Báo cáo khoa học Vay mượn, chuyển di, chuyển mã, hoà mã và thích ứng Thực tiễn tiếp xúc ngôn ngữ tiếng Việt ở châu Úc - Pdf 28

VAY MƯỢN, CHUYỂN DI, CHUYỂN MÃ, HÒA MÃ VÀ THÍCH ỨNG :
THỰC TIỄN TIẾP XÚC NGÔN NGỮ CỦA TIẾNG VIỆT Ở CHÂU ÚC

Thái Duy Bảo
1
1. GIỚI THIỆU
Hành trang vốn không ly gián đối với các cộng đồng di dân thường là ngôn ngữ- phương
tiện vừa để duy trì và lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống, vừa là chất kết dính cá nhân vào
cộng đồng nơi đất khách quê người. Đối với cộng đồng di dân gốc Việt, tiếng Việt không phải là
lệ ngoại và là ngôn ngữ cội nguồn của hơn 3 triệu người đang cư trú và sinh sống ở trên trên 90
quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tại Úc châu, nơi có hơn 206 ngôn ngữ được sử dụng tại nhà
(Clyne et al, 2005), thì tiếng Việt là ngôn ngữ cội nguồn của hơn 200.000 người gốc Việt tập
trung chủ yếu ở các tiểu bang như New South Wales, Victory, Queensland, Nam Úc và Tây Úc.
Xét trên bình diện nhân khẩu- ngữ học, có khoảng 16 % dân số Úc nói một thứ tiếng ngoài tiếng
Anh (Language Other Than English, gọi tắt là LOTE). Riêng thành phố Sydney bang NSW, có
29% và Melbourne bang Victoria có 27% số dân nói một ngôn ngữ LOTE tại gia đình. Đáng chú
ý là, trong số 16% dân số Úc sử dụng LOTE thì số người nói tiếng Việt lại xếp thứ 5 (chiếm gần
1% tổng dân số của Úc), sau tiếng Ý, Hi Lạp, Trung Quốc và Ả Rập (có tỉ lệ tuần tự là 2%,
1,5%, 1, 3% và 1,2% dân số của Úc). Cổ suý cho việc lưu giữ và quảng bá ngôn ngữ này trong
bức tranh đa văn hoá và đa ngôn ngữ của Úc Châu, tiếng Việt lại được chính phủ Úc xếp vào
một trong 14 ngôn ngữ chủ đạo (14 Key Languages) được giảng dạy ở bậc phổ thông tại các
bang chính của nước Úc (Lo Bianco 1987). Tuy vậy, việc giảng dạy ngôn ngữ lại mang nhiều lý
do khác nhau và không phản ảnh rõ nét bức tranh nhân khẩu ngữ học được, vì trong khi tiếng Hi
Lạp, tiếng Việt và Trung Quốc có số lượng người nói lớn nhất thì số học sinh theo học chúng tại
các trường học công lập lại không nhiều bằng các thứ tiếng khác. Do vậy, cũng không thể khằng
định một cách rõ ràng là những di dân này đã duy trì và sử dụng được ngôn ngữ của nước cội
nguồn trong sinh hoạt hằng ngày tại nước tiếp cư, hoặc họ chỉ hoàn toàn sử dụng ngôn ngữ của
xã hội tiếp cư mà thôi (Clyne 2003).


2.2. Trên bình diện hội nhập, việc chuyển đổi từ ngôn ngữ cội nguồn sang ngôn ngữ tiếp cư
không còn là vấn đề bàn cãi nữa, do lực đẩy của thực tế cuộc sống, như cơ hội việc làm, thăng
tiến trong công việc, sự thuận tiện trong sinh hoạt hằng ngày v.v Không như ở những cộng
đồng sắc dân khác ở Úc, hiện tượng chuyển đổi ngôn ngữ sang tiếng Anh vẫn ghi nhận là rất
thấp trong cộng đồng người Việt (Clyne 2003: 35). Điều đáng nói ở đây là trong bản thân cộng
đồng Việt tỷ lệ người nói trẻ tuổi (dưới 14, sinh tại Úc) lại cao một cách vượt trội, xếp hàng thứ
2 sau cộng đồng Ý (mà lẽ ra, vẫn phải hàng thứ 6 theo thứ tự cộng đồng có lượng người nói thứ
tiếng cội nguồn cao nhất), dù cho con số này tương quan rất ít với trình độ tiếng Anh và chiều
dài định cư của họ. Tuy vậy hiện tượng này chỉ tồn tại trong miền giao tế gia đình mà thôi và tỏ
ra thấp hơn ở miền giao tế trường học, cộng đồng hay ngoài xã hội (Thai 2005b).

