung thực hiện quy trình mua sắm tài sản theo
quy định của pháp luật về đấu thầu và tài sản được hình thành sau mua sắm được
giao cho đơn vị trực tiếp sử dụng tài sản.


Quản lý quá trình hình thành tài sản công là khâu mở đầu, quan trọng nhất,
quyết định cho các khâu tiếp theo. Tài sản công nếu được hình thành có cơ sở khoa
học và thiết thực sẽ được quản lý và khai thác sau này hiệu quả. Đồng thời thông
qua quá trình hình thành tài sản sẽ đánh giá được tính cấp thiết, thực trạng quản lý
và ngân sách của mỗi cơ quan quản lý tài sản công sau này.
1.3.2. Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản công
Quá trình khai thác, sử dụng tài sản công quyết định hiệu quả của tài sản
công, chứng minh cho những luận chứng kỹ thuật được đưa ra trong giai đoạn hình
thành tài sản. Đây là quá trình diễn ra hết sức phức tạp, bởi vì thời gian khai thác, sử
dụng tuỳ thuộc đặc điểm tính chất, độ bền của mỗi loại tài sản. Quá trình này đều
được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng
tài sản. Thời gian của quá trình khai thác, sử dụng tài sản được tính từ ngày nhận tài
sản hay bàn giao tài sản đến khi tài sản không còn sử dụng được phải thanh lý.
Tài sản công của đơn vị sự nghiệp nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao và không tạo ra lợi nhuận, vì vậy việc
đánh giá hiệu quả khai thác, sử dụng tài sản chính là mức độ hoàn thành công việc
và định mức sử dụng tài sản hợp lý trong công việc. Mỗi tài sản có đặc điểm khác
nhau nên công tác đánh giá hiệu quả là rất khó, chính vì vậy đối với tài sản thuộc
khu vực đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập được thực hiện quản lý việc
sử dụng phải theo công năng, mục đích nhất định. Những tài sản cần thiết và có

hiệu lực. Yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát là phải trung thực, đầy đủ, chính
xác, khách quan và phải được tiến hành một cách thường xuyên, kịp thời để phát
hiện và xử lý các vi phạm, sai phạm trong sử dụng tài sản công.
1.3.3. Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công
Sau quá trình khai thác sử dụng tài sản, nếu xét thấy tài sản công không cần
thiết hay không thể phục vụ cho công việc của mỗi cơ quan, đơn vị, cơ quan quản lý
chuyên môn về quản lý tài sản công sẽ tiến hành thủ tục kết thúc quá trình sử dụng.
Nhìn chung việc kết thúc sử dụng tài sản của doanh nghiệp, cá nhân dễ dàng và
nhanh gọn tuỳ thuộc tính chất của tài sản, nhưng đối với tài sản của nhà nước công
việc này phải tuân thủ những quy trình và thủ tục cần thiết. Tài sản công, trừ một số



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status