ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phạm Thị Mai
TÍCH HỢP CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀO KẾ HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020 Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số : 60440301 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Phạm Thị Mai ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 3
1.1. Khái niệm tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu 3
1.2. Sự cần thiết của tích hợp biến đổi khí hậu 4
1.3. Thực trạng tích hợp các vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam 5
1.4. Lợi ích và khó khăn khi thực hiện tích hợp biến đổi khí hậu 7
iii
3.2.1. Tác động của gia tăng ngập lụt đến môi trường 47
3.2.2. Tác động của suy giảm dòng chảy kiệt 50
3.2.3. Tác động của gia tăng nhiệt độ 51
3.2.4. Tác động đến lâm nghiệp và đa dạng sinh học 51
3.2.4.1. Tác động đến lâm nghiệp 51
3.2.4.2. Tác động đến đa dạng sinh học 54
3.3. Thực trạng và đề xuất tích hợp biến đổi khí hậu vào kế hoạch bảo vệ môi
trường tỉnh Quảng Ngãi 55
3.3.1. Tổng quan về các chính sách bảo vệ môi trường tại tỉnh Quảng Ngãi 55
3.3.2. Thực trạng tích hợp biến đổi khí hậu vào các kế hoạch bảo vệ môi
trường 65
3.3.3. Đề xuất tích hợp biến đổi khí hậu vào kế hoạch bảo vệ môi trường tỉnh
Quảng Ngãi 665
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Hình 3.3. Dòng chảy mùa cạn tại một số trạm theo các kịch bản 50
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Các quy trình tích hợp BĐKH 29
Bảng 2.2. Ma trận xác định danh mục các biện pháp thích ứng cho các lĩnh vực
thuộc tài nguyên môi trường 32
Bảng 3.1. Trị số phổ biến của độ lệch tiêu chuẩn (S) và biến suất (Sr) nhiệt độ trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi 36
Bảng 3.2. Xu thế biến đổi nhiệt độ tại một số trạm điển hình ở tỉnh Quảng Ngãi 36
Bảng 3.3. Xu thế biến đổi nhiệt độ mùa tại một số trạm điển hình ở tỉnh Quảng Ngãi 37
Bảng 3.4. Trị số phổ biến của độ lệch tiêu chuẩn (S) và biến suất (Sr) lượng mưa tại
Quảng Ngãi 37
Bảng 3.5. Xu thế biến đổi đặc trưng lượng mưa mùa tại một số trạm điển hình tại
tỉnh Quảng Ngãi 37
Bảng 3.6. Danh sách các hiểm họa thiên tai thường xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi 38
Bảng 3.7. Tần suất số cơn bão và ATNĐ ảnh hưởng trực triếp đến Quảng Ngãi: 39
Bảng 3.8. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm, mùa (OC) trong các thập kỷ so với
thời kỳ 1980-1999 theo các kịch bản phát thải 45
Bảng 3.9. Mức thay đổi lượng mưa năm, mùa (%) trong các thập kỷ so với thời kỳ
1980 -1999 theo các kịch bản phát thải 46
Bảng 3.10. Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999 47
Bảng 3.11. Danh sách các khu mỏ khai thác khoáng sản bị tác động do ngập lụt 49
Bảng 3.12. Tình hình tích hợp BĐKH vào các kế hoạch, đề án bảo vệ môi trường
tỉnh Quảng Ngãi 65
Bảng 3.13. Tích hợp BĐKH vào Đề án Bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi giai
đoạn 2013 – 2015 và định hướng đến năm 2020 66
Bảng 3.14. Đề xuất tích hợp BĐKH vào Kế hoạch thực hiện một số vấn đề cấp bách
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu đã và đang làm cho thiên tai ở Việt
Nam trở nên trầm trọng hơn do sự gia tăng về tần suất xuất hiện, cường độ và mức
độ ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan. Quảng Ngãi là một trong
những tỉnh nằm trọn trong khu vực hứng chịu nhiều thiên tai nhất của Việt Nam,
nơi được nhận định là một trong những ổ bão lớn của khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương. Hàng năm Quảng Ngãi phải đón nhận nhiều cơn bão đổ bộ và đối mặt với
nhiều loại hình thiên tai và những diễn biến bất thường khác của thời tiết. Các loại
hình thiên tai ở Quảng Ngãi chủ yếu bao gồm bão, lũ, tố, lốc, dông hạn hán và ngập
úng.
