ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI - NHÂN VĂN
KHU VỰC NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2005-2010
(Đề án nghiên cứu khoa học trọng điểm
của Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
trong lĩnh vực khxh-nv 2005-2010)
Chủ nhiệm đề tài:
GS.TSKH. TRẦN NGỌC THÊM
MỤC LỤC
Mục lục
3
Lời nói đầu
5
I- KHXH&NV: HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
1.1. Đặc điểm của KHXH&NV và KHXH&NV ở Việt Nam 6
1.2. KHXH&NV trong thế giới hiện đại 9
1.3. Tiềm lực KHXH&NV của ĐHQG TP.HCM 12
1.4. Giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu KHXH&NV của ĐHQG TP.HCM 15
II- KHU VỰC NAM BỘ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHXH&NV
NAM BỘ
2.1. Nam Bộ nhìn trong không gian 16
2.2. Nam Bộ nhìn trong thời gian. Vấn đề tên gọi 17
2.3. Nam Bộ nhìn từ con người 21
2.4. Nam Bộ: tình hình nghiên cứu 25
III- M
ỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
3.1. Mục tiêu thực tiễn 27
3.2. Mục tiêu khoa học 28
3.3. Mục tiêu giáo dục và đào tạo 28
IV- NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
4.1. Những lĩnh vực KHXH&NV khu vực Nam Bộ mà đề án quan tâm 29
4.2. Lĩnh vực Đô thị: Chương trình Những vấn đề xã hội - nhân văn trong
phát triển đô thị ở khu vực Nam Bộ
29
4.3. Lĩnh vực Văn hoá: Chương trình Bảo tồn và phát triển văn hoá dân
tộc trong quá trình hội nhập ở khu vực Nam Bộ
33
.
Định hướng giới hạn đối tượng nghiên cứu vào khu vực Nam Bộ được xác định
trong dự thảo ban đầu của đề án này do cố PGS.TS. Nguyễn Văn Tài, nguyên phó
Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH-NV phụ trách về NCKH & QHQT, chủ trì soạn thảo
năm 2002 và đưa ra thảo luận trong cuộc toạ đàm ngày 23-2-2004. Với những ý kiến
góp ý của các nhà khoa học tại buổi toạ đàm này, nhiều vấn đề trong dự
thảo cần được
sửa chữa lại.
Song sự ra đi đột ngột của PGS.TS. Nguyễn Văn Tài đã khiến cho việc sửa chữa
dự thảo trở nên không thực hiện được.
Trước tình hình đó, cuối năm 2004, Ban KH-CN Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí
Minh đã làm việc với lãnh đạo Trường Đại học KHXH-NV về việc xây dựng lại đề án
này. Và ngày 24-12-2004 lãnh đạo ĐHQG đã ký Quy
ết định thành lập Ban soạn thảo
đề án mới gồm 5 thành viên để “tiếp tục triển khai xây dựng đề án” trong thời hạn 3
tháng.
Cơ sở xuất phát của Ban soạn thảo là bản dự thảo Đề án do PGS.TS. Nguyễn Văn
Tài chủ trì biên soạn, Báo cáo về kết quả cuộc toạ đàm ngày 23-2-2004 của Ban
KHCN & QHQT, 14 bản góp ý của các nhà khoa học tại toạ đàm.
Đề án này chỉ là một phần trong định hướ
ng nghiên cứu khoa học xã hội và nhân
văn trong giai đoạn 2005-2010. Bên cạnh những vấn đề khoa học xã hội và nhân văn
khu vực Nam Bộ, các ngành khoa học xã hội và nhân văn của Đại học Quốc gia Tp.
Hồ Chí Minh còn có trách nhiệm dành một phần quan trọng trí tuệ và kinh phí cho
việc tiếp tục thực hiện những nghiên cứu cơ bản phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo đại học
và sau đại học, và nghiên cứ
u các khu vực khác.
Bản dự thảo mới của Đề án đã được nhóm biên soạn hoàn thành vào giữa tháng 4-
2005. Chiều ngày 7-5-2005 một cuộc toạ đàm đã được tổ chức với sự có mặt của 23
nhà khoa học trong và ngoài Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh (x. danh sách tại Phụ
số người làm việc trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng không hiểu
đúng
và hiểu hết
về những nét đặc thù của nhóm ngành này.
