Nghiên cứu cải thiện giao thức SCTP trong mạng MANET - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN NGỌC HÀ

NGHIÊN CỨU CẢI THIỆN GIAO THỨC SCTP TRONG
MẠNG MANET LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Hà Nội – 2014
LỜI CÁM ƠN
Trƣớc hết tôi xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo trong Trƣờng Đại học Công
nghệ - Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt khóa học, cám ơn tập
thể lớp K17 và đặc biệt là tới thầy giáo TS.Dƣơng Lê Minh, ngƣời đã nhiệt tình hƣớng
dẫn, chỉ bảo tôi trong công việc nghiên cứu và học tập.
Sau cùng tôi muốn gửi lời cám ơn tới gia đình và ngƣời thân của tôi, những ngƣời
đã luôn khuyến khích và động viên tôi trong suốt khóa học.
Do thời gian và điều kiện có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót,
tôi rất mong sự góp ý của bạn bè, thầy cô và những ngƣời quan tâm đến đề tài này.

1

DANH MỤC HÌNH ẢNH 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG MANET 7
2.1 Mạng Manet và lịch sử phát triển 7
2.2 Đặc điểm mạng MANET[9] 8
2.3 Ứng dụng phổ biến của mạng MANET[9] 9
2.4 Các khó khăn và thách thức đối với mạng MANET 10
CHƢƠNG 2: GIAO THỨC SCTP (STREAM CONTROL TRANSMISSION
PROTOCOL) 11
3.1 Lịch sử và mục đích phát triển giao thức SCTP 11
3.2 Các đặc trƣng của giao thức SCTP 12
3.2.1 Tầng hoạt động của giao thức 12
3.2.2 Multi-Homing 12
3.2.3 Đa luồng (Multi-Streaming) 13
3.2.4 Phân tách các bản tin[11] 14
3.3 Đặc tả giao thức SCTP 14
3.3.1 Kiến trúc giao thức SCTP 14
3.3.2 Các chức năng chính của SCTP 15
3.3.3 Gói tin SCTP 18
3.3.4 Lƣu đồ trạng thái mô tả việc kết nối SCTP 29
3.3.5 Điều khiển tắc nghẽn và kiểm soát lỗi 34
3.3.6 Vấn đề an toàn dữ liệu 37
3.3.7 SCTP, TCP và UDP – những điểm giống và khác nhau 39
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT PHƢƠNG PHÁP GIAO TIẾP LIÊN TẦNG TRONG GIAO
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1. Phân tách các bản tin cạnh nhau. 14
Hình 2: Mô hình tầng giao thức SCTP. 15
Hình 3: Mô hình thiết lập kết nối của SCTP và TCP 15
Hình 4: Cấu trúc gói tin SCTP 19
Hình 5: Phần header của gói tin SCTP 19
Hình 6: Cấu trúc trƣờng trunk 21
Hình 7: Cấu trúc Payload data 24
Hình 8: Cấu trúc INIT Chunk 25
Hình 9: Cấu trúc gói SACK chunk 27
Hình 10: Cấu trúc gói tin Heartbeat 28
Hình 11: Lƣu đồ trạng thái mô tả kết nối SCTP 30
Hình 12:Quá trình thiết lập kết nối 31
Hình 13: Quá trình xảy ra xung đột trong mạng không dây của giao thức TCP 43
Hình 14: Kiến trúc RTS/CTS của DCF 47
Hình 15: Mô hình dạng chuỗi (chain) 53
Hình 16: Mô hình dạng lƣới 6x6 56
Hình 17: Mô hình dạng lƣới 8x8 56 4


OTCL
Object Oriented Tool Command Language
PYC
Physical
TCL
Tcl Tool Command Language
TCP/IP
Transmission Control Protocol/Internet Protocol
Tx
Transmission
UDP
User Datagram Protocol 5
MỞ ĐẦU