2.3. Đến lượt mình, ở mỗi cộng đồng trong quá trình tiếp xúc, việc chọn mã sử dụng nói chung
thường không chỉ nằm trong giới hạn của ngôn ngữ mà còn ở những khái niệm thuộc ý thức hệ,
tính chất của các tiếp xúc xuyên văn hoá, và quan niệm về bản sắc của các nhóm hay tiểu nhóm xã
hội, hoặc nhỏ hơn là của các đơn vị gia đình vốn là những nhóm không đồng nhất về ngôn ngữ
(Barch, 1969; Irvine, 1987). Trong thực tế của tiếp xúc ngôn ngữ, khái niệm về chuẩn mực trong
việc chọn mã dần dần hình thành và, thậm chí, sự chuyển đổi chuẩn mực cũng được chấp nhận
ngay trong các tiểu nhóm, nhóm xã hội và cộng đồng. Theo đó, chính thái độ nhìn nhận và tiếp
nhận lẫn nhau đã giúp cho các thành viên giả định được những gì là “được phép”, những gì là
“kiêng kỵ” khi bước vào một không gian giao tế có thể khác với vốn sống và không gian của họ
trước đây; và như vậy, ở một bình diện rộng lớn hơn, các cộng đồng ngôn ngữ sẽ hình thành nên
cái gọi là hình thái bản sắc cộng đồng xã hội (communalistic form of social affiliation) trên nền
tảng ý niệm về cộng đồng trong nhận thức của các thành viên (Ratcliffe, 1994; Phinney, 1990). Do
vậy, những định hướng về chuẩn mực, về tiền giả định cũng như những ý niệm “chia sẻ chung”
giữa các thành viên cũng được tạo lập và nâng cao dần theo thời gian. Điều này tương tự với ý
niệm về nhóm, nhận thức đồng nhóm trong một cộng đồng ngôn ngữ.

2.4. Trên bình diện tiếp xúc ngôn ngữ, một số nhà ngôn ngữ- nhân học lại cho rằng ý niệm về
nhóm không hình thành một cách tự phát, mà trái lại, nó là một hệ quả của các tương tác giáp

những chủ để xoay quanh sinh hoạt hằng ngày, những khía cạnh văn hoá xã hội của cuộc sống ở
Úc. Ngôn ngữ trao đổi là tiếng Việt. Địa bàn cư trú của các đối tượng tham gia là vùng Mt.
Pritchard (Bang New South Wales), Springvale (Bang Victoria), Belconnen, Gungalin (Thủ đô
Canberra). Để thu ngắn khoảng cách xã hội và làm liên tục câu chuyện, người nghiên cứu cũng
thỉnh thoảng tham gia vào đối thoại. Tổng độ dài của các cuộc đối thoại là gần 10 tiếng. Với từng
cuộc đối thoại, chúng tôi ghi âm và phiên âm tất cả những từ, ngữ sử dụng trong suốt quá trình trao
đổi, bao gồm danh từ, tính từ, phó từ, động từ hay bất kỳ đơn vị ngôn ngữ nào được sử dụng.
Ngoài ra, để làm rõ các sắc thái ngữ nghĩa và yếu tố bản sắc của tiếng Việt trong cộng đồng, hơn
120 văn bản dưới hình thức bài báo, mẫu quảng cáo, truyện ngắn, bản tin trên các tờ báo địa
phương và một số biểu bảng thông báo cùng với 40 VCD ca nhạc lưu hành trong cộng đồng hay
trên trang web ở Úc cũng nằm trong đối tượng khảo sát này.