Sự thay đổi của các yếu tố khí hậu và sự gia tăng của thiên tai đã gây ra
nhiều tác động đến các loại tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên nước, đất, không khí,
khoáng sản…), lâm nghiệp và đa dạng sinh học. Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu
vào các kế hoạch bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm
ứng phó với biến đổi khí hậu và đảm bảo công tác bảo vệ môi trường. Để chủ động
nâng cao khả năng thích ứng, cần lồng ghép BĐKH vào các nhiệm vụ bảo vệ môi
trường liên quan đến các loại tài nguyên, lâm nghiệp và đa dạng sinh học. Bên cạnh
đó, cũng cần lồng ghép các hoạt động giảm nhẹ vào các lĩnh vực như quản lý, xử lý
chất thải. Thực trạng rà soát nội dung các kế hoạch, đề án bảo vệ môi trường tỉnh
Quảng Ngãi cho thấy hầu như các kế hoạch, đề án đều tích hợp BĐKH còn sơ lược.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài này nhằm đề xuất các nội dung tích hợp BĐKH vào
các kế hoạch bảo vệ môi trường đã được ban hành.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề xuất được các giải pháp ứng phó (ưu tiên thích ứng) với biến đổi khí hậu
và lồng ghép vào kế hoạch bảo vệ môi trường thành phố Quảng Ngãi và tỉnh Quảng
Ngãi.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường thành phố Quảng
Chương 2: Quy trình tích hợp BĐKH vào kế hoạch bảo vệ môi trường tỉnh
Quảng Ngãi
Chương 3: Biến đổi khí hậu và tích hợp biến đổi khí hậu vào kế hoạch bảo vệ
môi trường tỉnh Quảng Ngãi
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1. Khái niệm tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu
Định nghĩa ‘tích hợp các vấn đề BĐKH’ được rút ra từ định nghĩa về “tích
hợp chính sách” (policy integration) của Underdal (1980) và định nghĩa về “tích
hợp chính sách môi trường” (environmental policy integration) của Laffty và
Hovden (2003) bằng cách thay từ ‘môi trường’ bằng từ ‘khí hậu’. Theo cách này,
định nghĩa của ‘tích hợp các vấn đề BĐKH’ có thể diễn giải như sau [6]:
Đưa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH vào tất cả các bước của quá
trình hoạch định chính sách của tất cả các ngành;
Tổng hợp các tác động đến các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH trong
khi tiến hành đánh giá và xây dựng chính sách tổng thể, do đó, sẽ làm giảm mâu
thuẫn giữa các chính sách liên quan đến BĐKH và các chính sách khác.
Như vậy, tích hợp BĐKH vào Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
KT-XH là một phương pháp tiếp cận nhằm xây dựng được các chính sách liên quan
đến BĐKH và các biện pháp ứng phó với BĐKH thông qua quá trình tích hợp các
chính sách và biện pháp này trong các kế hoạch phát triển KT-XH các cấp nhằm
đảm bảo ổn định trong các hoạt động đầu tư và giảm tính dễ bị tổn thương của các
lĩnh vực KT-XH do tác động của BĐKH. Tích hợp vấn đề BĐKH do đó có thể đảm
bảo rằng các chương trình phát triển chính sách không làm tăng rủi ro trước những
thay đổi về khí hậu ở hiện tại và tương lai. Tích hợp các chính sách BĐKH bao gồm
theo chiều ngang và theo chiều dọc thông qua một loạt các cấp quản lý. Các chiều
tích hợp được thể hiện trong Hình 1.1 [16].
