Báo cáo khoa học Tìm hiểu giá trị chữ Nôm được bảo tồn trong tư liệu mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang - Pdf 28

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CHỮ NÔM ĐƯỢC BẢO TỒN TRONG TƯ LIỆU MỘC
BẢN CHÙA VĨNH NGHIÊM TỈNH BẮC GIANG

Tỳ Kheo Ni: Hạnh Tâm
1Kho tàng mộc bản Hán Nôm Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang đang bảo tồn một di sản văn
hóa dân tộc với những văn bản đặc sắc. Tổng tập “ Yên Tử Nhật Trình” được khắc trên hai mươi
mốt bản gỗ có thể là một tác phẩm kinh điển của nền văn học chữ Nôm Việt Nam. Chữ Nôm
được sử dụng trong “ Yên Tử Nhật Trình” mang những giá trị ngôn ngữ dân tộc đặc biệt. Công
trình sáng tạo ngôn ngữ của tác phẩm góp phần tiếp nối ngôn từ tiếng Việt cổ thành chữ Nôm và
chuyển tiếp sang tiếng Việt dưới dạng ngữ nghĩa. Tiến trình của sự chuyển tiếp và dung hòa
ngôn ngữ góp phần tạo nên cơ sở ngữ nghĩa của văn học chữ Nôm và tiếng Việt ngày nay.
Văn tự trong“ Yên Tử Nhật Trình” là một trong những chất liệu sáng tạo nghệ thuật ngôn
từ. Nghệ thuật ngôn từ này đã biểu đạt thành công giá trị nhân văn về chữ “ lòng” với biểu
tượng “ sen lòng” của người Việt Nam. Nếp sống với chữ “ rèn lòng làm Bụt” đã thấm sâu vào
đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam và các cộng đồng
người Việt trên thế giới. “Yên Tử Nhật Trình” là tổng tập các tác phẩm thơ phú Nôm lớn, mang
nhiều cứ liệu sinh động, cung cấp cho người sau tư liệu cơ sở về các lãnh vực xã hội của Việt
Nam thời phong kiến, để nghiên cứu tiến trình phát triển tiếng Việt và cơ sở triết học nhân văn
của con người Việt Nam.
Người Việt Nam hôm nay đã lựa chọn hoa sen là quốc hoa của đất nước và con người Việt
Nam. Sự kiện này góp phần chứng minh giá trị chữ Nôm và ý nghĩa nhân văn “sen lòng” đã và
đang được người Việt trân trọng gìn giữ và phát huy. Tác phẩm“ Yên Tử Nhật Trình” mang
những giá trị vô giá. Bài viết chỉ nêu được một số giá trị nhỏ. Người viết mong sao ý tưởng suy
nghĩ về giá trị chữ Nôm trong tư liệu mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang được nhiều nhà
ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu.

1. BẢN KHẮC IN “YÊN TỬ NHẬT TRÌNH”
Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang đang bảo tồn một di sản văn hóa đặc biệt gồm ba nghìn không

người Việt Nam thời Đại Việt.
Bản tâm của mộc bản khắc tựa đề “Yên Tử Nhật Trình ” ý chỉ con đường giác ngộ hay
hành trình giác ngộ của ba vị vua đầu triều Trần, đặc biệt là vua Phật Trần Nhân Tông. Núi Yên
Tử là ngọn núi thiêng của người dân Việt. Nơi đây các vị vua triều đại nhà Trần Việt Nam đã
sáng lập và truyền thừa dòng thiền Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử mang đậm sắc thái Việt Nam và
Á Đông.“Yên Tử Nhật Trình ” là ngọn đèn tâm sáng ngời soi rọi dòng sông “lòng trong sáng ”
của nhân văn Việt Nam. Ánh sáng này đã duy trì và tỏa sáng nền văn hóa dân tộc Việt.
Các mộc bản “ Yên Tử Nhật Trình” đều được khắc trên vật liệu là gỗ thị. Loại gỗ quý với
đặc tính mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt. Chữ được khắc nổi và khắc ngược (âm
bản) để khi in ra giấy Dó sẽ có được mặt chữ xuôi. Chữ Nôm được khắc trên hai mặt gỗ, kiểu
chữ chân phương, sắc nét. Mỗi mặt là hai trang sách. Mỗi bản khắc in “ Yên Tử Nhật Trình” là
một tác phẩm điêu khắc gỗ hoàn chỉnh.
Các mộc bản “ Yên Tử Nhật Trình” tinh xảo đến mức những người thợ khắc ngày nay đều
không dám tin là mình có thể phục chế được một bản khắc như mộc bản Vĩnh Nghiêm Bắc
Giang. Nghề khắc gỗ phát triển cùng với nghề làm giấy Dó. Nghệ thuật truyền thống khắc in và
làm giấy Dó không đơn thuần là khắc in và tạo ra sản phẩm vật thể. Nhà Chùa khắc in bản gỗ để
mong truyền bá được di sản văn hóa dân tộc. Nhà Sư một đời làm người thợ khắc in để “ rèn
lòng làm Bụt”. Người dân bình thường cung tiến tiền của để in “ Yên Tử Nhật Trình” vì muốn
làm điều báo ân báo hiếu với ông bà cha mẹ.
Riêng về truyền thống khắc in này cũng là đề tài để những nhà nghiên cứu có thể chuyên
sâu tìm hiểu về đạo lí “ tri ân báo ân, uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam”. Hơn thế nữa,
khi đối chiếu với bản khắc với bản in dập vào đầu thế kỉ hai mươi đang được lưu trữ tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, có thể khẳng định bộ mộc bản là nguyên gốc từ khi khắc, chưa
hề sửa chữa và thay đổi. Bao nhiêu năm qua, dân tộc Việt đã trải qua hai cuộc chiến tranh chống
Pháp và chống Mỹ để dành lại quyền độc lập – tự do – dân chủ của mình. Trong bom đạn, trong
chiến tranh, các nhà Sư và người dân Bắc Giang đã đối mặt với giặc ngoại xâm, giặc dốt và giặc
đói để giữ gìn mộc bản. Mộc bản không bị thực dân Pháp tiêu hủy. Mộc bản không bị người dân
chẻ làm củi nhóm bếp. Mộc bản giữ trong lòng linh hồn ngôn ngữ và văn hóa Việt vượt qua mọi
nguy nan để tồn tại cùng dân tộc. Không ít những người tham gia giữ gìn mộc bản đã qua đời
nhưng con cháu họ, người Việt Nam hôm nay cũng sẽ học theo ông cha mình để gìn giữ di sản