4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH
4.1. Phạm vi sử dụng ngôn ngữ cội nguồn
4.1.1. Trong nhiều thập niên qua, số lượng các công trình nghiên cứu về yếu tố tác động và bản
chất của quá trình duy trì ngôn ngữ ngoài tiếng Anh trong các cộng đồng di dân ở Mỹ, Âu châu
cũng như ở Úc châu đang ngày mỗi gia tăng. Nhiều trong số này nghiên cứu tỉ mỉ về tính lành
mạnh của môi trường nhân văn hổ trợ cho việc duy trì ngôn ngữ cộng đồng lẫn cổ súy việc phát
triển tinh thần đa văn hoá như là một phương thức đề cao bản sắc hay chính sách ngôn ngữ của các
nước (Clyne, 1985; Haugen 1971, 1979; Smolicz & Harris 1976). Một số khác lại chú trọng đến
yếu tố miền gắn liền với các thành viên của cộng đồng ngôn ngữ, quyết định việc chọn mã hay xu
hướng chuyển mã mà trong đó, những biến số thường đóng vai trò quan trọng trong các hành vi
ngôn ngữ như: tình huống, chủ để, phong cách, mối quan hệ liên nhân, địa điểm, phương thức và
phương tiện (Fishman 1965; Cooper 1969; Greenfield 1972, Sandkoff 1971). Các công trình này
có ghi nhận chung về thái độ lưu giữ ngôn ngữ thường xuất phát từ gia đình (đặc biệt là gia đình có
những thành viên thuộc thế hệ thứ nhất) muốn duy trì tiếng mẹ đẻ như một phương cách duy trì
văn hoá truyền thống, trong khi các thế hệ tiếp theo của họ lại sử dụng tiếng Anh (với tư cách là
ngôn ngữ của xã hội tiếp cư) như một mã duy nhất trong hoạt động giao tiếp thường nhật.
4.1.2. Đối với cộng đồng ngôn ngữ của thành phần di dân thuộc thế hệ thứ nhất và kế tiếp (thế hệ
1.5) điều phổ biến nhất chính là hiện tượng hiện tựơng vay muợn từ tiếng Anh vào ngôn ngữ

Qua cứ liệu khảo sát, hiện tượng này chủ yếu dựa trên các từ có sẵn trong tiếng Anh để tạo
ra lớp từ mới trong trong tiếng Việt. Chẳng hạn, quan sát các trường hợp sau:

(1) đi làm pham (farm)
(2) tách phom (form), ghép phom
(3) ăn gueo-phe (welfare), ăn tít- két (ticket)
(4) làm neo (nail)

Trong các trường hợp trên, các từ ngữ tiếng Anh như farm, form, welfare, ticket, nail đã
được Việt hóa với cách phát âm của người Việt (trong khảo sát). Tuy nhiên, nghĩa của các từ này
được mở rộng và biến đổi quy theo nghĩa của bối cảnh trong ngôn ngữ nguồn. Chẳng hạn, “đi
làm pham” (to work on a farm) không phải là “đi làm ở trang trại” hay “đi làm ruộng” như trong
tiếng Việt; mà đây là công việc mang tính thời vụ, dù ở trang trại, nhưng là những công việc
được trả tiền mặt (không phải đóng thuế) và thường dùng phổ biến trong thành phần kinh tế phi
chính thức (informal sector). Hoặc từ “form” trong tiếng Anh có nghĩa là “phiếu”, “tờ khai”, hay
“mẫu kê khai”, nhưng khi tổ hợp với động từ “tách” hay “ghép” thì nghĩa được chuyển đổi theo
nghiã của tiếng Anh nhưng trong bối cảnh của nước Úc, được dùng để biểu thị hành vi “sống ly
thân” hoặc “ly hôn”, chính thức hoặc chưa chính thức (tách phom). Ngược lại “ghép phom” là
hành vi “kết hôn”, “hợp hôn”, hoặc “cùng chung sống chính thức với nhau như vợ chồng” nhằm
được thừa nhận hoặc thụ hưởng chính sách an sinh xã hội của nước này, như trợ cấp tài chính
theo chính sách, xem xét khi khai thuế v.v…
Trong khi đó, trường hợp (3) và (4) có sự biến đổi nghĩa nhất định, với phương thức vay
mượn bộ phận (mà chủ yếu là thành phần nồng cốt), chẳng hạn, từ “welfare” có nghĩa là “phúc
lợi”, nhưng được kết hợp với động từ “ăn” trong tiếng Việt (không tương đương về nghĩa với
động từ “eat” trong tiếng Anh) nhằm tạo ra một nét nghĩa mới là “hưởng được chế độ an sinh,
phúc lợi xã hội” (như được trợ cấp thất nghiệp, hoặc tiền trợ cấp cho người già hay cho con cái ở
tuổi vị thành niên v.v… Tương tự, “ticket” là “vé”, “ăn tít-két” có nghĩa là “bị phạt tiền” do có
những vi phạm hành chính như đậu xe sai quy định, lái xe quá tốc độ. Hoặc trong trường hợp (4)
thì “nail” là “móng tay” nhưng “làm nail” có nghĩa là “làm thợ móng tay” như một nghề nghiệp
(manicurist), chứ không đơn thuần là “đi viện thẩm mỹ, làm đẹp móng tay” v.v…

