Nâng cao hiệu quả tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng Đông Á - chi nhánh Hà Nội - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ XXI là thế kỷ của sự mở của và hội nhập, đất nước chúng ta
đang ngày một đổi mới cùng với sự phát triển nói chung của thế giới. Trong
quá trình mở cửa chúng ta mở rộng mối quan hệ với rất nhiều nước trên thế
giới, đây cũng là một cơ hội vô cùng thuận lợi cho các ngân hàng có điều kiện
phát triển chính mình. Trong những năm qua, hoạt động của hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đã có
những đóng góp ngày càng tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế , kiềm chế
lạm phát , huy động được nguồn vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư và tổ
chức kinh tế xã hội vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong các hoạt động của các ngân hàng thương mại thì hoạt động tín
dụng là một trong những nghiệp vụ quan trọng đem lại tới 80% lợi nhuận kinh
doanh cho ngân hàng, trong đó tín dụng ngắn hạn chiếm tới 60%. Hơn nữa, với
sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, sự phát triển
nóng của thị trường chứng khoán, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh sẽ
khiến cho thị trường vốn trung và dài hạn sẽ không còn là thị trường mục tiêu
hấp dẫn đối với các ngân hàng thương mại nữa. Chính vì vậy, trong những năm
gần đây, tuy các ngân hàng thương mại đã chú trọng tới mở rộng quy mô, tăng
khả năng cạnh tranh cũng như nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn,
song có thể nói tín dụng ngắn hạn vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động
tín dụng của ngân hàng.
Không ngoại lệ, tại ngân hàng Đông Á - chi nhánh Hà Nội, tín dụng
ngắn hạn là khoản mục có tỷ trọng lớn nhất. Trong những năm gần đây, hiệu
quả tín dụng ngắn hạn đã dần được nâng cao tại chi nhánh, đem lại các khoản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lợi nhuận to lớn, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế như các khoản nợ
xấu, nợ khó đòi làm ảnh hưởng đến hoạt động của chi nhánh.
Nhận thấy rõ vai trò của tín dụng ngắn hạn trong hoạt động của ngân
hàng thương mại cũng như bối cảnh Việt Nam hiện tại, em đã chọn đề tài: “
Nâng cao hiệu quả tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng Đông Á - chi nhánh

lại, ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và
môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ
và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Vì vậy, cách tiếp cận thận trọng nhất về ngân hàng thương mại có lẽ là
xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung
cấp. Theo giáo trình Ngân hàng thương mại của trường đại học Kinh tế quốc
dân, Ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực
Lê Hồng Phong Ngân hàng 45 B

3
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế. Một số định nghĩa khác lại dựa theo các hoạt động chủ yếu
của ngân hàng thương mại. Theo luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền này để cung cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Các hoạt động cơ bản của ngân
hàng bao gồm:
* Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh tiền tệ dưới hình thức
huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn - hoạt
động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại - hoạt động này đóng vai trò rất
quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng
thương mại đã tìm mọi cách để huy động được tiền bởi nguồn tiền huy động
này là điều kiện cần để có thể thực hiện các hoạt động sử dụng vốn cho ngân
hàng. Một trong những nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là các

quản lý ngân quỹ cho khách hàng…
* Hoạt động trung gian.
Khi thực hiện hoạt động này, ngân hàng đóng vai trò trung gian, cung
cấp dịch vụ tài chính cho khách hàng. Bao gồm: cung cấp các dịch vụ chuyển
tiền, thanh toán, dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ uỷ thác, dịch vụ đại
lý... Những hoạt động này khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản phí
giúp tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.
* Các hoạt động khác:
Lê Hồng Phong Ngân hàng 45 B

5
Ngoài các hoạt động cơ bản trên, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ
khác như: bảo quản tài sản hộ, cho thuê thiết bị,…
1.1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm.
Thuật ngữ tín dụng ngân hàng xuất phát từ chữ Latinh ‘ Credium’ có
nghĩa là lòng tin, sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Lòng tin ở đây không chỉ của
người đi vay mà cả người cho vay. Hiểu theo nghĩa hẹp, tín dụng là sự chuyển
nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức tiền tệ hay
hiện vật trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và
khi đến hạn thì người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng
giá trị lớn hơn, khoản dôi đó được gọi là khoản lợi tức tín dụng. Còn hiểu theo
nghĩa rộng thì tín dụng gồm 2 mặt : Huy động vốn và cho vay.
Như vậy có thể rút ra khái niệm về tín dụng một cách đơn giản :
Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Từ khái niệm về tín dụng có thể rút ra khái niệm về tín dụng ngân
hàng như sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các
tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được thực hiện
dưới hình thức vốn tín dụng bằng tiền bao gồm tiền mặt và bút tệ.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm:

trung hạn nhằm mục đích tài trợ cho các tài sản cố định như sửa chữa, mua sắm
thêm phương tiện vận tải, thay đổi sản phẩm hàng hoá … Tín dụng trung hạn
có đặc điểm : Lãi suất thường cao, tính thanh khoản của món vay thấp và độ rủi
ro tương đối cao.
o Tín dụng dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Mục đích của hình
thức cấp tín dụng dài hạn là tài trở cho các công trình xây dựng cơ bản như cầu
đường, sân bay, máy móc thiết bị có giá trị lớn tời gian sử dụng lâu dài phát
triển sản xuất kinh doanh theo chiều rộng hoặc chiều sâu … Cho vay dài hạn
Lê Hồng Phong Ngân hàng 45 B