Trình ” tại chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang năm 1932 y cứ vào bản in sưu tầm được. Bản sưu tầm
được là văn bản in từ bản khắc do các vị sư chùa Hoa Yên núi Yên Tử chủ trì in khắc năm 1805.
Bản khắc in của các vị Sư chùa Hoa Yên khắc đã bị mất, vì vậy tỳ kheo Thanh Hanh đã tổ chức
khắc mộc bản “ Yên Tử Nhật Trình ” tại chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang năm 1932 để lưu truyền
rộng rãi cho nhân dân.
Người trực tiếp chấp bút lời dẫn bản khắc tại chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang năm 1932 là vị
tỳ kheo tự Thanh Hanh đã ghi thời gian bắt đầu của công trình khắc in là tháng 3 năm 1932. Có
hai giả thiết trong việc khắc tiêu đề: một là bản khắc trước đó đã chọn “Yên Tử Nhật Trình” làm
tiêu đề; hai là sư Thanh Hanh quyết định không theo tiêu đề “Thiền Tông Bản Hạnh” mà chọn “
Yên Tử Nhật Trình” làm tiêu đề cho văn bản. Nếu giả thiết một là đúng thì chẳng có gì thảo luận
thêm; nếu giả thiết hai là đúng thì chúng ta cần đặt vấn đề tại sao không chọn tiêu đề “Thiền
Tông Bản Hạnh” mà chọn tiêu đề “ Yên Tử Nhật Trình” ?
Y cứ vào nội dung bản khắc, chúng ta có thể nhận định việc sư Thanh Hanh chọn “ Yên Tử
Nhật Trình”hay chọn “Thiền Tông Bản Hạnh” làm nhan đề đều có sự suy xét và cân nhắc. Tiêu
đề của lời dẫn tổng tập văn bản “ Yên Tử Nhật Trình” là “ Yên Tử Sơn Trần Triều Thiền Tông
Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hạnh”. Tiêu đề này cho chúng ta lời giải thích tại sao tổng tập
văn bản được chọn tên là “ Yên Tử Nhật Trình”. Nội dung của “ Thiền Tông Bản Hạnh” trong “
Yên Tử Nhật Trình” là kim chỉ nam của thiền Trúc Lâm Yên Tử được viết bằng chữ Nôm, chữ
quốc ngữ của người Việt. Văn bản thơ Nôm “ Thiền Tông Bản Hạnh” trong “ Yên Tử Nhật
Trình” là văn bản do thiền sư người Việt sáng tác. Ngôn ngữ và nội dung văn bản Nôm này hoàn
toàn khác với “ Yếu chỉ thiền tông ” của các ngôn ngữ khác. Hơn thế nữa ngoài văn bản chính “
Thiền Tông Bản Hạnh” còn có thêm các văn bản phụ khác vì vậy chọn tiêu đề “ Yên Tử Nhật
Trình” là hợp lí hơn.
Xét về giá trị nội dung, bối cảnh sáng tác và lịch sử của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử thì
tựa đề “ Yên Tử Nhật Trình” là tựa đề có thể biểu đạt hết ý nghĩa nội hàm của văn bản. Nội
dung của “ Yên Tử Nhật Trình” không chỉ là yếu chỉ của thiền Phật giáo. Yên Tử Nhật Trình
chính là “Con đường giải thoát giác ngộ”, nếp sống nhân văn mà các vị vua Phật Việt Nam thời
Trần đã nhận thấy và truyền bá cho người dân Việt.
Bản khắc theo văn bản của các vị Sư chùa Hoa Yên cho chúng ta suy luận sự chỉnh sửa và
phụ thêm của bản khắc sẽ không nhiều bởi lẽ người xưa vốn có truyền thống “ tôn trọng di sản