nổi bậc trong các hành vi ngôn ngữ của thế hệ di dân thứ nhất và gần đó là xu hướng bảo lưu một
lượng từ lẫn cấu trúc đã sử dụng từ trước 1975 mà nay ít thấy sử dụng ở trong nước. Một số
trong lượng từ vựng này có thể xem là “cổ” (archaism) và có phần nào “lỗi thời”. Chia sẻ với
tình hình này là những kết qủa nghiên cứu trên hoạt động ngôn ngữ của những cộng đồng di dân
người gốc Hungary, Croatia, Ba Lan, Latvia vào cuói thập niên 40-50 của thế kỷ trước mà theo
Clyne (2003) nguyên cớ là hoặc do tiếp cận với lượng từ vựng đương đại ở nước xuất cư hoặc do
không chấp nhận các đơn vị từ vựng gắn liền với diễn biến chính trị ở trong quá khứ. Chẳng hạn,
quan sát các trường hợp:
(8) Khới đi từ sự thoả thuận này, môn tiếng Anh là môn học đầu tiên mà học sinh toàn
quốc sẽ có chương trình học đồng nhất …
(Trường học trên toàn nước Úc sẽ có chương trình học thống nhất, Thời Báo, số 300,
21/7/2003)
(9) Sang Thương Vụ: Ủi dập. Cơ hội làm ăn rất tốt, không cạnh tranh, làm nhiều ăn
nhiều… Cần tiền sang gấp. Xin liên lạc…
(Quảng cáo trên Thời Báo-Vietnamese Community Newspaper, số 300, 21/7/
2003)
(10) Ở bên Việt Nam ai có bỏ giấy bằng nhật trình…
(Tư Ếch Di Dân, Việt Luận Online, số 18/2/05)
(11) Nhà chức trách Úc đã kêu gọi sự giúp đỡ của công chúng ở Đức trong một cố
gắng tìm ra căn cước của phụ nữ này.
(Một phụ nữ Sydney bị giam giữ nhầm lẫn trong trại Di trú, Nam Úc Thời Báo,
18/2/05)

Trong (8)-(11), các từ khởi đi, thương vụ, nhật trình có khuynh hướng ít sử dụng dần
trong khẩu ngữ cũng như văn bản chính luận ở trong nước, nhưng ngược lại được sử dụng với
tần số khá cao trong khẩu ngữ (nhất là các đối tượng trên 50 tuổi) và khá nhiều trong ngôn ngữ
báo chí cộng đồng. Trong khối liệu, không ít các từ chỉ tên gọi các quốc gia hay các đơn vị liên
quan đến tiền tệ vẫn được sử dụng nhiều như: Hoa Lục, Nam Dương, Nhật Bổn, Mạc Tư Khoa,
Luân Đôn, Hoa Thịnh Đốn, Ăng- Lê, Úc Đại Lợi, Úc Kim, Mỹ Kim, phân lời v.v…
4.2.4. Thiếu vắng lớp từ sau năm 1975

biến trùng lặp ở nhiều cấp độ, đồng thời, chúng tác động lẫn nhau hoặc có thể làm nẩy sinh
những biến thể ngôn ngữ (Clyne 2003: 111). Đặc điểm này dễ nhận biết ngay ở trong cộng đồng
ngôn ngữ gốc Việt đang khảo sát, nhất là ở các đối tượng đơn ngữ thuộc thế hệ thứ nhất, và quá
trình này thường xảy ra trên các từ loại khác nhau, nhiều nhất là ở danh từ, một số đồng từ, đồng
thời, có hiện tượng chuyển di ngữ âm kèm theo hiện tượng lược bỏ các phụ âm đầu và thanh điệu
hóa (tonalization).
4.3.1. Chuyển di từ vựng
Trong khối liệu của mình, chúng tôi ghi nhận hiện tượng chuyển di từ vựng (lexical
transference) xuất phát từ việc vay mượn các đơn vị tương đương trong ngôn ngữ mẹ đẻ để định
danh những đối tượng, sự vật hay khái niệm tìm thấy ở xã hội mới, ngay từ những ngày đầu định
cư. Hiện tượng này được ghi nhận trên cả hai đối tượng- song ngữ và đơn ngữ. Hầu như trên kết
quả phân tích các đối thoại từ khối liệu chuyển di từ vựng không tương quan với ngữ năng của
các đối tượng. Thậm chí, trong một số trường hợp hiện tượng này còn là hình thức biểu thị một
kiểu loại bản sắc mới trong hành vi ngôn từ của lớp người nhập cư, khu biệt với thói quen ngôn
ngữ của họ trước đây.
Các phạm trù chuyển di từ vựng vào tiếng Việt trong cộng đồng thường rơi vào các miền giao tế
ở gia đình, trường học, sinh hoạt thường nhật như mua sắm, làm vườn, giải trí và một phần trăm
rất thấp ở miền giao tiếp công sở. Chẳng hạn, quan sát hiện tượng sau:

(12) sóp thịt, sóp hoa, sóp neo, sóp Tàu

Trong trường hợp này, từ “sóp’ đã được chuyển di và tổ hợp với danh từ theo sau để làm
thành từ mới, trong khi ở tiếng Anh, không nhất thiết sử dụng từ này, mà thay vào đó, sử dụng
yếu tố mới và hình thức sở hữu tận cùng vào dấu phẩy và phụ âm ‘s”. Chẳng hạn, “sóp thịt”: the
butcher’s, “sóp hoa”: the florist’s , hoặc “sóp neo”: the manicurist’s, đó là chưa nói đến việc
chuyển di kéo theo việc mở rộng nghĩa như trong từ “sóp Tàu” có nghĩa là “tiệm thực phẩm Á
châu nói chung” mà đa phần muốn ngụ ý là “tiệm thực phẩm cho người Việt”, nhưng trong tiếng
Anh phải là the Asian Grocer’s.
4.3.2 Chuyển di ngữ âm
Trên cấp độ ngữ âm, phân tích từ khối liệu để tài ghi nhận có hiện tượng tạo ra một

(Tự do không tranh cử Werria, Nam Úc Thời Báo, 19/2/05)

Qua hai trường hợp trên, có thể thấy rằng, do ảnh hưởng cấu trục bị động vốn phổ biến
trong tiếng Anh nhằm mục đích che dấu chủ từ thật- tác nhân gây là hành động (như trong 14: là
sự vật, sự việc đã được đề cập trước đó nên được thay thế bằng một chủ từ giả (dummy subject)
it (nó); và trong 15: ĐảngTự Do), nên thi thoảng, trong giao tiếp khẩu ngữ vẫn bắt gặp một số
trường hợp có hình thức chuyển di này, nhất là với đối tượng trẻ, thuộc thế hệ thứ hai.

4.4. Chuyển mã – hoà mã
Ở thời buổi ban đầu của các công trình nghiên cứu song ngữ, khái niệm chuyển mã
(code-switch) được hiểu là hiện tượng sử dụng một từ hoàn toàn không đồng hóa (unasssimilated
word) từ một ngôn ngữ khác vào lời nói của mình (Weinreich, 1953, Haugen, 1953) được chế
ước bằng những biến đổi thích hợp trong tình huống phát ngôn (appropriate changes in the
speech situation) và không chỉ xảy ra ở cấp độ câu. Về sau, khái niệm này được mở rộng, và
nhiều nhà ngữ học thừa nhận rằng chuyển mã có thể xảy ra trong cả hai ngôn ngữ, tùy vào ngữ
năng của các đối tượng tiếp lời (Haselmo, 1970); đồng thời nó là tiến trình thực hiện chức năng
ngôn bản ở cấp độ trên từ - ngang câu (intra-sentential) hay liên câu (intra-sentential), khác với
hoà mã (code-mixing) thường diễn ra ở nội bộ câu. Do vậy, chuyển mã chủ yếu xảy ra trên đối
tượng có năng lực song ngữ, gắn nhiều với phương thức vay mượn, chuyển di (Poplack, 1988;
Clyne, 1987; Sankoff et al., 1990, Myers-Scotton, 1993).
4.4.1. Từ loại trong chuyển mã và hoà mã
Xét rên phương diện từ loại, ở khối liệu thu thâp, trong hơn 1450 lượt chuyển mã qua lời
thoại và văn bản, thì số lượng danh từ chiếm ưu thế nhất. Kết quả này tuy có phần cao hơn số
liệu của Poplack (1980) trong công trình nghiên cứu chuyển mã giữa tiếng Tây Ban Nha và tiếng
Anh, cũng như số liệu của Hồ-Đắc (2003) trong hiện tượng chuyển mã của người Việt ở
Melbourne, nhưng có những điểm chung là các từ loại có sự tương đồng về cấp độ từ cao đến
thấp như chiếm ưu thế là danh từ (58,5%), sau đó đến động từ (11.2%), tính từ (3,8 %), đại từ
nhân xưng (2.4 %) (đặc biệt là You và Me), thán từ (2,2 %), phó từ (1,5%), giới từ (0.4%) và
thấp nhất là liên từ (0.3 %). Chuyển mã ở câp độ ngữ và mệnh đề cũng khá cao, sau danh từ
(18.8%), nhưng đa phần là dưới hình thức chuyển di nguyên dạng (transversion) hay lối nói