1.1.1. Đặc điểm thứ nhất của khoa học xã hội và nhân văn, theo chúng tôi, là tính
phổ biến.
Khoa học tự nhiên và công nghệ cũng mang tính phổ biến, nhưng tính phổ biến
của khoa học xã hội và nhân văn thì cao hơn rất nhiều, bởi lẽ khoa học xã hội và nhân
văn là khoa học về con người và cộng đồng người. Trong đời sống, không phải lúc nào
ta cũng dùng
đến những tri thức về lượng giác, về hoá học, v.v., nhưng xưa nay, phàm
làm bất kỳ việc gì thì cũng phải động chạm đến những hiểu biết về con người và cộng
đồng người, cho nên kiến thức khoa học xã hội và nhân văn hiện hữu ở khắp mọi nơi
và cần đến ở khắp mọi nơi. Trong phạm vi một quốc gia, một công trình nghiên cứu
khoa học tự nhiên và công ngh
ệ giỏi lắm chỉ có vài trăm người đọc (in được vài trăm
bản) thì một công trình nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn thường có tới vài
nghìn, thậm chí vài vạn người đọc.
Tất nhiên, nói đến tính phổ biến của khoa học xã hội và nhân văn đây là nhìn trên
tổng thể, không phải mọi ngành khoa học xã hội và nhân văn đều có tính phổ biến như
nhau (chẳng hạn, khảo cổ học, ngôn ngữ học
, Hán-Nôm có tính chuyên sâu khá cao).
Trong mỗi ngành thì lại tuỳ theo phân môn, theo đề tài mà tính phổ biến sẽ khác nhau.
Mặc dù thế, cũng không thể dựa vào tính chuyên sâu của một số ngành hoặc phân môn
để phủ nhận tính phổ biến của các ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung.
Đặc điểm này dẫn đến một số hệ quả và nghịch lý.
Hệ quả thứ nhất là do tính phổ biến mà ở khoa học xã hội và nhân văn có hiện
tượng ai cũ
ng đọc được (khác với khoa học tự nhiên và công nghệ nhìn thấy công thức
là không thể đọc tiếp được rồi!). Mà đã đọc được thì sẽ nghĩ là mình hiểu được, và do
học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Khoa Kinh tế) ch
ỉ chiếm có 560 triệu (1/6);
trong tổng kinh phí cấp cho các đề tài không trọng điểm cấp Bộ là 1.794 triệu đồng thì
các đề tài khoa học xã hội và nhân văn chỉ chiếm có 260 triệu (1/7)
2
. Có người đã tính
ra rằng tổng số chi phí dành cho khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong suốt
lịch sử không bằng tiền chi cho một lỗ khoan thăm dò dầu khí bỏ đi.
1.1.2. Đặc điểm thứ hai của khoa học xã hội và nhân văn là tính đặc thù. Trong
khi khoa học tự nhiên và công nghệ mang tính phổ quát, chung cho toàn nhân loại thì
khoa học xã hội và nhân văn mang tính đặc thù, riêng của từng dân tộc. Tuy rằng trong
khoa học xã h
ội và nhân văn cũng có phần lý luận đại cương nhưng đối với nhiều
ngành, những lý luận đại cương được rút ra từ thực tiễn phương Tây hầu như không áp
dụng được với thực tiễn phương Đông.
Tính đặc thù và tính phổ biến của khoa học xã hội và nhân văn không hề mâu
thuẫn với nhau: phổ biến là xét về phạm vi sử dụng (có mặt ở khắ
p mọi nơi), còn đặc
thù là xét về nội dung (thể hiện ở mỗi dân tộc mỗi khác). Khoa học xã hội và nhân văn
phổ biến trong phạm vi một dân tộc
,
quốc gia nhưng kém phổ quát trên phạm vi thế
giới; còn khoa học tự nhiên và công nghệ thì ngược lại, phổ quát trên phạm vi thế giới
nhưng kém phổ biến trong phạm vi dân tộc
,
quốc gia.
