BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRẦN VĂN BA
QUẢN LÝ NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH PHÚ TÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Đà Nẵng - Năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
TRẦN VĂN BA MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHÚ
TÀI 41
2.2.1. Thực trạng quản lý nợ xấu tại Chi nhánh Phú Tài 42
2.2.2. Thực trạng kết quả quản lý nợ xấu 43
2.2.3. Đánh giá chung công tác quản lý nợ xấu tại BIDV Phú Tài 54
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH
PHÚ TÀI 64
3.1. ĐỊNH HƯỚNG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH
PHÚ TÀI 64
3.1.1. Định hướng phát triển chung 64
3.1.2. Định hướng phát triển với hoạt động quản lý nợ xấu 65
3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ XẤU 65
3.2.1. Phòng ngừa nợ xấu phát sinh 65
3.2.2. Xử lý nợ xấu đã phát sinh 67
3.3. KIẾN NGHỊ 72
3.3.1. Hoàn thiện quy trình tín dụng tại BIDV Việt Nam 72
3.3.2. Hoàn thiện qui trình quản lý và xử lý nợ có vấn đề tại BIDV 74
3.3.3. Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng tại BIDV Phú Tài 75
3.3.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại BIDV Phú
Tài 75
3.3.5. Một số giải pháp về nhân sự cho ngân hàng (nhân viên tín dụng
và các phòng ban khác) tại BIDV Phú Tài 76
3.3.6. Kiến nghị với Chính phủ 78
3.3.7. Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 78
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
2.6. Tỷ trọng nợ xấu 2009 – 2011 54
2.7. Kết quả xử lý nợ xấu của Chi nhánh Phú Tài 55
2.8. Số dư quỹ DPRR 2010-2011 56
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại,
phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong
tổng tài sản, mang lại thu nhập lớn nhất song cũng là hoạt động mang lại rủi
ro cao nhất cho ngân hàng. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt,
một số Ngân hàng thương mại cổ phần đã coi chính sách mở rộng tín dụng là
một giải pháp để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần. Nhưng không thể
đồng nghĩa với việc hạ thấp các tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, tìm cách
lách rào kiểm soát, thông tin sai lệch… mà vẫn phải thực hiện đúng quy trình
tín dụng để giảm tỷ lệ nợ xấu, tránh tổn thất cho ngân hàng. Nhất là trong bối
cảnh khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu, mà khởi nguồn là cuộc khủng hoảng
tài chính từ Mỹ, thì những tác động của nó lên nền kinh tế Việt Nam đang hội
nhập càng sâu và rộng với nền kinh tế thế giới nói chung và ngành ngân hàng
Việt Nam nói riêng là không hề nhỏ. Những khoản cho vay không thu hồi
được cả gốc và lãi đúng thời hạn càng lớn, tỷ lệ nợ xấu ngày càng gia tăng,
đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng bất động sản, đã có lúc đe doạ tới tính
thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Do vậy, quản lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu
phát sinh và xử lý nợ xấu đã phát sinh là một yêu cầu cấp thiết, có vai trò
quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý của ngân hàng. Hiện tại đã có rất
nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này trong phạm vi Ngân hàng cũng như
2009 đến 2011 trong luận văn có ý nghĩa cho đến năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiên nghiên cứu trên đề tài sử dụng các phương pháp
3
nghiên cứu sau
- Các phương pháp so sánh, phân tích, điều tra, chuyên khảo và các
phương pháp khác…
5. Bố cục của đề tài
Nghiên cứu về đề tài quản lý nợ xấu nội dung chuyên đề gồm 03
chương chính:
Chương 1. Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ xấu của Ngân hàng
thương mại
Chương 2. Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Tài
Chương 3. Giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hảng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Tài trong thời gian tới.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu thực tiễn liên quan đến đề
tài quản lý nợ xấu, hiện nay đã có rất nhiều đề tài đi sâu vào lĩnh vực này như:
Tăng cường quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, hoàn
thiện công tác quản lý nợ xấu ở Công ty Tân Tiến Dũng hay Quản lý nợ xấu tại
ngân hàng TMCP Ngoại thương Phú Tài. Cụ thể các công trình đã nghiên cứu
về phát triển mở rộng hoạt động quản lý nợ xấu tại địa bàn Bình Định gồm:
+ Luận văn thạc sĩ của Phạm Tường Huy: “ Tăng cường quản lý nợ xấu
tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín”, năm 2010 giúp tác giả hiểu rõ
hơn về các phương thức mở rộng và định hướng hoạt động tín dụng của hệ
thống ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Tuy nhiên với những định
hướng chưa phù hợp với thực tế do đó phát sinh tình trạng nợ xấu trong bối
cảnh hiện nay. Đề tài đã nêu được các nguyên nhân cơ bản dẫn đến nợ xấu và
các giải pháp cụ thể có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòng ngừa nợ xấu
nghiệp trong tỉnh mà các công trình của các tác giả trước đây chưa từng viết
làm đề tài nghiên cứu.