Ngày nay khi mà tầm quan trọng của các máy tính trong cuộc sống của con ngƣời
tăng lên, điều đó cũng đòi hỏi các yêu cầu mới cho việc kết nối mạng máy tính. Ngoài các
giải pháp cho mạng có dây đã đƣợc dùng từ lâu, chúng ta thấy sự gia tăng yêu cầu đối với
các giải pháp cho mạng không dây để có thể kết nối tới Internet, đọc và gửi các thông
điệp thƣ điện tử, trao đổi thông tin trong các cuộc họp… Mạng không dây đặc biệt
MANET (Mobile Adhoc Networking) bao gồm các thiết bị tự tổ chức thành mạng đạt
đƣợc sự giải phóng hoàn toàn khỏi cơ sở hạ tầng mạng cố định, có chi phí truyền thông
thấp và triển khai dễ dàng. Về mặt thực tiễn, mạng MANET rất hữu ích cho các nhu cầu
thiết lập mạng khẩn cấp tại những nơi xảy ra thảm họa nhƣ hỏa hoạn, lụt lội, động đất…
Với tất cả những lý do trên, mạng MANET là một trong những lĩnh vực nghiên

năng Multi-Homing để làm cơ sở nghiên cứu và đề xuất phƣơng án cải tiến. Chƣơng 3
nghiên cứu phƣơng pháp tính giá trị độ trễ trung bình MAD tại tầng MAC, sử dụng
phƣơng pháp giao tiếp liên tầng để truyền tham số này lên tầng giao vận trong giao thức
SCTP phục vụ cho việc xác định tuyến đƣờng tốt nhất tại tầng giao vận. Chƣơng 4 thiết
lập môi trƣờng mô phỏng và đánh giá kết quả của quá trình nghiên cứu. Phần cuối cùng
của luận văn là kết luận những công việc mà luận văn đã đạt đƣợc và những hƣớng
nghiên cứu tiếp theo trong tƣơng lai.

7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG MANET
2.1 Mạng Manet và lịch sử phát triển
2.1.1 Giới thiệu mạng MANET
Các thiết bị di động nhƣ smart phone, máy tính xách tay ngày nay thƣờng có dung
lƣợng lƣu trữ lớn, cấu hình cao để đáp ứng những nhu cầu không giới hạn của con ngƣời
cho việc chia sẻ thông tin. Các kết nối mạng để sử dụng các thiết bị di động gia tăng mạnh

trong năm 1987, DARPA Global Mobile (GloMo) trong năm 1994. Trong năm 1997,
quân đội Mỹ đã triển khai Tactical Internet (TI) trên quy mô lớn mạng không dây di động
đa bƣớc. Với sự phát triển rất nhanh chóng và thƣơng mại hóa của công nghệ sóng điện
từ, mạng không dây đa bƣớc truyền với tiềm năng và lợi thế của nó đã và đang đƣợc
nghiên cứu và trở thành một lĩnh vực rất sôi động trong những năm vừa qua và hứa hẹn sẽ
còn thu đƣợc nhiều thành công hơn nữa trong việc áp dụng vào đời sống thực tế của con
ngƣời.
2.2 Đặc điểm mạng MANET[9]
Mạng MANET là mạng không dây tùy biến đƣợc tạo nên từ các nút khác nhau, không
phụ thuộc vào hạ tầng mạng cố định, do đó ta có thể nhận thấy rõ một số đặc điểm chính
của mạng MANET nhƣ sau:

Thiết bị tự trị đầu cuối (Autonomous terminal): Trong mạng MANET mỗi thiết bị đầu
cuối là một node tự trị, tức là nó có thể mang chức năng của một node thông thƣờng tham
gia kết nối và trong tƣờng hợp cần thiết nó sẽ trở thành một router có chức năng định
tuyến. Do vậy, không có ranh giới giữa thiết bị đầu cuối và thiết bị chuyển mạch trong
mạng MANET.
Hoạt động phân tán (Distributed operator): Mạng MANET là mạng không có hệ thống
quản lý tập trung, việc kiểm soát và quản lý hoạt động của mạng đƣợc chia cho các thiết
bị đầu cuối.
Định tuyến nhiều chặng (Multi hop routing): Khi nút nguồn gửi thông tin tới nút đích
mà nút đích không nằm trong phạm vi phá sóng thì các gói tin gửi đi này sẽ đƣợc định
tuyến và chuyển đi thông qua nhiều nút trung gian để tới đƣợc nút đích.
Cấu hình động (dynamic network topology): Các nút đầu cuối là các thiết bị di động di
chuyển liên tục không theo bất kì hƣớng nào, các giao thức định tuyến trong mạng phải có
khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh và không biết trƣớc của các nút.
Dao động về dung lƣợng liên kết (Fluctuating link capacity): Tỉ lệ lỗi bit khi truyền dữ
liệu trong mạng không dây là cao và tín hiệu không dây phụ thuộc nhiều vào các yếu tố
môi trƣờng. Việc truyền dữ liệu từ điểm đầu tới điểm cuối có thể sẽ qua nhiều chặng qua
mỗi chặng là một liên kết không dây và các liên kết này có thể không đồng nhất.