Đối tượng với tên gọi “Việt Nam
học” mà ngày nay đang được thế giới hết sức quan tâm chủ yếu bao gồm những thành
tựu nghiên cứu về Việt Nam của các ngành khoa học xã hội và nhân văn chứ không
”; vì bất phân nên tuy những tri thức này chính là tri thức khoa học xã
hội và nhân văn, nhưng trong lịch sử chúng không tách được ra thành từng khoa học.
Đặc điểm tính tổng hợp này dẫn đến hệ quả là khoa học xã hội và nhân văn có
một lợi thế lớn mà các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ không có được – đó là
bản thân đối tượng đã tiềm ẩn khả năng hợp tác đào tạo và nghiên cứu liên ngành rất
cao.
1.1.4. Đặc điểm thứ tư của khoa học xã hội và nhân văn là đối tượng của nó mang
tính phiếm định. Khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu về con người và xã hội,
nhưng con người đây không phải là con người vật chất, con người sinh học, mà là khía
cạnh tinh thần của con người và những mối quan hệ, những hoạt động, những ứng xử
của con người – tất c
ả đều là những đối tượng khó xác định rõ ràng.
Không chỉ đối tượng nghiên cứu không rõ ràng, mà ngay cả hiệu quả của việc
nghiên cứu cũng không rõ ràng dễ thấy, không hiển hiện tức thời. Cái đúng/sai và giá
trị của nhiều công trình nghiên cứu KHXH&NV nhiều khi phải đợi 5-10 năm, thậm
chí mấy chục năm sau mới ngã ngũ.
Đặc điểm này dẫn tới hệ quả thứ nhất là tri thức khoa họ
c xã hội và nhân văn nếu
không được trình bày thật chặt chẽ thì dễ có nguy cơ trở nên mơ hồ, thiếu rõ ràng.
Cũng do vô hình và nhiều khi mơ hồ, thiếu rõ ràng nên có hệ quả thứ hai hiện
tượng bất đồng ý kiến trong khoa học xã hội và nhân văn cao hơn rất nhiều so với
khoa học tự nhiên và công nghệ.
Và cũng bởi vậy mà có hệ quả thứ ba là các nhà khoa học xã hội và nhân văn th
ực
tế khó cộng tác với nhau hơn so với các nhà khoa học tự nhiên và công nghệ. Hệ quả
này đã triệt tiêu nhu cầu hợp tác đào tạo và nghiên cứu liên ngành rất cao tiềm ẩn trong
bản thân đối tượng đã nói đến ở trên.
Lại cũng chính do đặc điểm này nên mới có chuyện là ở một số nước và cả ở Việt
Nam, một số ngành khoa học xã hội và nhân văn có lúc đã r
ơi vào tình trạng minh hoạ
tư ít và do do tính đặc thù mà chất lượng của sách giáo khoa các môn khoa học xã hội
và nhân văn trong nhà trường phổ thông chưa cao. Do nội dung đôi khi mơ hồ, thiếu
chặt chẽ, còn giáo viên phổ thông thì sợ sai nên giảng dạy thiếu tính sáng tạo và sức
hấp dẫn.
Kết quả là ở Pháp, 30% thanh niên không biết Victor Hugo là ai, trên 50% không
biết Hitler là ai
3
. Ở Mỹ có những thanh niên cho rằng cư dân châu Mỹ La-tinh nói
tiếng La-tinh, còn Toronto (một thành phố Nam Canada – láng giềng nước Mỹ) thì
nằm ở Ý [Hirsh 1987]. Theo một cuộc điều tra mới đây ở Nhật Bản thì 25% học sinh
sinh viên không biết nước láng giềng CHDCND Triều Tiên nằm ở đâu, gần 60%
không biết Iraq (nước được nhắc đến hầu như hàng ngày trên các phương tiện truyền
thông đại chúng mấy năm qua) nằm ở đ
âu
4
. Ở Việt Nam, theo kết quả của một cuộc
điều tra
5
ở Tp. Hồ Chí Minh năm 1994, 39% thanh niên không biết Hùng Vương là ai,
49% không biết Trần Quốc Toản, 64,6% không biết Trương Công Định.