2. GIÁ TRỊ VĂN BẢN
Chữ Nôm là công cụ ngôn ngữ giao lưu văn minh và văn hóa của người Việt. Công cụ ngôn
ngữ này đã góp phần hình thành hình thái văn hóa văn minh lúa nước của con người Việt Nam
qua các thời đại. “ Yên Tử Nhật Trình” không chỉ ảnh hưởng tích cực đến tiến trình phát triển tư
duy của người Việt, mà còn tác động đến sự phát triển tư duy của nhân dân các nước trên thế
giới theo chiều hướng tích cực. “ Yên Tử Nhật Trình” đang được lưu giữ nguyên vẹn cùng với
nguồn sống phát triển toàn diện của Việt Nam hôm nay.
Bản khắc “Yên Tử Nhật Trình ”giúp các nhà nghiên cứu có thêm nguồn sử liệu quý giá về sự
phát triển của ngôn ngữ Việt. Cụ thể là sự phát triển của chữ Nôm trong lịch sử quá trình phát triển
của hệ thống văn tự Việt Nam. Âm Tiếng Việt từ thời Việt cổ với chữ Việt cổ đã được ghi chép lại
phần nào bằng chữ Nôm. Chữ Nôm hình thành có hệ thống và phát triển mạnh trong dòng văn học
Việt Nam. Chữ Nôm đi vào lòng dân với các thể loại thơ Nôm lục bát và lục bát biến thể dễ nghe dễ
nhớ. Điển hình trong “Yên Tử nhật trình”, chữ Nôm đã thể hiện tốt vai trò chức năng của một ngôn
ngữ độc lập và hoàn chỉnh. Chức năng ngôn ngữ độc lập của chữ Nôm chính là cơ sở tạo nên ngữ
nghĩa của tiếng Việt hiện nay.
Sự tìm hiểu giá trị văn bản của “ Yên Tử Nhật Trình” trong bài viết này chưa thể đi sâu
nghiên cứu chi tiết các lãnh vực ngôn ngữ. Việc nghiên cứu sâu về các giá trị ngôn ngữ còn chờ
đợi sự nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học. Bài viết chỉ có thể nêu một số suy nghĩ về những
khả năng có thể khai thác nghiên cứu từ tư liệu bản khắc chữ Nôm. Những suy nghĩ của người
viết sẽ không đủ tính thuyết phục về mặt nghiên cứu, chỉ như viên đá nhỏ rơi vào mặt nước
mong gây sự chú ý của các nhà nghiên cứu về khoa học xã hội nhân văn.
2.1. Cầu nối giữa tiếng Việt cổ và tiếng Việt hiện nay
Các bản khắc Yên Tử Nhật Trình bằng chữ Nôm là tư liệu gốc để nghiên cứu chức năng cầu
nối của chữ Nôm giữa tiếng Việt Cổ và Tiếng Việt hiện đại. Trong bốn mươi hai trang chữ, chỉ
có trang chữ đầu tiên và một nửa trang chữ cuối cùng là lời tựa và lời kết là văn của người chịu
trách nhiệm thực hiện bản khắc được khắc chữ Hán. Hai trang chữ này cần phải dịch âm đọc
Hán Việt và nghĩa tiếng Việt, ngoài ra bốn mươi trang chữ còn lại là chữ Nôm không cần chuyển
dịch âm đọc tiếng Việt mà không cần dịch nghĩa tiếng Việt, nếu đọc đúng theo mạch văn chữ
nôm thì tiếp cận được ngữ nghĩa văn bản. Khi phổ cập cho nhiều người đọc thì chỉ cần giải thích
phương ngữ của một số từ nhưng không cần phiên dịch vì chữ Nôm tự thân chính là chữ quốc

Trình ” chữ Nôm dưới hình thức văn bản chữ Việt Cổ. Đồng thời “ Yên Tử Nhật Trình ” đã
được một số nhà nghiên khác khảo cứu chuyển viết âm đọc “Yên Tử Nhật Trình” bằng tiêu đề “
Thiền Tông Bản Hạnh ”ra tiếng Việt hiện đại. Những công trình nghiên cứu trên cho chúng ta cơ
sở khẳng định chữ Nôm là cầu nối giữa chữ Việt Cổ và chữ Việt hiện đại. Chữ Nôm đã và đang
duy trì ngữ nghĩa và ngữ dụng của chữ Việt Cổ suốt từ quá khứ cho đến hiện tại .
Chữ Việt hiện đại sử dụng kí tự phiên âm la tinh nhưng ý nghĩa của ngôn từ chủ yếu vẫn là
ngữ nghĩa của chữ Nôm. Chữ Nôm ở những thế kỉ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa thế kỷ XIX luôn
đóng vai trò chuyển tải và biểu đạt nếp tư duy của người Việt. Tiếng Việt theo kí hiệu phiên âm
la tinh thay thế chữ Nôm. Chữ Việt thực hiện được chức năng thay thế kí hiệu mặt chữ Nôm
nhưng phải dựa vào ngữ nghĩa có sẵn của chữ Nôm mới có thể tiếp tục duy trì chức năng ngôn
ngữ của tiếng Việt. Nói cách khác tiếng Việt hiện đại mà người Việt đang sử dụng là một ngôn
ngữ có xác chữ Việt mang hồn chữ Nôm. Tiếng Việt viết theo kí tự phiên âm la tinh nhưng ghi
lại âm đọc của chữ Nôm, vì vậy có thể nói chữ Nôm tuy không được dùng trong văn bản hành
chính nhưng ngữ nghĩa chữ Nôm vẫn được tiếp tục sử dụng và phát huy chức năng ngôn ngữ
trong lớp áo chữ Việt hiện đại. Ngày nay, chúng ta có thể tiếp cận tất cả các chữ Nôm trong văn
bản Nôm “ Yên Tử Nhật Trình” và viết ra tiếng Việt một cách dễ dàng vì ngữ nghĩa và ngữ dụng
của chữ Nôm cũng chính là ngữ nghĩa và ngữ dụng của tiếng Việt.
Chúng ta không có được tư liệu âm thanh của người Việt cổ nhưng từ tác phẩm chữ Nôm
“Yên Tử Nhật Trình” có thể cho chúng ta nhiều dữ liệu để nghiên cứu quy luật phát triển chữ
Nôm, hệ thống ngữ âm, kết cấu ngữ pháp, từ vựng và quá trình hình thành chữ Nôm. Căn cứ vào
văn bản quy luật âm vận và vần của “ Yên Tử Nhật Trình” để nghiên cứu bản sắc chữ Nôm trong
dòng phát triển tiếng Việt.
Từ chữ Nôm có thể tái hiện chữ Việt cổ, từ chữ Nôm có thể dùng kí tự của chữ Việt ghi âm
đọc chữ Nôm mà không cần phải chuyển dịch nghĩa. Những mối tương quan văn tự trên đủ để
xác định chữ Nôm không phải là ngôn tự nước ngoài, chữ Nôm chính là ngôn ngữ của người
Việt sáng tạo. Chữ Nôm là cầu nối chuyển nhịp giữ chữ Việt cổ và tiếng Việt đang tồn tại. Ngữ
nghĩa chữ Nôm chính là cơ sở ngữ nghĩa của tiếng Việt, văn bản chữ Nôm trong “ Yên Tử Nhật
Trình ” là cứ liệu để chứng minh về vai trò ngữ nghĩa của chữ Nôm trong tiếng Việt. Chữ Nôm
là căn cứ để chúng ta tìm về nguồn gốc tiếng Việt và là cơ sở nghiên cứu ngữ âm và ngữ nghĩa
của tiếng Việt hiện đại.