Tích hợp chính sách theo chiều ngang: là đưa mục tiêu BĐKH vào các chính
sách công của chính phủ [17,18]. Các chiến lược ứng phó với BĐKH, việc
chính sách hiệu quả nhằm đạt được cả lợi ích kinh tế và ứng phó với BĐKH
[16,28].
Việt Nam đang dần trở thành một xã hội tiêu dùng cao do dân số đông và tốc
độ phát triển kinh tế nhanh (UN, 2009). Việc giảm nhẹ phát thải KNK yêu cầu sự
thay đổi đáng kể trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, vì vậy các vấn đề BĐKH nên
được tích hợp vào chính sách quản lý phát triển KT - XH đã hoặc sắp ban hành. Bên
cạnh đó, BĐKH đã thực sự ảnh hưởng đến các kế hoạch phát triển, từ việc xây dựng
các công trình thủy lợi đến chính sách phát triển đô thị và khu dân cư [2]. Trong
mọi trường hợp, các hoạt động phát triển nếu không được tích hợp các vấn đề
BĐKH thì rất khó có thể thay đổi trong tương lai để thích ứng kịp thời với BĐKH.
Ngược lại, nếu các biện pháp thích ứng được tích hợp và thực hiện sớm thì sẽ giảm
được tổn thất, đặc biệt là đối với các công trình hạ tầng có tính vĩnh cửu [2]. Vì
những lý do trên, vấn đề BĐKH cần thiết phải được tích hợp vào trong các chính
sách phát triển và đây cũng là yêu cầu được đặt ra trong Chương trình Mục tiêu
Quốc gia Ứng phó với BĐKH (2008) của Việt Nam.
1.3. Thực trạng tích hợp các vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, cho đến nay công tác tích hợp nội dung BĐKH vào các Chiến
lược, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển mới đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực
hiện. Thuật ngữ “biến đổi khí hậu” chưa được nhắc đến trong Chiến lược Phát triển
Kinh tế - xã hội 2001 – 2010, Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ Môi trường cho đến
2010 và tầm nhìn đến 2030 và Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và xóa đói
giảm nghèo (2003). Thuật ngữ này chỉ mới xuất hiện một lần trong Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 2006-2010. Tương tự, mặc dù Chương trình Nghị sự về Phát
triển bền vững của Việt Nam (Agenda 21) coi BĐKH là một trong chín ưu tiên của
phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên và môi trường, chủ đề BĐKH được trình
bày vô cùng sơ lược và chủ yếu tập trung vào khía cạnh thích ứng với BĐKH.
Trong dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Việt Nam,
thuật ngữ “biến đổi khí hậu” đã được đề cập đến trong phần “Bối cảnh quốc tế”,
6
đều là các đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH. Nhiệm vụ đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia, quản lý đê điều và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên
7
tai là những nhiệm vụ quan trọng đối với ổn định xã hội và phát triển bền
vững. Nhận thức được tầm quan trọng đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đã thành lập Ban chỉ đạo Chương trình hành động thích ứng với BĐKH, ban hành
Khung chương trình thích ứng với BĐKH của ngành (Quyết định 2730/QĐ-BNN-
KHCN ngày 5/9/2008) và Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của ngành nông
nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2050 (Quyết định
543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/03/2011). Để đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động giảm
thiểu và thích ứng với BĐKH, ngày 28/3/2011 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn ban hành Chỉ thị số 809/CT-BNN-KHCN về việc Tích hợp BĐKH
vào xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề
án phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, giai đoạn 2011-2015.
1.4. Lợi ích và khó khăn khi thực hiện tích hợp biến đổi khí hậu
1.4.1. Lợi ích
Tích hợp các vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
cấp quốc gia, ngành và tỉnh/thành phố đóng một vai trò quan trọng tại Việt Nam [7].