(17) Cho mình 2 sandwich(Ø) đi nhé! (CR 37f)

Ở cả hai trường hợp trên đều không có hiện tượng biến đổi ngữ pháp đối với thành phần
trung tâm (16: không biến đổi về thời quá khứ (+ED) đối với book, và 17: không có biến đổi
hình thái số nhiều (+ES) cho sandwich), do áp lực về loại hình của ngôn ngữ tiếp nhận. Ở đây,
chính sự linh hoạt trong thích ứng này dễ làm nẩy sinh hiện tượng chuyển mã hay trộn mã một
cách tự nhiên với tầng suất ngày mỗi cao và đặc biệt là ở những đối tượng không nhất thiết là có
trình độ song ngữ cao. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp mà sự linh hoạt quá mức trong
thích khiến tạo ra yếu tố hoàn toàn lạ, không xác định được ở cả hai ngôn ngữ. Chẩng hạn, so
sánh 2 mẫu quảng cáo sau đây:

(18) Fig. 136. P 3 (19) Fig. 79. P3 Ở mẩu quảng cáo (18), hiện tượng trộn mã có độ thích ứng dễ chấp nhận, xảy ra ở cấp độ
từ và trên từ. Kỳ thực, có sự mở rộng nghĩa của “shop” trong “sang shop” với nét nghĩa là
“chuyển nhượng doanh nghiệp” (business transfer hay business sale), bên cạnh sự chuyển di
nguyên dạng với nguyên tắc kinh doanh “walk-in walk out” (tiếp quản ngay khi thanh toán). Vậy

I don’t know, không biết xưng là sao là sao…you know, completely
different words…với lại với gia đình thì dạ, thưa, I’m always successful,
but with friends, thì em không biết nói sao sao…yeah! completely
different words.”
(đối tượng nữ, sinh viên, tuổi 20) CA 33a

Rõ ràng, trên bề mặt của phát ngôn, đối tượng đã trộn mã bằng việc “chêm vào tiếng
Anh” trong một số tình huống như là một phương thức khắc phục giao thoa nhờ vào vốn ngữ
năng của mình. Song, chính thái độ “phục tòng theo lễ giáo gia đình” cũng góp phần vào quyết
định trong tiến trình thương lượng này. Điều đáng chú ý là trong khi chọn tiếng Anh đối với
đồng trang lứa như một áp lực “buộc- phải-làm”thì việc chuyển mã sang tiếng Việt là điều “có-
bổn-phận-phải-làm”. Nói theo lập luận của Gumpez chính chiến lược dò xét với phương thức
“we-code” và “they-code, mà cá nhân phải đưa ra quyết định nhằm bảo toàn mối quan hệ trong
những bối cảnh đồng nhóm (in-group) hoặc và ngoại nhóm (out-group). Không hồ nghi gì, chọn
mã đối với thế hệ thứ hai thường là sự biểu minh của bản sắc nhóm, đồng thời, chuyển mã cũng
là chiến lược để duy tri các mối quan hệ ngoại nhóm trong “khung giá trị chung”. Củng cố cho
ghi nhận này, quan sát mẫu trích phỏng vấn từ khối liệu sau trên một đối tượng được hỏi về mã
chọn khi giao tiếp ngoài cộng đồng:

(21) Mẫu trích CA 2
“Nếu người đó lớn hơn thì mình phải dùng tiếng Việt, nó không có rude,
còn nếu mình cứ như là “Hey, how’re you going?” thấy như là … là không
có đúng… như là với người lớn, thì mình “thưa chú, thưa bác”, nó không
có rude… còn nếu như mình cứ you, me, I thì mình hổng có…em nhớ khi
hồi nhỏ, thì bà ngoại em nói “hổng có you, me, I gì hết, hổng có… tôn
trọng người lớn gì hết trơn há.” Bởi zậy, em thấy với người lớn là phải
“thưa chú, thưa bác, thưa cô…”
(đối tượng nữ, tuổi 18, sinh viên) CA 18

Quả thực, trong giao tiếp cộng đồng, chọn ngôn ngữ cội nguồn ngay từ ban đầu cũng là

5. KẾT LUẬN
Tóm lại, từ thực tế khảo sát trên, thông qua các phương thức hành chức phổ biến của
tiếng Việt ở Úc châu, đề tài có thể đưa ra những nhận xét mang tính đúc kết như sau:

1. Trên bình diện ngôn ngữ- xã hội học, tiếng Việt ở cộng đồng hải ngoại hoạt động trong
sự cọ xát thường trực từ các cảnh huống tiếp xúc ngôn ngữ- điều kiện làm nẩy sinh các
hiện tượng vay mượn, chuyển di, chuyển đổi và trộn mã. Đến lượt mình, các hiện tượng
này chính là lực đẩy tạo ra những biến thể của ngôn ngữ tiếng Việt sử dụng trong cộng
đồng. Những biến thể này đều có nguyên nhân ngoài ngôn ngữ, xuất phát từ hoàn cảnh
ngôn ngữ- xã hội mới cũng như vốn ngữ năng, chiều dài định cư, mạng lưới xã hội, thái
độ đối với ngôn ngữ cội nguồn của các thành viên trong cộng đồng và chiến lược thương
lượng cá nhân trong việc chọn mã, chuyển mã v.v…

2. Vay mượn, chuyển di- hai phương thức nổi trội và gần như thường trực trong các hoạt
động từ chuyển mã đến trộn mã ở các cộng đồng ngôn ngữ gốc Việt, vận hành với tư
cách là phương tiện để thực hiện chức năng giao tiếp-xã hội nhưng đồng thời, cũng là
công cụ để biểu lộ bản sắc cá nhân của đối tượng sử dụng, bản sắc tiểu nhóm và các
nhóm xã hội khác nhau. Trên bình diện ngôn ngữ, do đặc điểm loại hình của ngôn ngữ
cội nguồn thuộc nhóm đơn lập, không có biến hình nên vay mượn lại được cổ vũ ở mức
linh hoạt hơn so với các ngôn ngữ cộng đồng khác, bằng sự dung nạp một lượng từ vựng
không nhỏ. Bên cạnh đó, chính hiện tượng tạo lập từ mới và mở rộng nghĩa cũng như
hiện tượng chuyển di trong quá trình vay mượn đã làm cho tiếng Việt cộng đồng càng
thêm phong phú. Trong thực tế, do hoàn cảnh kinh tế và mạng lưới xã hội của từng cộng
đồng, tiếng Việt của mỗi cộng đồng di dân thường có lớp từ vựng đặc thù, phản ánh hình
thái tương tác xã hội và thái độ thích ứng của cộng đồng đó vào hệ thống xã hội chung
của nước tiếp cư. Hơn nữa, do cấp độ vay mượn thường không đồng nhất trên từng nhóm
tuổi, nhóm xã hội và phong cách cá nhân nên có thể khẳng định rằng tiếng Việt ở mỗi
cộng đồng di dân vốn chia cắt về mặt địa lý hoặc khác nhau về cơ sở kinh tê-xã hội, sẽ
luôn tồn tại những điểm không tương đồng, xét trên cấp độ ngữ âm, từ vựng, cú pháp và
ngữ dụng. Chẳng hạn, tiếng Việt ở vùng Sydney mang những yếu tố từ vựng, chuyển di

on East- West Borders in Europe. Aldershot: Ashgate, 33- 52.
Clyne, M. (1967). Transference and Triggering. The Hague.
(1970). Some aspects of the bilingualism and language maintenance of Australian born
children of German-speaking parents. ITL 9: 35-47
(1976). Australia Talks. Pacific Linguistics D. 23. Canberra.
(1985). Multilingual Australia. Melbourne: River Seine Publications.
(2003). Dynamics of Language Contact. Cambridge University Press.
Clyne, M., Fernadez, S. & Grey, F. (2005). Languages taken at school and languages spoken in
the community- A comparative perspective. Australian Applied Linguistic Review
Issue1.
Cooper, R.L. (1969). How can we measure the roles which a bilingual’s languages play in his
everyday behaviour? In L.A. Kelly (ed.). The description and measurement of
bilingualism: 92-208
Fishman, J.A. (1965). Who speaks what language to whom and when? Linguistique 2: 67-88.
(1971). Sociolinguistics: A brief introduction. Newbury House, Rowley, MA.
Greenfield, L. (1972). Situational measures of normative language views in relation to person,
place and topic mong Puerto Rican bilinguals. In: Fishman, J. (Ed.), Advances in the
Sociology of Language, vol. 1. Mouton, The Hague, pp. 17-35. 11
Gumperz, J.J. (1966). On the ethnology of linguistic change. In: Bright, W. (Ed.).
Sociolinguistics: Proceedings of the UCLA Sociolinguistic Conference, 1964, The
Hague, pp. 27-49.
(1982). Discourse strategies. Cambridge: Polity Press.
Hasselmo, N. (1970). Code-switching and modes of speaking. In: G. Gilbert (Ed.), Texas
Studies in Bilingualism, Berlin: de Gruyter, pp. 179-209.
Haugen, E. (1950). The analysis of linguistics borrowing. Language 26: 210-31.
(1953). The Norwegian language in America. Vol. 2. Philadelphia.
(1971). The Ecology of Language. The Linguistic Reporter 13: 19-26.
(1979). Bilingualism. Language Contact and Immigrant Languages in the United States.
In: J. Fishman (ed.) Advances in the Study of Societal Multilingualism. The Hague: 1-
111