thiết cho việc khảo cứu tiến trình phát triển của tiếng Việt. Văn học chữ Nôm phản ánh sinh
động đời sống vật chất và tinh thần của người Việt đương thời. Sự hình thành chữ Nôm là thành
quả nghiên cứu nghệ thuật ngôn ngữ và là nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội Đại Việt.
2.2. Công cụ biểu đạt ý thức hệ tư duy của người Việt
Thật là ấn tượng khi đọc những vần thơ Nôm lục bát trong “ Yên Tử Nhật Trình”. Những
dòng thơ cho người đọc, người nghe cảm nhận một mối thân thiết gần gũi như chính hơi thở của
mình, như câu ca dao của mẹ đất mẹ nước. Âm điệu trong câu thơ như được truyền từ trên cánh
đồng, trên sông nước, dưới ánh trăng, dưới gốc đa giếng nước, bên ao làng, trong thôn xóm.Chất
nhân văn trong ngôn từ giúp người đọc khám phá những vẻ đẹp rất thực trong cuộc sống bình
thường, làm phong phú nhận thức của con người, nâng cao đời sống tinh thần và bồi đắp tâm hồn
con người ngày càng tốt đẹp hơn. Những lời văn đủ các cung bậc diễn tả chữ lòng, hội tụ giá trị
tinh thần truyền thống của dân tộc, tạo nên sức cuốn hút, hấp dẫn mọi thế hệ, là sự gắn kết mạch
nguồn dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.
“ Yên Tử Nhật Trình” là công cụ ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ ngôn ngữ truyền bá
tư tưởng “ Bụt chính là lòng” để truyền dạy cho người dân nếp sống “ rèn lòng làm Bụt ” trong
tác phẩm khẳng định chữ Nôm là chữ quốc ngữ. Khẳng định tính độc lập tự chủ về ngôn ngữ của
dân tộc.Câu cú từ ngữ và lối hành văn trong “ Yên Tử Nhật Trình” cơ bản là lối văn của văn học
dân gian Việt Nam. Các tác giả dùng các từ,tiếng, âm thanh, âm điệu , cảnh vật rất phong phú.
Đặc biệt là cách chuyển biến và ứng dụng các khái niệm, thuật ngữ nhà Phật có nguồn gốc từ
âm Phạn, Hán như “ Buddha, Amitabha, 如來, 太虛 v.v ” thành lời của các câu văn Nôm rất
nhuần nhị , tinh tế và dễ hiểu như “ Bụt, A Di Đà, Như Lai, thái hư v.v ”. Nghệ thuật ngôn từ
trong tác phẩm thơ Nôm “ Yên Tử Nhật Trình” chứng minh cụ thể về sự phong phú ngữ nghĩa
và âm sắc của ngôn từ. “ Yên Tử Nhật Trình” có nhiều ngôn từ mang tính ẩn dụ, có giá trị tạo
hình, biểu đạt một trạng thái cảm xúc khi người ta mải mê đi tìm những thứ hão huyền mà quên
mất hiện thực trước mắt. Lời thơ đầy hình ảnh ẩn dụ “ Pháp ấn như thị làu làu chân không”
nhưng lại hàm chứa một triết lý nhân sinh rất Việt Nam.
Văn tự trong“ Yên Tử Nhật Trình” là một trong những chất liệu sáng tạo nghệ thuật ngôn
từ. Nghệ thuật ngôn từ này đã biểu đạt thành công giá trị nhân văn về chữ “ Tâm” với biểu
tượng “ sen lòng” của người Việt Nam. Nếp sống với chữ “ Tâm chữ lòng” đã thấm sâu vào đời
sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam và các cộng đồng người