Việc tích hợp các vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển sẽ giúp việc thích ứng với các BĐKH được hiệu quả hơn và giảm được các chi
phí, thiệt hại trong tương lai do BĐKH gây ra. Ví dụ điển hình là việc cân nhắc khu
vực dễ bị ngập lụt do nước biển dâng trong quy hoạch sử dụng đất sẽ giảm được các
thiệt hại về cơ sở hạ tầng và con người trong tương lai khi nước biển dâng lên;
Bên cạnh đó, việc tích hợp nội dung giảm nhẹ BĐKH vào các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển khiến BĐKH trở thành cơ hội cho sự phát triển các lĩnh
vực mới (ví dụ năng lượng tái tạo) và thay đổi công nghệ sản xuất theo hướng xanh,
thân thiện với khí hậu, góp phần giảm nhẹ BĐKH đồng thời đảm bảo mục tiêu phát
triển kinh tế;
Việc tích hợp các vấn đề BĐKH vào quá trình xây dựng và thực hiện các chiến
Nguồn lực (nhân sự, thời gian và tài chính) để thực hiện nhiệm vụ tích hợp các
vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cấp quốc gia,
ngành và địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu;
Các thông tin về BĐKH thường không liên quan trực tiếp đến các quyết định
đầu tư phát triển:
Các kế hoạch phát triển cần nhiều thông tin về khí hậu tuy nhiên các mô hình
chỉ có thể dự đoán một số yếu tố với độ tin cậy cao;
Đôi khi mức độ chi tiết về không gian và thời gian của các kịch bản BĐKH
chưa phù hợp với các kế hoạch phát triển.
Đánh đổi giữa phát triển và BĐKH:
9
Hạn chế về nguồn vốn nhưng có nhiều vấn đề cấp bách cần phải đầu tư (xóa
đói giảm nghèo, cơ sở hạ tầng) trong khi đó các tác động của BĐKH thì chưa
được khẳng định một cách chắc chắn;
Việc tích hợp được coi là tạo thêm thủ tục phức tạp và làm tăng đầu tư cho
các dự án;
Lợi ích đầu tư trước mắt thường lấn át kế hoạch dài hạn thích ứng với
BĐKH, ví dụ như nuôi tôm, phá rừng ngập mặn, phát triển cơ sở hạ tầng sẽ
tạo công ăn việc làm và thu nhập, nhưng sẽ làm gia tăng tính dễ bị tổn
thương của vùng ven biển trước BĐKH.
Những rào cản khác:
Các chuyên gia về BĐKH thường tập trung ở một số cơ quan;
Các nhà quản lý ngành thường đã “quá tải trong công tác tích hợp”, ví dụ
như tích hợp vấn đề HIV&AIDS, đói nghèo, giới…
Nhiều dự án được đầu tư trong 3-5 năm, chưa đủ dài để xét đến các tác động
tiềm tàng, dài hạn của BĐKH;
Kêu gọi đầu tư cho thích ứng với BĐKH khó khăn hơn so với các hoạt động
dễ nhìn thấy khác như đối phó với tình trạng khẩn cấp, phục hồi và xây dựng
sau thiên tai.
phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế.
Quảng Ngãi có bờ biển dài hơn 130 km có nhiều cửa biển lớn như Sa Kỳ,
Cửa Đại, Mỹ Á, Sa Huỳnh .v.v.
Nhìn chung vị trí địa lý của tỉnh Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi cho việc khai
thác những thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, tiềm năng về biển, phục vụ sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút vốn
đầu tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và Quốc tế, hoà nhập chung
vào xu thế phát triển kinh tế của đất nước.
11 Hình 1.2. Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ngãi
1.5.1.2. Địa hình, địa mạo
Với đặc điểm chung là núi lấn sát biển, địa hình có tính chuyển tiếp từ địa
hình đồng bằng ven biển ở phía Đông đến địa hình miền núi cao ở phía Tây. Miền
núi chiến khoảng 3/4 diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đồng bằng nhỏ hẹp chiếm 1/4
diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Cấu tạo địa hình gồm các thành tạo đá biến chất, đá
macma xâm nhập, phun trào và các thành tạo trầm tích.
Từ vùng núi đến đồng bằng, địa hình của tỉnh có sự chuyển tiếp không liên
tục, vùng núi ở phía Tây có độ cao từ 1.500 - 1.800 m, vùng đồng bằng có độ cao từ
5 - 30m, hình thành các bậc địa hình cao thấp nằm kề cận nhau.