mạng adhoc vừa tạo.
Gia đình: Tại nhà bạn có thể tạo nhanh mạng MANET để kết nối các thiết bị di
động của bạn với nhau, nhờ đó ta có thể di chuyển tự do mà vẫn đảm bảo kết nối truyền
tải dữ liệu.

10
2.4 Các khó khăn và thách thức đối với mạng MANET
Mạng MANET là mạng không có cấu trúc và không có quản trị tập trung. Bất kì
một node nào trong mạng có thể đóng vai trò độc lập nhƣ là một router để chuyển tiếp các
gói tin tới các node khác. Các node cũng có thể di chuyển một cách ngẫu nhiên và tùy ý
nên mô hình mạng thay đổi liên tục. Rất nhiều thuật toán đã đƣợc xây dựng với mục đích
điều khiển kiến sự thay đổi kiến trúc (topology) của mạng nhƣ dựa trên vị trí, dựa trên
năng lƣợng, dựa trên hƣớng và rất quan trọng đó là dựa trên các node hàng xóm đã đƣợc
phát triển cho mạng MANET [14][15].
Trong mạng Manet, mỗi node có thể có một hoặc nhiều interface phát sóng radio
mà chúng có khả năng truyền tải và có dải tần số khác nhau. Hoạt động của các node
trong mạng thông thƣờng dựa trên năng lƣợng có giới hạn của pin. Do vậy việc thiết kế
thuật toán định tuyến trong mạng MANET cũng là một thách thức nhƣ nó bị ràng buộc
bởi việc thƣờng xuyên di chuyển và mất kết nối của các node, làm sao để tổng năng lƣợng
tiêu thụ là thấp nhất, trong khi băng thông và tài nguyên tính toán có giới hạn.
Hiệu năng thấp của các giao thức giao vận trong mạng MANET cũng là một vấn
đề nghiêm trọng [16][17][18][19][20][21]. Đây là lý do chính bởi vì môi trƣờng chia sẻ
không dây và một phần lớn các gói tin bị mất trong mạng MHWN.
Trong bài báo số [17], tác giả đã phát hiện ra rằng việc phá vỡ kết nối do di chuyển
có ảnh hƣởng tới hiệu năng của giao thức TCP. Bằng thí nghiệm tác giả thấy rằng thông
lƣợng TCP bị giảm đáng kể khi các node di chuyển bởi vì TCP không có khả năng phân
biệt đƣợc giữa kết nối lỗi và tắc nghẽn.