Hoặc:
Vạn dân kính ngưỡng Khang Cù
Nhà nhà thờ Bụt nam mô Di Đà
Thiên hạ phủ, huyện, lộ, châu
Hưng sùng đạo Bụt thành đô trong ngoài
Thiên hạ học đạo mọi nơi
Trai Tăng kiến Phật nối đời Thiền Tông
Lục bát Nôm “ Yên Tử Nhật Trình” là hồn thơ dân tộc, mang đậm nét nhân văn của nền văn
minh nông nghiệp, đã phát triển hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức, trải qua bao thăng trầm
lịch sử, được giữ gìn cho đến ngày nay .Những tứ thơ trong “Yên Tử Nhật Trình ” vừa hàm ẩn
chiều sâu tư tưởng, tình cảm con người vừa hình ảnh hóa bức tranh cuộc sống trong một tổng thể
nghệ thuật ngôn từ, có khả năng chuyển tải và tôn vinh nét đẹp văn hóa và sức mạnh trí tuệ của
dân tộc. Ý Tứ lời thơ ẩn chìm trong câu chữ, làm sáng lên tư tưởng nhân văn “ rèn lòng làm Bụt
”. Tứ của “ Yên Tử Nhật Trình” ít hiển hiện mà nó ẩn vào những hình ảnh trừu tượng, tạo nên
một thứ tình cảm bàng bạc, nửa hiện thực, nửa siêu nhiên, nửa đời thường, nửa tâm linh. Trạng
thái tình cảm ấy mang phong vị dân dã của làng quê với hàng loạt thi liệu có tính ước lệ như sân
nhà, khóm trúc, bụi hoa nhưng lại lột tả những ý tưởng tâm linh sâu sắc như:
Niềm lòng vặc vặc
Giác tính quang quang
Chăng còn bỉ thử
Tranh nhân chấp ngã
Trần duyên rũ hết
Thị phi chăng hề
Rèn một tấm lòng
Đêm ngày đon đả
Ngồi trong trần thế,
Chẳng quản sự đời
Vẳng vẳng ngàn kia
Dầu lòng dong thả
Hoặc:

thời đại.
Vần thơ của “Yên Tử Nhật Trình”đã đạt đến độ nhuần nhuyễn với những khám phá hiện
thực và tâm linh thông qua các biện pháp ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng, phúng dụ. Tứ thơ “Yên Tử
Nhật Trình” ẩn tiềm một ngọn lửa đam mê về ngôn từ dân gian, làm cho thể loại thơ vốn được
xem là hồn dân tộc trở thành tác phẩm kinh điển trong dòng văn Nôm Việt Nam.“ Yên Tử Nhật
Trình” là tác phẩm văn Nôm mang đặc trưng riêng về bản sắc và nền văn hoá của dân tộc Việt.
Sự tồn tại nguyên vẹn của tác phẩm mộc bản là một sự tự hào dân tộc. Nội dung của “ Yên Tử
Nhật Trình” chính là nội hàm nhân văn Việt Nam.Vốn chữ Nôm trong “ Yên Tử Nhật Trình” đúc
kết những kinh nghiệm trong cuộc sống thiết thực của xã hội đương thời và được lưu truyền cho
đến hôm nay.
Ngày nay chúng ta đã tận mắt nhìn thấy văn bản khắc in từ mộc bản tác phẩm chữ Nôm với
thể thơ lục bát. Ngẫm nghĩ gần cả ngàn năm những thể thơ lục bát này chắc chắn được trích đoạn
và chuyển tải trong lời dạy, lời ru con của cha của mẹ của ông của bà. Sự tồn tại của “ Yên Tử
Nhật Trình” là một sinh mạng ngôn ngữ và văn hóa tất yếu, mà chúng ta khó mà phân biệt được
đâu là ngôn ngữ dân gian và đâu là ngôn ngữ hàn lâm; vì vậy không có lí do gì không đưa những
câu lục bát Nôm này vào trong giáo trình ngữ văn tiếng Việt.
2.4. Chất liệu của Dân ca quan họ Bắc Ninh Bắc Giang
Ngôn ngữ là một phần công cụ của văn học nghệ thuật, chữ Nôm là ngôn ngữ sử dụng chính
của cộng đồng dân cư vùng châu thổ sông Hồng. Yếu tố này là cơ sở để khẳng định chữ Nôm là
công cụ ngôn ngữ của nghệ thuật ca trù và quan học Bắc Ninh Bắc Giang. Bắc Ninh Bắc Giang
là một trong những vùng đất trung tâm của châu thổ sông Hồng. Vùng đất này gắn liền với núi
non Yên Tử và là quê hương của những làn điệu Dân ca quan họ và Ca trù. Nghệ thuật này đã
được thế giới công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Nếu đối chiếu lời của các bài quan họ trong sự phát triển của Tiếng Việt, có thể nhận xét
Dân ca quan họ và chữ Nôm cùng phát triển song song đến đỉnh cao vào giữa thế kỉ XVIII. Yế tố
này là khả năng có thể nghiên cứu để khẳng định chữ Nôm chính là công cụ ngôn ngữ của dân ca
quan họ.Trong thời Pháp thuộc, chữ Nôm không được sử dụng trên văn bản hành chính xã hội.
Người Việt đã dồn hết sinh mạng ngữ nghĩa của chữ Nôm qua dạng truyền khẩu theo ngôn từ
của Dân ca quan họ và ca trù để giữ gìn ý chí, tinh thần và văn hóa dân tộc.
Ngữ nghĩa và âm vận thơ của “ Yên Tử Nhật Trình” gồm các thể loại gieo vần lục bát, phụ