Học sinh phổ thông quay lưng lại với khoa học xã hội và nhân văn đến nỗi khi lớp
12 tiến hành phân ban thì chỉ những em nào kém nhất mới chịu vào ban C.
1.2.3. Tình trạng coi thường việc nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn và sự
chậm trễ của nó còn để lại nhiều lỗ hổng lớn.
3
Theo tin trên báo Sài Gòn giải phóng số 128, ngày 26-6-1993.
4
Theo tin của hãng Reuteurs đăng trên báo Tuổi trẻ, số ra ngày 24-2-2005.
5
c cũng ít được chú
ý, điều đó sẽ trở thành đại hoạ nếu nó xảy ra ở những người nắm giữ quyền lực. Nhà
khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20 Albert Einstein khi phát minh ra năng lượng nguyên tử
đâu có ngờ rằng, rơi vào tay những người đứng đầu Nhà Trắng, nó đã gây nên thảm
họa nguyên tử khủng khiếp chưa từng có ở Hirosima và Nagasaki. Các nhà hoá học,
sinh học đ
âu có ngờ rằng những phát minh của họ đã tạo nên những vũ khí sinh học,
vũ khí hoá học (điển hình là chất độc màu da cam) có sức huỷ diệt cực lớn và để lại
hậu quả hết sức nặng nề cho nhiều thế hệ. Nước Mỹ siêu cường đầy tự tin đâu có thể
ngờ rằng chiến tranh huỷ diệt quy mô lớn có thể xảy ra ngay trong lòng nước Mỹ
một
cách dễ dàng đến không ngờ bằng máy bay Mỹ và những phi công do chính Mỹ đào
tạo. Không phải ngẫu nhiên mà khi thí nghiệm về con cừu Đôly thành công, hàng loạt
nguyên thủ quốc gia đã phải hốt hoảng ra lệnh cấm tiệt việc tiến hành thực hiện sinh
sản vô tính đối với con người.
Lỗ hổng thứ ba là khi mà nhiều lĩnh vực của khoa học xã hội và nhân văn không
được đầu tư nghiên cứ
u một cách nghiêm túc thì đó chính là mảnh đất màu mỡ cho các
“tôn giáo - tín ngưỡng hiện đại” lan tràn. Một nghịch lý của thế giới hiện đại là ở
những nước càng phát triển như Mỹ, Nhật thì càng có nhiều những “tôn giáo” quái dị
xuất hiện mà trong số những tín đồ mù quáng của họ đáng tiếc là có cả những người trí
thức và nhà khoa học (điển hình là vụ giáo phái Aum ở Nhật Bản những năm 90).
1.2.4. Hiể
n nhiên, các phát minh không có lỗi. Có lỗi chăng chính là ở những con
người sử dụng chúng. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ nhân loại chưa được chuẩn bị đầy đủ để
đón nhận và sử dụng các phát minh của mình.
11
Nghịch lý lớn nhất là trong khi mỗi chúng ta đang phát triển về mặt này thì cũng
chính mình lại đang tụt lùi thảm hại về mặt khác. Cho nên, mỗi bước tiến đến văn
6
), nhân học (anthropology), và văn hóa học (culturology).
Sự lên ngôi của khoa học xã hội và nhân văn là một thực tế đã và đang diễn ra,
khi mà càng ngày càng có nhiều người nhận ra rằng nguồn gốc của những yếu kém
hiện nay nằm ở con người chứ không phải ở máy móc, kỹ thuật. Các chính khách và
các nhà khoa học quân sự Mỹ cay đắng nhận ra rằng Mỹ thua Việt Nam là do chưa
hiểu hết văn hoá Việt Nam. Liên Xô và phe XHCN sụ
p đổ là do bệnh chủ quan và duy
ý chí trong việc sử dụng con người. Ở Việt Nam những năm gần đây, sự kiện Thái
Bình, sự kiện Tây Nguyên cũng như những vướng mắc tồn đọng trong việc tổ chức và
quản lý đô thị đều nằm ở nhân tố con người. Các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội,
các tổ chức nhân đạo càng ngày càng phát triển. Càng ngày càng có nhiều lời kêu gọi
coi trọ
ng việc giảng dạy sử học, văn hoá học, đạo đức học. Những ngành đào tạo đang
thu hút đông thí sinh nhất hiện nay phần lớn đều là những ngành khoa học xã hội và
nhân văn như luật học, báo chí, kinh tế, ngoại ngữ, ngoại thương, Đông phương học...