trong việc truyền dữ liệu thoại của tổng đài thì có thể làm tê liệt hệ thống khi đƣờng kết
nối bị hỏng.
Tấn công DOS: Sử dụng giao thức TCP không hạn chế đƣợc việc bị tấn công
DOS (Deny Of Service), đây là hình thức tấn công từ chối dịch vụ phổ biến nhất, làm cho
ngƣời dùng không thể sử dụng tài nguyên của máy tính bị tấn công đó.
Tháng 10/2000, IETF (International Engineering Task Force)- Một tổ chức quốc
tế lớn các nhà thiết kế mạng, các nhà điều hành, các nhà cung cấp và các nhà nghiên cứu
cùng quan tâm đến sự phát triển của kiến trúc và việc điều hành của mạng Internet - chính
12
thức chuẩn hoá SCTP thông qua tài liệu RFC 2960. SCTP là giao thức truyền tải số liệu
điểm - điểm trên nền giao thức IP. Ban đầu, SCTP đƣợc phát triển nhằm cung cấp chuẩn
truyền tải số liệu hƣớng thông điệp cho các mạng thông tin mà số liệu cần truyền tải trong
thời gian thực nhƣ truyền tải các thông điệp tín hiệu điện thoại trên nền IP cho các hệ
thống thƣơng mại điện tử và viễn thông. TCP và UDP đều có những hạn chế khi dùng
truyền tải tín hiệu điện thoại trên nền giao thức IP. Do vậy mà SCTP đƣợc thiết kế để đáp
ứng yêu cầu này và các ứng dụng tƣơng tự khác. Nhờ đƣợc phát triển sau và rút kinh
nghiệm từ các giao thức đƣợc phát triển trƣớc đó nhƣ TCP hay UDP, SCTP đƣợc thiết kế
đa mục đích và đa chức năng, nhờ vậy có miền các lĩnh vực áp dụng rộng rãi hơn, ngay cả
trong các lĩnh vực mà giao thức TCP đang đƣợc sử dụng với những thuận lợi hơn hẳn.
3.2 Các đặc trƣng của giao thức SCTP
3.2.1 Tầng hoạt động của giao thức
Giao thức SCTP hoạt động tại tầng giao vận cùng với các giao thức UDP và TCP, có thể
đƣợc mô tả qua hình vẽ sau:
Upper layer application
TCP, UDP, SCTP
IP
Data Link Layer

số lần bản tin heartbeat đƣợc gửi đi tới địa chỉ đích và không đƣợc biên nhận trong một
khoảng thời gian (RTO, Retransmission TimeOut). Nếu biến đếm đạt tới giá trị max thì sẽ
đánh dấu điểm cuối này là không hoạt động (inactive). Ngƣợc lại, khi nhận đƣợc một bản
tin biên nhận từ địa chỉ đích thì bên gửi sẽ xóa biến đếm tới địa chỉ đích đó và đánh dấu
địa chỉ đích đó là đang hoạt động. Quá trình này sẽ thực hiện lặp đi lặp lại trong suốt quá
trình truyền tin giữa các thực thể SCTP.
3.2.3 Đa luồng (Multi-Streaming)
Đây là một tính năng cho phép chia dữ liệu của ứng dụng thành nhiều luồng mà có
các đặc tính độc lập đƣợc sắp thứ tự khi nhận, do đó thông điệp bị mất ở luồng nào sẽ chỉ
ảnh hƣởng tới biên nhận của luồng đó và không ảnh hƣởng tới luồng khác. Điều này làm
đƣợc bằng cách đánh dấu độc lập dữ liệu truyền và dữ liệu nhận. SCTP sử dụng một
chuỗi số TSN (Transmission Sequence Number) cho truyền dữ liệu và phát hiện bản tin
lỗi, và cũng sử dụng một cặp Stream ID/Stream Sequence Number để xác định thứ tự của
việc nhận dữ liệu. Do đó, trong khi biên nhận, điểm cuối có thể tiếp tục nhận các bản tin
14
để không ảnh hƣởng tới luồng trong khi chờ (buffering) bản tin trong luồng ảnh hƣởng
cho tới khi có việc truyền lại.
3.2.4 Phân tách các bản tin[11]
Nếu một client gửi 2 bản tin liên tiếp nhau là 100 byte và 50 byte, thông tin cần
đƣợc gửi tới phía server cần phải là 2 bản tin phân biệt. Tuy nhiên, với TCP các bản tin
này có thể đƣợc gửi hoặc nhận nhƣ là một bản tin 150 byte và do vậy khi nhận đƣợc ứng
dụng phải phân tách lại thành 2 bản tin nhƣ ban đầu. Với SCTP và UDP thì dữ liệu đƣợc
gửi đi nhƣ 2 bản tin 100 byte và 50 byte và ứng dụng không cần phải cắt các bản tin đó để
đƣa về định dạng ban đầu.