ngay trong hiện đời. Bằng chính cuộc sống của mình, vua Phật đã truyền bá khắp trong dân gian
lối sống “Rèn lòng làm Bụt”, quay về nội tâm để sống tự tại thân tâm, an nhàn thể tánh cho chính
mình, cho gia đình, quê hương và đất nước. Trong văn hóa Việt Nam người ta thường nói đến
tấm lòng để chỉ cho cái tâm cái tánh. Đạo lý về tấm lòng, về chữ tâm được thể hiện nhiều trong
“Yên Tử Nhật Trình’’. Khái niệm “ sen lòng” chính là nhân phẩm con người, giá trị con người
được lấy chuẩn mực từ tấm lòng hiếu thảo của người con. Ngoài việc hiếu thảo với cha mẹ,
người ta còn phải sống trải lòng với bà con xóm làng.Tấm lòng là tình thương mẫu tử, là sự cảm
thông giữa người với người. Tấm lòng là cả đời sống tình cảm con người rất thật nhưng lại rất
tâm linh. Có thể nói “Yên Tử Nhật Trình’’ đã chọn “ đoá sen lòng ” làm biểu tượng cho nếp sống
tự tại và nếp nghĩ giải thoát của người Việt Nam.
3.1. Biểu tượng “sen lòng”
Hoa sen là một loài hoa hiện hữu rất thực trong cuộc sống vật chất và tinh thần của người
Việt. “ Yên Tử Nhật Trình” đã biểu đạt thành công nội hàm nhân văn “Rèn lòng làm Bụt” với
biểu tượng “Đóa sen lòng”. “Đóa sen lòng” là một biểu tượng về nếp sống giác ngộ giải thoát mà
“ Yên Tử Nhật Trình” gọi là “Rèn lòng làm Bụt”. Giá trị của nếp sống này vượt phạm trù tôn
giáo, vượt thời đại, vượt thời gian không gian và đầy sức sống, sáng tạo, khoa học và tích cực
nhập thế.
Tâm không phải là hoạt động tuần hoàn của tim trong cơ thể con người. Tâm là hoạt động
tâm lý của hệ tim mạch, kết hợp với hệ thần kinh ẩn trong năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tiếp
xúc với năm trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, tạo nên sự nhận biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý,
phát sinh ra buồn vui mừng giận, thích thú đắm trước, nhàm chán ghét bỏ, tạo tác, hưởng thụ
v.v Tổng hợp các trạng thái trên tạm gọi là tâm, chữ tâm này người Việt gọi là “ Tấm lòng”.
Tấm lòng này được hình tượng hóa bằng biểu tượng hoa “ sen lòng”.
Biểu tượng “ sen lòng ” và khái niệm sống với “ tấm lòng trong sạch” không xa lạ gì với đời
sống con người Việt Nam. Người ta thường hay dùng từ tấm lòng, lòng dạ để nói về cái tâm, cái
tánh.Tâm tánh chính là nội dung triết học nhân sanh trong các hệ tư tưởng của nhân loại. Người
dân bình thường nói về tâm tánh theo kinh nghiệm cảm nhận của mình trong cuộc sống. Các nhà
tư tưởng nói về tâm tánh bằng hệ thống kinh nghiệm tâm linh được thành lập truyền thừa và phát
huy qua nhiều thế hệ. Các nhà tâm lý học có cách thuyết minh về tâm tánh bằng các nghiên cứu
khoa học sanh mạng. Các nhà khoa học và công nghệ thông tin nói về tâm tánh bằng những phát

Người Việt Nam hôm nay đã bình chọn hoa Sen là Quốc Hoa của đất nước và con người
Việt. Sự kiện này chứng minh những giá trị chữ Nôm và ý nghĩa nhân văn “sen lòng” đã và đang
được người Việt trân trọng gìn giữ và phát huy. Biểu tượng “ đóa sen lòng” là khuôn mẫu về đạo
đức để phát huy nhân cách của người Việt. “Sen lòng” là nguồn gốc của trí tuệ và nhân văn Đại
Việt. Trong quá khứ Hoa sen là biểu tượng về trí tuệ, niềm tin và lòng nhân ái của người Việt,
những thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau cũng sẽ chọn hoa sen là biểu tượng “Sen
lòng” cho chính mình.
3.2. Nếp sống về một chữ “ lòng”
Nếp sống “Rèn lòng làm Bụt” không phải là một lý thuyết suông, cũng không phải là một
cảnh giới siêu nhiên. Đóa “ sen lòng” là thực tại chân lí cuộc sống, là hiện hữu cho những ai biết
dừng chân, ý thức được chính mình, quay về với nguồn tâm, nhìn lại và nghe hiểu tánh giác của
chính lòng mình. Sống theo nhân văn “ sen lòng” chính là sự thực nghiệm và nhìn thẳng thực tại
của cuộc sống của chính mỗi một con người.
Về mặt từ ngữ và câu cú, chữ lòng xuất hiện dày đặc trong tác phẩm với những cung bậc và
trạng thái khác nhau của lòng. Liên kết chuỗi những câu biểu đạt chữ lòng thì chúng ta sẽ cảm
nhận hết được giá trị sống nhân văn của chữ “ lòng” vô cùng tinh tế.
Ý sự chư Tổ truyền lòng
Rầm rà hàng trúc hàng thông
Thế gian đến đấy thì lòng đã thanh
Lòng vua đến đấy một đường vui thay
Lòng bằng mây nước chẳng lo điều gì
Vua thấy Thầy nói mở lòng
Thiền tông chỉ bảo thấp cao sự lòng
Sơn vốn vô Phật làm song
Phật ở trong lòng Bụt tại mỗ tâm
Tâm nguồn không tịch vô vi
Ngộ được tức thì quả chứng Như Lai
Thấy vua tụng niệm Thiên Ban lòng sầu
Trần ngôn thống thiết thấp cao mọi lòng
Lòng vua chẳng toan về rày