1.3. Tiềm lực KHXH&NV của ĐHQG TP.HCM
Để xây dựng được định hướng trong việc nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn,
Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh cần đánh giá đúng tiềm lực nghiên cứu của mình.
Đội ngũ CBGD và nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của Đại học Quốc gia
Tp. Hồ Chí Minh thời gian qua nhìn chung có thể nói là đã phát triển vượt bậc. Tại
6
Trước những năm 90, ngành xã hội học đã không được Liên Xô và các nước XHCN thừa nhận.
12
thời điểm tháng 4-1975, Đại học Văn khoa có 11 ban, đào tạo 11 ngành hệ cử nhân,
với khoảng 110 giáo viên.
Mười một ban và ngành đào tạo đó là: ban Việt văn, ban Hán văn,
ban Triết học Đông phương, ban Triết học Tây phương, ban Sử học, ban Địa lý, ban Tâm lý
Tuy nhiên, nếu so với yêu cầu của thực tế và trong mối tương quan với các ngành
khoa học tự nhiên và công nghệ thì lực lượng này của khoa học xã hội và nhân văn
vẫn là rất mỏng. Tỷ lệ SV/CBGD của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là 33,8
SV/CBGD [ĐHQG Tp.HCM 2004: ii]. So với các ngành khoa học tự nhiên và công
nghệ thì tương quan lực lượng như sau [ĐHQG Tp.HCM 2002; Lê Trọ
ng Ân 2004] (x.
Bảng 2 và hình 2):
ĐH KHXH&NV
Stt Số lượng
2002 2004
ĐH KHTN
(2002)
ĐH KHCN
(2002)
1. GS, PGS 6 19 32 34
2. TS, TSKH 63 63 96 172
3. ThS 89 125 118 229
4. Tổng CBGD 264 386 427 824
Bảng 2: So sánh đội ngũ CB đào tạo và nghiên cứu KHXH&NV với KHTN&CN
7
Theo số liệu trong [Lê Trọng Ân 2004] thì chỉ có 2 ban (ban văn-sử-triết và ban ngoại ngữ) với 7 ngành đào
tạo hệ cử nhân.
13
0
500
học - - 1 6 1
9 Việt Nam học - 1 1 9 5
10 Ngữ văn Anh - - 1 24 28
11 Ngữ văn Pháp - - - 7 5
12 Ngữ văn Nga - - 1 6 12
13 Ngữ văn Trung Quốc - - - 1 19
14 Ngữ văn Đức - (1)
8
- 2 9
15 Văn hoá học 1 2 4 2 2
16 Nhân học 1 2 4 4 6
17 Quan hệ quốc tế - 1 2 2 6
18 Tin học - - - 2 6
Bảng 3: Đội ngũ CBGD thuộc Trường KHXH&NV (2004)
8
Không thuộc biên chế Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
14
Trong 18 khoa & bộ môn trực thuộc của Trường ĐH KHXH&NV nêu trên, có 7
đơn vị không có một GS/PGS nào, 4 đơn vị không có một TS nào. Số đơn vị có ít nhất
từ 1 GS/PGS và 3 TS trở lên chỉ có 7 đơn vị là:
1)
Khoa Ngữ văn - Báo chí
2)
Khoa Lịch sử
3)
khả năng đáp ứng ở mức độ cao những yêu cầu của xã hội
.
Tình trạng này không thể tiếp tục kéo dài.