Với đề tài “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt
Nam- Chi nhánh Phú Tài”, đây là một đề tài tương đối mới tại chi nhánh,
hiện chưa được nghiên cứu, nhưng được sự tư vấn và giúp đỡ tận tình của
cán bộ hướng dẫn khoa học TS.Nguyễn Hoà Nhân tác giả đã chọn đề tài này
để thực hiện nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ kinh tế- Chuyên ngành Tài
chính ngân hàng.
Để thực hiện nghiên cứu tác giả sẽ dựa trên cơ sở tham khảo từ một số
luận văn đã nghiên cứu tại trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
đã bảo vệ từ năm 2007-2009, dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của những đề tài
đó và trên cơ sở tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu, sách tham khảo biên soạn
mới nhất về công tác quản lý nợ xấu trong doanh nghiệp, đó là các giáo trình
giảng dạy tại các trường đại học (Trường đại học kinh tế Đà Nẵng, trường đại
học kinh tế Tp.Hồ Chí Minh), cùng một sách của một số học giả đã được biên
soạn và được biên dịch từ tài liệu nước ngoài, tác giả đã chọn lọc để tiến hành
nghiên cứu đề tài này.
Để thực hiện nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại Ngân
hàng đầu tư & phát triển Việt Nam –Chi nhánh Phú Tài tác giả đã đi sâu
nghiên cứu phân tích số liệu hoạt động SXKD của toàn chi nhánh nói chung
và trong hoạt động tín dụng nói riêng, dựa trên số liệu từ các năm 2009-
2011, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để phân tích, so sánh và đánh
giá các số liệu từ đó đưa ra đánh giá nhận xét. Đối với công tác quản lý nợ
xấu hiện hữu tại chi nhánh dựa trên mô hình cấu trúc quản lý nợ xấu; cơ cấu
tổ chức bộ phận quản lý nợ xấu; quy trình thực hiện quản lý nợ xấu; tác giả
sẽ đi sâu phân tích đánh giá những ưu nhược điểm, những điểm mạnh điểm
yếu trong việc quản lý nợ xấu hiện hữu từ đó để làm cơ sở cho việc hoàn
6
thiện quản lý nợ xấu.
Dựa trên cơ sở lý luận về việc quản lý nợ xấu trong chương một và
thương mại
* Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong
nền kinh tế. Tuỳ thuộc vào tính chất và mục tiêu hoạt động cũng như sự phát
triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, ngân hàng bao
gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân
hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác, trong đó
ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị
phần và số lượng các ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính
quan trọng nhất trong nền kinh tế. NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung
cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ở Việt nam, theo khoản
2 điều 20 Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá 10 thông qua vào ngày
12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng
ngày 15/6/2004, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Theo khoản 1 điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định: Tổ chức tín dụng
là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định
khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng, và khoản 7 điều 20 luật này định
8
nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
NHTM thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ,
vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm
ổn định nền kinh tế. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực
sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu
(dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn
cùng là an toàn và sinh lời.
- Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để đảm bảo chi phí lưu thông và tăng độ an toàn thuận tiện cho các
doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh, ngân hàng thực hiện dịch vụ thu chi
hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác do NHNN quy định. Ngoài ra
ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ ngân quỹ là dịch vụ thu tiền mặt cho
khách hàng, đồng thời tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán nội bộ và
hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước và quốc tế. Hoạt động này
ngoài việc đem lại thu nhập cho ngân hàng còn có tác dụng thu hút khách
hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, từ đó thu hút khách hàng cho các hoạt
động tài chính.
- Các hoạt động khác
Để tạo lợi thế kinh doanh cũng như tận dụng mọi khả năng vốn có của
mình, NHTM ngoài các hoạt động cơ bản trên còn thực hiện các hoạt động
khác như góp vốn cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối
và vàng, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, tư vấn cùng các dịch vụ khác có liên
quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật.