12
1.5.1.3. Vùng bờ biển và ven biển:
Chiếm khoảng 1,6 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh bao gồm là cồn cát, mũi
đất, cửa sông, đầm nước mặn, đụn cát tạo thành một dải hẹp chạy dọc ven biển
với chiều rộng trung bình khoảng từ 2 - 3 km.
1.5.1.4. Vùng đồng bằng
Chiếm khoảng 24,4 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Nằm tiếp giáp với vùng
ven biển có độ cao từ 10 - 30 m.
13
1.5.1.10. Gió, bão
- Gió: Hướng gió thịnh hành trong năm là các hướng Đông - Bắc và Đông -
Nam, vận tốc gió trung bình cả năm là 2,8 m/s.
- Bão: Thường tập trung từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, hướng đi của các
cơn bão thường là Đông - Tây và Đông Nam - Tây Bắc, gió cấp 9, cấp 10 cá biệt có
những cơn bão gió trên cấp 12. Trung bình hàng năm có 1,04 cơn bảo đổ bộ hoặc
ảnh hưởng trực tiếp và có 3,24 cơn bảo ảnh hưởng gián tiếp đến Quảng Ngãi.
1.5.1.11. Mưa:
Lượng mưa trung bình hàng năm 2.290 mm.
Vùng mưa lớn nhất trong tỉnh thuộc các huyện miền núi: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà
Bồng, Sơn Tây và Tây Trà với tổng lượng mưa trên 3.200 mm/năm.
Vùng có lượng mưa ít nhất trong tỉnh là khu vực đồng bằng thuộc các huyện
Đức Phổ và Mộ Đức với tổng lượng mưa khoảng 1.400 mm.
Vùng có lượng mưa trung bình thuộc các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa,
thành phố Quảng Ngãi, Sơn Tịnh và Bình Sơn với tổng lượng mưa từ 1.800 - 2.300
mm.
1.5.1.12. Thủy văn
* Sông ngòi: Mạng lưới sông ngòi ở Quảng Ngãi phân bố tương đối đều
trong toàn tỉnh và có những đặc điểm chung như sau:
- Các sông đều bắt nguồn từ vùng núi phía Tây của Tỉnh, sông ngắn có độ
dốc tương đối lớn ( > 2 %).
- Phần hạ lưu các sông đều chịu ảnh hưởng của thủy triều và bị nước mặn
xâm nhập.
- Hiện tượng bồi lắng khá mạnh vùng cửa sông và xói lở dọc theo sông.
- Hiện tượng phân dòng khá mãnh liệt đối với tất cả các sông ở phía hạ lưu.
- Về mùa khô lượng nước trên các sông hầu hết cạn kiệt.
- Quảng Ngãi có 4 con sông tác động lớn đến sự phát triển kinh tế và phục vụ
đời sống nhân dân trong tỉnh là sông Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu.
khả năng sử dụng trồng lúa, nuôi trồng thủy sản.
(iii) Nhóm đất phù sa
15
Diện tích 96.157,50 ha, chiếm 18,66% tổng diện tích tự nhiên. Nhóm đất này
phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, thành phố
Quảng Ngãi, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành và ở ven các sông suối của
các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng, Tây Trà.
Đất phù sa được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù sa của các
sông Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu. Do địa hình phức tạp, các dãy núi xen
kẽ đồng bằng, các vật liệu phù sa còn được bổ sung bởi các sản phẩm dốc tụ hay lũ
tích từ các dãy núi xung quanh đồng bằng. Tuy nhiên do nước lũ thường rút rất
nhanh nên đất phù sa thường có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình.