1.4.2. Căn cứ vào những đặc điểm của khoa học xã hội và nhân văn, triển vọng
của khoa học xã hội và nhân văn cùng thực trạng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn đã trình bày trên, có thể thấy có ít nhất là 4 biện pháp
cấp bách giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn như sau:
Thứ nhất, bản thân các nghiên c
ứu khoa học xã hội và nhân văn phải tự đổi mới
mình để sao cho các tri thức phải được phát hiện và trình bày theo những tiêu chuẩn
chặt chẽ của phương pháp luận khoa học, hạn chế tối đa những ý tưởng mơ hồ, những
trình bày không rõ luận điểm, những lập luận thiếu chứng minh, v.v. nhằm nâng cao
tính thuyết phục và tính khoa học của công trình.
Thứ hai, các nhà quản lý cần ph
ải đổi mới nhận thức về khoa học xã hội và nhân
văn trên cơ sở hiểu rõ những đặc thù của nó, từ đó có sự đầu tư kinh phí đúng mức để
tạo điều kiện cho nó phát triển.
Thứ ba, trong sự đầu tư đó, cần đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường đội ngũ
cán bộ đào tạo và nghi
ê
n cứu khoa học xã hội và nhân văn về số lượng và nâng cao
15
hơn nữa về chất lượng. Đồng thời, cần tính đến việc bổ sung những ngành khoa học xã
hội và nhân văn quan trọng còn thiếu (như nghệ thuật học, du lịch học, luật học, ngoại
thương). Đặc biệt, cần tính đến việc thành lập một đơn vị nghiên cứu KHXH&NV cấp
ĐHQG (kiểu như Viện Nghiên cứu KHXH&NV). Trong khi các khối ngành khoa học
tự nhiên và công nghệ
đều đã có nhiều viện nghiên cứu cấp ĐHQG, còn khối ngành
KHXH&NV hoàn toàn chưa có một viện nào, thì đây là một giải pháp mang tính tổ
có độ cao trung bình 20-200m. Tài nguyên khoáng sản quan trọng nhất là dầu khí với
trữ lượng lớn. Trên đất liền có các loại đá ốp-lát, sét gạch ngói, cát thuỷ tinh, cao lanh,
titan, puzlan. Địa hình này rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ bản và phát triển công
nghi
ệp.
Phần lớn đất có chất lượng tốt (đó là đất nâu đỏ và nâu vàng trên nền bazan và đất
xám trên nền phù sa cổ). Thuộc vùng khí hậu tương đối điều hoà, ít thay đổi, ít có
thiên tai; lượng mưa dồi dào, trung bình khoảng 1.500-2.000 mm/năm. Đất này rất
thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp.
Với sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ ba ở Việt Nam có trữ lượng nước đủ
cung cấp nướ
c sinh hoạt và công nghiệp cho cả vùng; trữ lượng thuỷ điện có khả năng
cung cấp hàng năm gần 10 tỷ KWh. Với đường bờ biển dài gần 100m với nhiều ngư
trường lớn và bãi biển đẹp, vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng thuỷ sản và tiềm năng du
lịch rất phong phú [Lê Thông (Cb) 2004: 507-512].
2.1.2. Miền Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Đồng
Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ
, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà
Mau, An Giang, và Kiên Giang. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 39.717,3 km
2
, chiếm
12% diện tích cả nước. Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng châu thổ do sông Cửu Long
(Mê-kông) tạo nên, với độ cao trung bình so với mực nước biển chỉ là 3-5m, độ dốc
trung bình là 1 cm/km. Đây là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu
của Đông Nam Á và thế giới (trong đó đất phù sa chiếm 29,7% diện tích toàn vùng,
đất phèn chiếm 40%, đất mặn chiếm 16,7%, đất xám và các loại đất khác chiếm
13.6%), là vùng cây ăn trái nhiệt đới, vùng sản xuấ
t lương thực lớn nhất nước.