Hình 1. Phân tách các bản tin cạnh nhau.
3.3 Đặc tả giao thức SCTP

3.3.2 Các chức năng chính của SCTP
2.3.2.1 Thiết lập và giải phóng kết nối
Kết nối sẽ đƣợc khởi tạo khi có yêu cầu kết nối gửi từ ứng dụng sử dụng giao thức
SCTP. Khác với TCP sử dụng cơ chế bắt tay 3 bƣớc để thiết lập kết nối, với SCTP sử
dụng cơ chế bắt tay 4 bƣớc để tạo kết nối. Trong quá trình khởi tạo sẽ sử dụng một cơ chế
cookie đƣợc gọi để bảo vệ đƣợc các hình thức tấn công DoS.
SCTP TCP

Hình 3: Mô hình thiết lập kết nối của SCTP và TCP
16
Trong SCTP, một client khởi tạo kết nối bằng gói INIT. Server đáp lại bằng gói
INIT-ACK, trong đó chứa cookie trạng thái – gồm tất cả các trạng thái mà server xác
nhận kết nối là hợp lệ và đƣợc gán số để xác thực. Client gửi lại cookie trạng thái của
server với bản tin COOKIE-ECHO, có kèm theo thông tin về client. Cuối cùng server xác
nhận cookie hợp lệ và liên kết đƣợc thiết lập bằng cách gửi lại bản tin COOKIE-ACK.
SCTP cũng là giao thức hƣớng kết nối nhƣ TCP, cả hai đều cần thiết lập và đóng
kết nối giữa hai bên. Tuy vậy, SCTP không chấp nhận trạng thái haft-closed nhƣ trong
TCP, khi một bên đóng kết nối nhƣng bên còn lại vẫn tiếp tục gửi dữ liệu. Khi một phía
thực hiện đóng kết nối, cả hai bên sẽ cùng dừng gửi và nhận dữ liệu. Để thực hiện điều
này, SCTP sử dụng trƣờng tag trong mỗi phân khúc (chunk). Một chunk từ kết nối đã
đóng sẽ có tag không hợp lệ.
2.3.2.2 Truyền dữ liệu tuần tự theo luồng
Khác với TCP truyền dữ liệu theo các luồng byte cố định và duy nhất thì SCTP có
thể truyền các thông điệp đi bằng nhiều luồng khác nhau. Các ứng dụng sử dụng SCTP có
thể xác định số luồng sử dụng trong truyền dữ liệu khi liên kết đƣợc khởi tạo, số luồng
này phải đƣợc ―thỏa thuận và đƣợc chấp nhận‖ bởi bên nhận. Với mỗi luồng sẽ đƣợc gán
với một ID độc lập và đƣợc mã hóa trong các gói SCTP trong kết nối, các gói tin theo

tấn công giả mù (blind masquerade) và chống lại gói tin SCTP cũ từ các Association
trƣớc đó. Thuật toán Adler32 sẽ thiết lập trên mỗi gói tin ngƣời gửi để cung cấp thêm cơ
chế chống hỏng dữ liệu trên mạng[12]. Ngƣời nhận một gói tin SCTP với kiểm tra Adler-
32 không hợp lệ sẽ âm thầm loại bỏ gói tin đó.
2.3.2.6 Quản lý tuyến đƣờng[15]
SCTP chọn địa chỉ vận chuyển đích cho mỗi gói tin gửi đidựa trên yêu cầu của ngƣời
dùng SCTP. Phía nút gửi có thể chỉnh sửa tập các địa chỉ đích của gói tin tại tầng giao
vận. Chức năng quả lý tuyến đƣờng của SCTP sẽ chọn địa chỉ đích của tầng giao vận cho
mỗi gói tin gửi đi. Chức năng quản lý tuyến đƣờng sẽ giám sát các tuyến đƣờng bằng
cách định kì gửi các bản tin Heartbeat tới các địa chỉ đích để kiểm tra trạng thái của tuyến
đƣờng, khi có bất kì sự thay đổi nào về tuyến đƣờng sẽ đƣợc cập nhật sau một khoảng
thời gian xác định.
 Tại phiên khởii tạo kết nối (Associationd Startup), một đƣờng truyền chính đƣợc
xác định cho mỗi điểm cuối (End – point) và sử dụng cho việc gửi các gói tin
SCTP.
18
 Tại nơi nhận, chức năng quản lý đƣờng truyền sẽ có trách nhiệm xác minh sự tồn
tại hợp lệ của một SCTP Asssociaion bên trong gói SCTP đƣợc thông qua trƣớc
khi xử lý các tiến trình khác.Chú ý: quản lý đƣờng truyền và xác nhận gói tin đƣợc
thực hiện cùng một lúc. Do đó, mặc dù mô tả một cách riêng biệt nhƣ ở trên nhƣng
thực tế nó không thể thực hiện thành các mục riêng biệt.
3.3.3 Gói tin SCTP
Gói tin TCP đƣợc sử dụng vô cùng rộng rãi trong truyền thông mạng tuy nhiên nó
cũng có một số hạn chế đã đƣợc bộc lộ đó là khả năng mở rộng của gói tin TCP: độ lớn
của gói tin TCP bị giới hạn bởi MSS (Maximum Segment Size) trong trƣờng option của
phần tiêu đề. Vậy, khó có thể mở rộng gói tin TCP. Đây cũng là một lí do cần phải phát
triển giao thức mới. Phần tiêu đề của TCP có các cờ điều khiển không còn cần thiết:

+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+
| Checksum |
+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+-+
Hình 5: Phần header của gói tin SCTP
Trƣờng địa chỉ cổng nguồn (source port number) và trƣờng địa chỉ cổng đích (destination
port number): có độ dài 16 bits (unsigned integer), là số hiệu cổng của nơi gửi, nơi nhận.
Số hiệu cổng này và địa chỉ IP của bên gửi và bên nhận đƣợc sử dụng trong thiết lập kết
20
nối giữa hai đầu cuối - đầu cuối, thông qua đó bên gửi biết gửi gói tin đi đâu cung nhƣ
bên nhận biết gói tin từ đâu đến.
Thẻ xác thực (Verification tag): Có độ dài 32 bít, dùng để xác thực tính hợp lệ của gói tin.
Ngƣời nhận đƣợc gói tin này sẽ sử dụng ―thẻ xác thực‖ để kiểm tra ngƣời gửi gói tin
SCTP. Trên việc chuyển/nhận, giá trị ―thẻ xác minh‖ này phải đƣợc thiết lập để giá trị của
Tag Bắt đầu nhận đƣợc từ thiết bị đầu cuối ngang hàng trong quá trình khởi tạo liên kết,
với các trƣờng hợp ngoại lệ sau đây:

 Một gói tin lƣu trữ một Chunk init phải có ―thẻ xác thực‖ là 0.
 Một gói có chứa một đoạn SHUTDOWN - COMPLETE với các thiết lập T-bit
phải có ―thẻ xác thực‖ sao chép từ các gói tin với các đoạn SHUTDOWN - ACK.
Một gói có chứa một đoạn hủy bỏ có thể có thẻ xác minh đƣợc sao chép từ các gói
tin đƣợc hủy bỏ bởi ngƣời gửi.
 Một đoạn init phải là đoạn duy nhất trong các gói tin SCTP mang nó.
Trƣờng phát hiện lỗi (checksum): có độ dài 32 bít, dùng để phát hiện các bit lỗi trong gói
tin khi gói tin đƣợc vận chuyển trên mạng.
2.3.3.1. Trƣờng Trunk
Chunk là nơi chứa thông tin của gói tin, là cấu trúc độc lập và nhỏ nhất trong thiết
kế SCTP. Tuy nhiên, dù đƣợc thiết kế với đầy đủ các thông tin nhận dạng cần thiết, chunk

3 - Chunk báo nhận (Selective Acknowledgement - SACK)
4 - Chunk kiểm tra tình trạng đường truyền (Heartbeat
Request - HEARTBEAT)
5 - Chunk báo nhận đã nhận được chunk HEARTBEAT
(Heartbeat Acknowledgement - HEARTBEAT ACK)
6 - Chunk kết thúc kết nối (Abort - ABORT)
7 - Chunk kết thúc kết nối (Shutdown -SHUTDOWN): sự
khác biệt trong cách sử dụng sẽ được trình bầy ở phần sau.
8 - Chunk báo nhận đã nhận được chunk SHUTDOWN
(Shutdown Acknowledgement - SHUTDOWN ACK)
9 - Chunk báo lỗi (Operation Error - ERROR)
10 - Chunk trạng thái Cookie (State Cookie -COOKIE
ECHO)

Trích đoạn Cách tiếp cận liên tầng (cross-layer) trong mạng không dây Phƣơng pháp tính độ trễ trung bình truy cập kênh truyền tại tầng MAC Phƣơng pháp cải tiến trong giao thức SCTP xuất hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status