10
1.1.2. Khái niệm nợ xấu
a. Theo ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu
Nợ xấu trong các NHTM bao gồm:
* Những khoản nợ không thể thu hồi được:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn
cứ đòi bồi thường từ nợ
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
- Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người
mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh
lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
* Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng.
của quyết định 493 thì Nợ xấu được định nghĩa như sau:
Nợ xấu: là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6
hoặc Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân
hàng nhà nước. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng
tín dụng của TCTD, nó phản ảnh một đơn vị tiền cho vay thì có khả năng khó
thu hồi là bao nhiêu.
Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát
nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc
không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng.
1.1.3. Phân loại nợ xấu
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết
định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi bổ sung một số
điều về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt
12
động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam, nợ xấu bao gồm
các nhóm nợ cụ thể như sau:
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả
năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3
và Khoản 4 Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN.
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi
cao nhất. Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là
20% dư nợ của nhóm.
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
a. Nguyên nhân khách quan
Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ
xấu tại ngân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía ngân hàng.
- Do các cú sốc về kinh tế không thể lường trước
Mỗi nền kinh tế luôn có những đặc điểm riêng của mình và chịu sự tác động
của rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên ngoài như chính trị, xã hội và
các yếu tố nội tại. Khi các yếu tố này gặp các cú sốc bất lợi như thiên tai,
khủng hoảng chính trị hay sự sụp đổ của một vài yếu tố kinh tế thì nền kinh
tế sẽ bị tác động trực tiếp dẫn đến khủng hoảng. Khi nền kinh tế lâm vào suy
14
thoái, mặc nhiên tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp hay thu nhập của
các hộ tiêu dùng cũng sẽ khủng hoảng. Vì vậy, khả năng hoàn trả các món nợ
đã vay ngân hàng cũng sẽ giảm sút; dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng
- Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật
Một sự thay đổi trong pháp luật sẽ gây ra tác động không nhỏ tới hoạt động
của doanh nghiệp. Ví dụ như một sự thay đổi về sách thuế có thể tác động làm
cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc làm thua lỗ một dự án. Bên cạnh
đó, phải kể đến đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp lý. Sự chồng chéo
này không những gây ra sự khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh
mà còn gây ra sự khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ xấu.
- Các nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức khách hàng
Với việc cung cấp các báo cáo tài chính và các văn bản pháp lý của
doanh nghiệp có sự sai khác so với thực tế, vì vậy làm cho các nhận định của
cán bộ tín dụng đối với tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
không chính xác. Quá trình này bắt đầu từ giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn
cho tới quá trình quản lý khoản vay, cán bộ tín dụng sẽ không phát hiện
những bất thường hay là những dấu hiệu chứng tỏ khả năng không hoàn trả
được món vay của doanh nghiệp.
Không chỉ vậy, có một số khách hàng tuy có tiền nhưng không có thiện
chí hợp tác tỏ ra chây ỳ, nhằm chiếm dụng hoặc chiếm đoạt vốn.
khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinh doanh của NHTM.
Khi nợ xấu tăng cao, thu nhập của ngân hàng giảm, thậm chí không còn lợi
nhuận do không thu hồi được nợ, lại phát sinh thêm chi phí trích lập dự
phòng, chi phí quản lý, xử lý nợ xấu và các chi phí khác liên quan.
Thứ hai, nợ xấu sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng. Nếu tỷ lệ nợ xấu
16
quá cao, vượt quá giới hạn an toàn theo thông lệ quốc tế thì uy tín của NHTM
trong nước và quốc tế giảm sút nghiêm trọng.
Thứ ba, nợ xấu làm ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh toán và kế hoạch
kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và
cho vay. Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều
khó khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho
vay. Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn đối với các
khoản tiền gửi. Sự mất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tính thanh khoản của
ngân hàng và ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
Thứ tư, nợ xấu làm cản trở quá trình hội nhập của các NHTM. Nợ xấu
tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của NHTM khi phân tích đánh giá
tình hình tài chính hoạt động ngân hàng, là yếu tố bất lợi trong cạnh tranh,
trong quá trình hội nhập và phát triển.
b. Đối với nền kinh tế
NHTM là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế. Vì thế nợ xấu của
NHTM ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế. Tác động của nợ xấu đối với nền
kinh tế tác động gián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ: Ngân hàng – khách
hàng – nền kinh tế. Theo đó, nợ xấu làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
của ngân hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Khả năng
khai thác và đáp ứng vốn, khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền
kinh tế sẽ bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh. Mặt khác, nợ xấu phát sinh do
khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến
toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do
vốn ứ đọng, sản xuất kinh doanh bị đình trệ.