Miền Tây Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm là 24-
27
Đất nâu, khí hậu điều hoà:
thuận lợi cho phát triển
cây công nghiệp
Đất phù sa, mưa nhiều:
thuận lợi cho trồng cây ăn
trái và sản xuất lương thực
Thiên nhiên
& bờ biển
Có nhiều ngư trường lớn
và bãi biển đẹp: tiềm năng
thuỷ sản và du lịch biển
Kênh rạch, vùng ngập
mặn, biển: Tiềm năng thuỷ
sản và du lịch sinh thái
2.2. Nam Bộ nhìn trong thời gian. Vấn đề tên gọi
2.2.1. Nói về Nam Bộ, người ta thường nghĩ ngay rằng đây là một vùng đất mới
với lịch sử 300 năm. Song tầm nhìn khoa học xã hội và nhân văn không thể dừng ở cái
mốc lịch sử 300 năm này mà phải vượt qua nó, bao quát cả toàn bộ lịch sử của
vùng đất.
Cách ngày nay 4-5.000 năm, ở vùng đất cao là miền Đông Nam Bộ đã có con
người cư trú, tạo nên nền văn hoá Đồng Nai. Cuộ
c khai quật ở Cầu Sắt (
Xuân Lộc,
Đồng Nai) năm 1976 cho thấy từng có một nền văn hoá đá mới, gốm tồn tại ở đây
cách nay khoảng 5.000 năm. Một nền văn hoá đồng cách nay khoảng 4.000-3.000 năm
được tìm thấy ở di chỉ núi Gốm, ở Hàng Gòn (Xuân Lộc, Đồng Nai) và Dốc Chùa
(Tân Uyên, Sông Bé). Ở miền Đông Nam Bộ số lượng các di tích có thể tính được trên
150 địa điểm, trong đó ở lưu vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông
có mật độ các di tích cư trú dày đặc [TTNC KCH 1997; Viện BTLS 1998].
ng Ăng Co
Vat) rồi suy thoái. Năm 1177, Champa tiến vào chiếm đóng Ăng Co. Đầu tk. XIII,
Chân Lạp lại phục hồi, tái chiếm Champa đến 1220 mới rút.
Tk. XIV, tranh chấp Thái - Chân Lạp. Giữa tk XIII, khi bị Mông Cổ tấn công,
nước Nam Chiếu của người Thái ở thượng nguồn sông Mê Công bị tan rã, người Thái
chạy xuống sống ở lưu vực sông Mê Nam. Cuối tk XIII dần dần hình thành một loạt
quốc gia Thái trên địa bàn này: Vương quốc Lan Na ở miền B
ắc (1296); vương quốc
Sukhothay ở miền Trung. Cuối tk XIII, Sukhothay trở thành một trong những lực
lượng mạnh nhất khu vực, thống trị Miến Điện, tk. XIV xâm lăng Chân Lạp; đất đai
Chân Lạp bị thu hẹp một cách đáng kể.
Những cuộc tranh chấp liên miên đã khiến cho khu vực Nam Bộ, với tư cách là
vùng đệm, trở thành kiệt quệ. Là vùng đệm, bởi vậy trong những giai đoạn h
ưng thịnh
ngắn ngủi, nó do xa trung tâm nên không được hưởng. Nhưng là vùng đệm, nó vẫn
phải hứng chịu gánh nặng của chiến tranh, cướp bóc, và đóng góp, cung tiến người vật
cho trung tâm (Ăng Co, Chân Lạp). Kết quả là dân cư dòng dõi Phù Nam gốc đã phiêu
bạt di tản tới những vùng yên ổn hơn, khiến cho vùng này dần dần trở thành
hoang vắng.
Đó là tình trạng mà vào tk 13, khi sứ thần nhà Nguyên là Châu Đạt Quan trên
đường tới kinh đô Angkor đã thấ
y: “Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn là cây mây cao
vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào”. Đó
cũng là tình trạng mà lưu dân người Việt đã thấy khi tới đây: Đồng Nai xứ sở lạ lùng,
Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um.
Tk. 15-16 phương Tây bắt đầu nhòm ngó Đông Nam Á. Từ cuối tk 16, người Việt
đã đến khai phá lập nghiệp, lập nên những thôn ấp người Việt từ Bà Rị
a tới Đồng Nai,
Sài Gòn, tới tận Phnôm-pênh. Tk.17, tại vùng Sài Gòn nay có 2 thị trấn nhỏ Prei
Nokor (= Sài Gòn = Chợ Lớn nay) và Kas Krobey (= Bến Nghé = Sài Gòn nay) thuộc