Chẳng mặc mỗ pháp mới thông lòng thiền
Pháp Loa tao đã truyền lòng
Làm đệ nhị tổ nối dòng Như Lai
Muốn được lên Bụt phát lòng xuất gia
Kinh nhàn đọc sách, trọng lòng rồi, trọng nữa hoàng kim
Miễn được lòng rồi
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương
Miễn cúc một lòng
Sạch giới lòng chùi giới tướng, nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm
Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thốt dễ cho thấy dấu
Tan hỷ xã, nhuyễn từ bi, nội tự tại, kinh lòng hằng đọc
Rèn lòng làm Bụt, chỉn sá tu một sức dồi mài
Vương lão chém mèo, rạt lẩy lòng ngừa thủ tọa
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông
Mặt thánh lòng phàm, thật cách nhẫn vàn vàn thiên lý
Đắc ý trong lòng
Rèn một tấm lòng
Dầu lòng dong thả
Vân thủy bằng lòng
Lòng chẳng có kể
Biết được lòng thương
Bắt miệng suy lòng
Lòng nguyện độ chúng sinh trầm nhược
Dẫu người quyết lòng học đạo
Ai ai cũng có tấm lòng nhưng tấm lòng trong sáng thì cần phải được rèn liên tục từ trong
cuộc sống ở mọi lúc và mọi nơi.Sự trong sáng của “ tấm lòng” giúp con người tồn tại trong vũ
trụ với tư cách là một chủ thể năng động, có tư duy và sáng tạo. Ở trạng thái nổ lực tâm linh nhất
định, sự trong sáng của tâm của “tấm lòng” sẽ là một trường năng lượng nhân sinh gồm cả thể và
dụng. Năng lượng nhân sinh này chính là khí lực vận hành ý nghĩa nhân văn “ Bụt ở trong lòng”
của dân tộc Việt nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng.

Cùng chung một cuộc sống, người ta cảm thấy khổ khi lòng đầy những nỗi niềm, người ta thấy
thanh thản khi lòng trong sáng vô tư.
Nếp sống “ rèn lòng làm Phật” để lại dấu ấn đặc sắc nhất trong lịch sử tư tưởng VN, triết lí
“rèn lòng” không khuyến khích người dân lìa bỏ cuộc sống gia đình, cộng đồng và xã hội, mà tu
dưỡng tâm tính, chú trọng nhân nghĩa ngay chính trong hiện thật cuộc sống, không phân biệt
giàu nghèo sang hèn, luôn quay về sống với “ nguồn tâm”.Nhân văn sống “rèn lòng làm Phật”
đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Hiểu
hết giá trị của chữ “ lòng” thì mới có thể khám phá và phát hiện những vẻ đẹp nhân văn trong
cuộc sống của các dân tộc Việt. Đời sống với một “ tấm lòng” hiện lên qua những rung cảm
mãnh liệt, tinh tế đa dạng, độc đáo và sâu sắc, tô đậm thêm vẻ đẹp con người, bộc lộ hết chất
nhân văn của dân tộc Việt.
Nói đến chất nhân văn trong “ Yên Tử Nhật Trình” là nói đến vẻ đẹp Con Người cả hình
thức lẫn nội dung, từ bên ngoài đến bên trong, từ hiện thực đến tâm hồn. Chất nhân văn đem đến
nhận thức và rung động về con người, theo khuynh hướng ca ngợi, trân trọng, thương yêu, tin
tưởng. Nếp sống nhân văn “rèn lòng làm Phật” giúp con người luôn ý thức gìn giữ tấm lòng và
diệt trừ tất cả những tâm niệm đen tối tiềm tàng trong lòng của mỗi một con người. Đặc biệt,
“tấm lòng chân thật” luôn được đề cao trong bất kì hoàn cảnh nào.
Cái đẹp của triết lí “ tấm lòng” chính là sức sống và nét hài hoà giữa con người với thiên
nhiên và vũ trụ. Thiên nhiên trong “ Yên Tử Nhật Trình” được mô tả ở nét tinh tế, gợi cảm và trữ
tình nhất, gắn với cảm quan thẩm mĩ dân gian cụ thể, tinh lọc. Thậm chí có những câu chỉ tả
cảnh nhưng vừa đọc là đã cảm nhận được cả những nét hữu tình của thiên nhiên lẫn tấm lòng
gắn bó với thiên nhiên của con người.“ Yên Tử Nhật Trình” là tiếng lòng chân chất của “ tâm”,
làm đẹp thêm tâm hồn con người trong những ân tình nhắn nhủ hướng về quê hương,đất nước và
con người. Những con người cùng tổ cùng tông, cùng đồng điệu về cảm xúc cuộc sống. “ Yên
Tử Nhật Trình” hướng tới những giá trị tâm linh ổn định, vững bền: thương người, tương thân
tương ái, đoàn kết đùm bọc lẫn nhau. Tất cả vì hạnh phúc an vui của quốc gia của cộng đồng và
của mỗi một gia đình, mỗi một con người.
Nếp sống “ rèn lòng làm Bụt” đã để lại dấu ấn đặc sắc nhất trong lịch sử tư tưởng Việt Nam,
nếp nghĩ “chính Bụtt là lòng” không khuyến khích người dân lìa bỏ đời sống gia đình, cộng
đồng và xã hội. Ngược lại nếp sống “ rèn lòng làm Bụt” khuyên người tu dưỡng tâm tính, chú