7
có đặc điểm: Lãi suất và độ rủi ro rất cao , tính thanh khoản của món vay lại rất
thấp.
 Tín dụng phân chia theo đảm bảo:
o Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là việc cho vay vốn của tổ chức tín
dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực
hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay được bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ ba. Tín dụng có tài sản đảm bảo được chia thành tín
dụng thế chấp và tín dụng cầm cố. Tín dụng thế chấp là hình thức mà người
nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài
sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Tín dụng
cầm cố: Là hình thức mà người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền
kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết.
o Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Loại tín dụng này thường
được cấp cho khách hàng có uy tín, làm ăn thường xuyên, tình hình tài chính
vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ dây dưa khó đòi hoặc cũng có thể cấp theo
chỉ định của chính phủ. Tổ chức tín dụng có thể lựa chọn khách hàng vay để
cấp tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản khi cho vay vốn ngắn hạn, trung
han, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển phương án sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và đời sống đối với khách hàng vay đủ các điều kiện sau:

hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khach hàng phải
trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Cho thuê tài sản trung và dài hạn (leasing)
được ghi vào khoản mục tài sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần tiền
thuê ngân hàng đã thu được (dư nợ cho thuê).
Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã
Lê Hồng Phong Ngân hàng 45 B

9
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. Bảo lãnh được ghi vào tài
sản ngoại bảng, đó là phần giá trị mà ngân hàng cam kết trả thay khách hàng
của mình. Phần bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào nội
bảng.
1.1.2.4. Đặc điểm:
• Hoạt động tín dụng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ.
Thông qua cơ chế chính sách thích hợp, ngân hàng huy động những khoản
nhàn dỗi để hình thành nguồn vốn cho vay nhằm bổ sung cho quá trình sản xuất
kinh doanh và đầu tư phát triển của các chủ thể trong nền kinh tế.
• Các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian trong quá trình
huy động vốn và cấp tín dụng.
Hoạt động của các ngân hàng bao gồm hai nhiệm vụ tương đối độc lập là
huy động vốn và cho vay, khi ngân hàng nhận tiền gửi của dân cư, doanh
nghiệp, chính phủ thì ngân hàng là ngưòi đi vay.Khi ngân hàng cung ứng tiền
cho dân cư, doanh nghiệp, chính phủ thì ngân hàng là người cho vay.
• Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng phù hợp
với sự vận động và phát triển của tái sản xuất xã hội.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào thì vốn cũng là yếu tố không thể thiếu được
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh

 Tín dụng ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại. Do
nguồn tiền huy động được chủ yếu là nguồn ngắn hạn và sự phù hợp về thời
hạn giữa nguồn tiền và cho vay, nên ngân hàng chủ yếu cung cấp các khoản tín
dụng ngắn hạn. Trên thực tế chì tín dụng ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn
tuyệt đối, khoảng 70% tổng dư nợ tín dụng và đem lại phần lớn thu nhập cho
ngân hàng thương mại.
1.2. Hiệu quả tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.
Lê Hồng Phong Ngân hàng 45 B

11
1.2.1.Quan niệm về hiệu quả tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương
mại.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, tín dụng là
một nghiệp vụ mang lại phần lớn doanh lợi cho ngân hàng nhưng cũng là nơi
tiềm ẩn nhiều rủi ro có khả năng xảy ra với tỷ lệ cao. Hiệu quả hoạt động tín
dụng được thể hiện bởi chất lượng, quy mô và khả năng cạnh tranh trong hoạt
đông tín dụng. Vậy, hiệu quả tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của
khách phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại của ngân
hàng. Hiệu quả tín dụng được hình thành và đảm bảo từ hai phía là ngân hàng
và khách hàng, bởi vậy hiệu quả tín dụng của ngân hàng không những phụ
thuộc vào bản thân ngân hàng mà còn phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động kinh
doanh của khách hàng, ngoài ra tổ chức tín dụng còn chịu ảnh hưởng của môi
trường kinh tế xã hội.
Đối với tín dụng ngắn hạn, kì hạn chỉ không quá 12 tháng nên phải
phù hợp với mục đích sử dụng, đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, đầu
tư phát triển của khách hàng.Ngoài ra hiệu quả tín dụng ngắn hạn thể hiện ở
phạm vi, mức độ , giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực của
ngân hàng.
Như vậy, để một khoản vay có hiệu quả thì cần phải đặt ra những tiêu
chí để giám sát, lấy đó làm nền tảng để đánh giá cho các khoản vay sau này.

mỗi khách hàng vay của mình thật kỹ lưỡng để từng khoản vay có chất lượng.
Hiệu quả tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ
ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo ở mức tối thiểu và hợp lý.
Ngân hàng nên đặt khách hàng vào môi trường kinh doanh hiên tại của chính
các doanh nghiệp, để đánh giá xem họ có đang kinh doanh trong thị trường như
thế nào, những mặt hàng của doanh nghiệp sau khi sản xuất có khả năng tiêu
thụ hay không… tìm hiểu về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ
Lê Hồng Phong Ngân hàng 45 B

13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status