Căn cứ vào mức độ biến đổi như sự xuất hiện tầng B, mức độ Glây nông hay
sâu, độ no bazơ, độ nhiễm mặn, thành phần cơ giới của lớp mặt, nhóm đất phù sa
được chia làm 3 đơn vị đất và 8 đơn vị đất phụ:
a) Đất phù sa trung tính ít chua: Diện tích 3.106,50 ha, chiếm 0,60% diện
tích tự nhiên.
b) Đất phù sa chua: Diện tích 13.085,30 ha, chiếm 2,54% tổng diện tích đất
tự nhiên.
c) Đất phù sa đốm rỉ: Diện tích 80.965,00 ha, chiếm 15,71% tổng diện tích
tự nhiên.
Nhóm đất phù sa có thành phần cơ giới đất cát pha, thịt pha cát, thịt pha sét
và cát; chất hữu cơ trung bình; lân, kali tổng số rất nghèo; có khả năng trồng lúa
thâm canh, hoa màu lương thực, cây công nghiệp hàng năm.
(iv) Nhóm đất Glây
Diện tích 2.052,40 ha, chiếm 0,40% diện tích tự nhiên, phân bố ở địa hình trũng
vùng đồng bằng thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ.
Đất glây có đặc tính Gleyic thể hiện mạnh trong phạm vi 0 - 100 cm của
phẫu diện đất. Nguồn gốc ban đầu của nhóm đất glây chủ yếu là nhóm đất phù sa,
c) Đất xám có tầng loang lổ: Diện tích 4.599,60 ha, chiếm 0,89% diện tích tự nhiên.
d) Đất xám đá lẫn: Diện tích 15.541,30 ha, chiếm 3,02% diện tích tự nhiên.
e) Đất xám Ferralit: Diện tích 220.441,90 ha, chiếm 42,78% diện tích tự nhiên.
g) Đất xám mùn: Diện tích 125.932,3 ha, chiếm 24,44% diện tích tự nhiên.
17
Nhóm đất xám có thành phần cơ giới đất cát, cát pha; chất hữu cơ trung bình;
lân tổng số rất nghèo; kali tổng số nghèo; có khả năng sử dụng trồng cây công
nghiệp hàng năm, cây công ngiệp lâu năm và trong điều kiện chủ động nước tưới
trồng lúa, rau, màu và cây ăn quả.
(vi) Nhóm đất đỏ
Đất đỏ Ferralit có diện tích 8.142,40 ha, chiếm 1,58% diện tích tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở 2 huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh.
Đất đỏ được hình thành từ đá kiềm hoặc trung tính (đá Bazan, đá bọt bazan)
có quá trình phong hóa mạnh, tích lũy sắt, nhôm tương đối, kiềm và kiềm thổ bị rửa
trôi khá triệt để.
Căn cứ vào màu sắc đất phản ánh mức độ phát triển của quá trình tích lũy sắt
nhôm tương đối và rửa trôi các chất kiềm. Nhóm này được phân thành 2 đơn vị đất:
a) Đất nâu đỏ: Diện tích 6.586,30 ha, chiếm 1,28% diện tích tự nhiên.
b) Đất nâu vàng: Diện tích 888,20 ha, chiếm 0,17% diện tích tự nhiên.
Nhóm đất đỏ có thành phần cơ giới đất thịt pha cát, thịt pha sét và cát, sét
pha thịt; chất hữu cơ trung bình khá; lân tổng số giàu; kali tổng số trung bình; có
khả năng sử dụng trồng cây công nghiệp hàng năm, cây công ngiệp lâu năm và
trong điều kiện chủ động nước tưới trồng rau, đậu, cây ăn quả.
(vii) Nhóm đất đen
Đất đen có diện tích 2.328,40 ha, chiếm 0,45% tổng diện tích tự nhiên, phân
bố chủ yếu ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Lý Sơn và một số nơi khác.
Nhóm đất đen bao gồm đất đen và đất nâu thẫm phát triển trên đá bazan, đất
bazan lỗ hổng và bọt bazan.
Căn cứ vào mức độ biến đổi, kết von, đá lẫn, nhóm đất này phân ra làm 4
đất phụ:
a) Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá chua: Diện tích 9.593,40 ha, chiếm 1,86%
diện tích tự nhiên.
b) Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá trung tính: Diện tích 102,6 ha, chiếm 0,02%
diện tích tự nhiên.