(2006). Multiple voice: An introduction to bilingualism. MA: Blackwell Publishing.
Myers-Scotton, C. & Jake, L.L. (2000). Explaining aspects of code-switching and their
Implications. In Nicol (ed.)
Parasher, S.N. (1980). Mother-tongue-English diglossia: a case study of educated Indian
bilinguals’ language use. Anthropological Linguistics 22, 151-168.
Paulwels, A. (1995). Linguistic practices and language maintenance among bilingual women and
men in Australia. Nordlyd 11: 21-50.
Phinney, J. S. (1990). Ethnic and identity in adolescents and adults: review of research.
Psychological Bulletin, 108 (3): 499- 514.
Poplack, S. (1977). Quantitative analysis of constraints on code-switching. New York: Centro de
Estudios Puertorriquenos.
Poplack, S., Sankoff, D. & Miller, C. (1988). The social and linguistic processes of borrowing
and assimilation. Linguistics 26: 47-104.
Ratcliffe, P. (1994). Conceptualizing “race”, ethnicity and nation: towards a comparative
perspective, in
Ratcliffe, P. (ed.). “Race”, ethnicity and nation. International Perspectives on Social Conflict.
London: University College London Press, 2- 25.
Sankoff, G. (1971). Language use in multilingual societies: Some alternative approaches. In:
J. Pride & J. Homes (ed.). Sociolinguistics. Harmonsworth: Middlesex: 33-52.
Sankoff, G., Poplack, S.& Vanniarajan, S. (1990). The case of the nonce loan in Tamil.
Language Variation and change 2: 71-101.
Scotton, C. M. & Wanjin, Z. (1983). Tongzhi in China: language change and its conversational
consequences. Language in Society 12, 477-94.
Simango, S.R. (2000). “My madam is fine”: The adaptation of English loans in Chichewa.
Journal of Muticultural Development 21: 487-507.
Smolicz, J.J. & Harris, R.D. (1976). Ethnic Languages and Immigrant Youth. In Clyne (1976).
Australia Talks. 131- 75.
Thai, B.D. (2005a). Preliminary observations on Vietnamese as a “migrant language”. In: Papers
from the 15th meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, Research School of
Asia Pacific Studies. Canberra: The Australian National University.


Borrowing, transference, code-switching, code-mixing and integration: A case
of language contact of Vietnamese in AustraliaThai Duy Bao
The National University of Australia

In contexts of language contacts, borrowing, transference, code-switching, code-mixing and
integration often occur across communication domains on various levels with such influential
factors as age group, length of residency, bilingual competency, social network, sense of identity,
attitude towards integration and cultural maintenance of interlocutors (Haugen, 1950; Hasselmo,
1970, Clyne, 1967, 1970; Gumper, 1966, 1982; Poplack, 1977; Poplack et al., 1988; Lipski,
1978; Bourdieu, 1982; Sankoff, 1971; Myers-Scotton, 1986, 1988, 1993; Thai 2005, 2006,
2007). These phenomena have been regarded as topics of sociolinguistics and classified as data
from bilingual studies as social variants (Myers-Scotton, 2000). Unlike previous research this
paper investigates these phenomena within the Viet diasporas in Australia with a view to
explaining (1) the causes and operational mechanism of these phenomena from linguistic
perspectives; and (2) individual and social identities associated with the language interaction
within diasporas from socio-pragmatic perspectives. With a qualitative analysis of the data
collected on 28 Vietnamese Australians, with 38 conversations and interviews, more than 120
texts from newspaper print-ads, articles, flyers, posters and more than 50VCDs circulated within
the Viet diasporas in NSW, Victoria and Canberra, the paper gives out concluding remarks on
the scenario of language use in both families and communities of Viet origins in light of Contact
Linguistics, which leads to implications for policies on the teaching of the heritage language to
overseas Vietnamese.

Key words: identity, borrowing, code choice, code-convergence, code-mixing, code-switching,
transference and integration.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status