về khảo cứu di tích văn hóa tâm linh với quần thể thực vật phong phú thuận tiện cho việc bảo vệ
và phát triển du lịch sinh thái và tâm linh. Tạo cơ sở ổn định và phát triển của ngành kinh tế công
nghiệp không khói của Việt Nam ngày nay.
Nếp sống“ rèn lòng làm Bụt” là các lối sống ứng xử giữa người với người, người với xã hội,
người với môi trường và cách nhìn nhận và điều hòa chính tâm ý và hành động của chính mỗi
một con người. Nếp sống này đã được chắt lọc và ứng dụng vào đời sống văn hóa và tinh thần
của người dân, góp phần giáo dục nhân cách cho người Việt với bản sắc ngôn từ Việt. Nếp sống
“ rèn lòng làm Phật” mang đặc trưng riêng biệt của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử nằm trong trong
nguồn nhân văn văn hóa Việt Nam.
Con người muốn có trí tuệ thì phải biết rèn lòng. Rèn lòng là học và sửa tâm để trừ sự ngu
dốt, để trí tuệ sáng suốt. Thân tâm sáng suốt thì dứt được các cái “niềm” vô minh phiền não. Các
niềm đau khổ đã dứt thì “ lòng trong sáng”. “ Tấm lòng” được rèn luyện cụ thể qua hành động
giữ các phạm trù cơ bản về đạo đức. Bỏ ác hành thiện thì cõi lòng mới thanh thản nhẹ nhàng.
Lòng thanh thản thì trí sáng suốt và thông hiểu nguồn gốc căn nguyên và nhân duyên của các
mối tương quan trong cuộc sống. Hiểu được cuộc sống thì mới có thể sống cân bằng trong các
mối quan hệ xã hội, có như vậy mới ung dung tự tại.
“ Yên Tử Nhật Trình” là một tư liệu vô cùng quí giá để con người Việt Nam hôm nay
nghiên cứu về văn hóa văn minh của dân tộc mình.Người Việt vẫn đang sử dụng tiếng Việt hàng
ngày, số ngôn từ tiếng Việt chuyển tải ngữ nghĩa chữ Nôm chiếm hơn một nửa, nhưng rất ít
người ý thức được mình đang sử dụng ngữ nghĩa chữ Nôm của tổ tiên để lại. Việc “ tư liệu hóa
và kĩ thuật số hoá” văn bản “ Yên Tử Nhật Trình”nói riêng và các tác phẩm văn Nôm nói chung
là điều cần được chính phủ và nhân dân Việt Nam quan tâm. Mong sao bộ giáo dục nước Cộng
Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cần có những quan tâm khuyến khích và chỉ đạo kịp thời về
việc chuyển tải ngữ nghĩa văn Nôm sang chữ Việt, soạn thảo và đưa các tác phẩm văn Nôm điển
hình, cụ thể là “ Yên Tử Nhật Trình ” vào giáo trình giảng dạy tiếng Việt ở các cấp và các
phương tiện truyền thông đại chúng. Việc làm này sẽ giúp cho công dân Việt Nam , đặc biệt là
thanh thiếu niên nhi đồng được học, hiểu và phát triển văn hiến của dân tộc mình. Di sản văn hóa
chữ Nôm và nhân văn “ rèn lòng trong sáng ”chính là tư lương cho người Việt trẻ trên bước
đường đưa văn hóa Việt Nam hội nhập vào di sản văn hóa nhân loại.
“Yên Tử Nhật Trình” ghi chép về phong cảnh thiên nhiên, địa chí và địa chất liên quan đến

Chinese transcribed Vietnamese documents, “Yên Tử Spiritual Journey” which was engraved on
forty-two woodblocks could be a classic works of Chinese transcribed Vietnamese literature.

The Demotic character used in “Yên Tử Spiritual Journey” holds unique national linguistics
value. These creative works contributed to a transition by selectively combined ancient
Vietnamese language with Chinese Vietnamese sounds. The result of this transition and language
harmony contributed to laying the foundation of the meanings of the Demotic character literature
and today’s Vietnamese language.

The writing in “Yên Tử Spiritual Journey” is one of the creative word craft materials. This word
craft has successfully manifested the humanism value of “the Heart” through the symbol of the
“inner lotus” of the Vietnamese people. The Vietnamese way of life, of living with “the Heart”
has deeply absorbed into the spiritual life of the communities of ethnicities dwelling in the
territory of Vietnam and the Vietnamese communities all over the world.

Today, The Vietnamese people have chosen the lotus as the national flower of the country and
the people of Vietnam. This event has proved that the Demotic script has been the perception and
thinking vehicle of the Vietnamese people. The value of the Demotic script and the meaning of
“the inner lotus” has been and continued to be treasured and brought into play by the Vietnamese
people.

The “Yên Tử Nhật Trình” works holds immeasurable value. This article has mentioned only a
small part of it. The author wishes that the thought on the value of the Demotic script in the
woodblock documentation at Vĩnh Nghiêm Pagoda, Bắc Giang will capture the attention of
many linguists and language educators to research into this subject.

Key words: Demotic character, Yên Tử, Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status