Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp Nhà nước tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta diễn ra dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được hơn hai mươi năm, bước đầu đem lại
những thành tựu đáng kể nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế nước ta
đã có những bước tăng trưởng cao, lạm phát được khống chế, sản xuất kinh
doanh được mở rộng, thu nhập dân cư được nâng cao và bước đầu có tích
luỹ. Ngành ngân hàng đã có những đóng góp to lớn vào thành tựu đó.
Hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá chung của cả
nước không thể không kể đến vai trò to lớn của các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN). Nghị quyết của Đảng ta đã khẳng định DNNN giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, là nòng cốt giúp Nhà
nước điều tiêts và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của DNNN sẽ ảnh hưởng trực tiếp và
mạnh mẽ đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tuy vậy, số vốn tự
có của các DNNN không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất kinh doanh
nên các DNNN phải sử dụng voón vay ngân hàng. Vốn vay ngân hàng
không những giúp các DNNN mở rộng được sản xuất kinh doanh mà còn
đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Song hiện nay,
hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng đối với thành phần kinh tế này chưa
cao. Vì vậy nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với các các DNNN
là một vấn đề bức xúc cần giải quyết và cũng chính là mối quan tâm hàng
đầu của các DNNN, các ngân hàng thương mại nói chung và của Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội (NHNo&PTNT HN)
nói riêng. Việc nghiên cứu thực trạng nhắm tìm ra nguyên nhân và cách
tháo gỡ là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, sau một thời gian thực tập tại
NHNo&PTNT HN với mong muốn áp dụng kiến thức nghiên cứu khoa học
vào thực tiễn góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, tôi đi sâu nghiên cứu đề
tài:
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
1

nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường,
hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực
lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô;
tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới.
Văn kiện Đại hội IX (2001) lại nêu: kinh tế nhà nước phát huy vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để
nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà
nước giữ những vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp
hành pháp luật.
Văn kiện Đại hội X (2006) một lần nữa khẳng định: “Kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định
hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các
thành phần kinh tế cùng phát triển.
Nhìn tổng quát từ sau Đại hội VII đến nay, quan niệm của Đảng ta về
kinh tế nhà nước và về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta đã có sự phát triển đáng kể. Hai điểm
nổi bật nhất là:
Một, do có sự phân biệt giữa sở hữu nhà nước với hình thức doanh
nghiệp nhà nước và cũng do có sự phân biệt giữa quyền chủ sở hữu với
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyền kinh doanh trong doanh nghiệp nhà nước mà chúng ta đã chuyển từ
khái niệm kinh tế quốc doanh sang khái niệm kinh tế nhà nước.
Hai, để tránh sự lẫn lộn trong nhận thức giữa vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế nhà nước với vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước, pháp
quyền xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta, Đảng ta đã khẳng định rõ
ràng rằng thành phần kinh tế nhà nước không lãnh đạo các thành phần kinh
tế khác mà là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều

với pháp nhân. Tín dụng dài hạn dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu
tư xây dựng xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và
mở rộng sản xuất có quy mô lớn ...
1.2.2.2.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng
Tín dụng chia làm 2 loại:
Tín dụng lưu động: là loại tín dụng được cấp để hình thành vốn lưu
động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động thường được sử dụng
để bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Loại tín dụng này thường
được chia thành: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho
vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu.
Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp để hình thành tài
sản cố định. Loại tín dụng này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố
định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các doanh
nghiệp và công trình mới. Thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là
trung và dài hạn.
1.2.2.2.3 Căn cứ theo mục đích tín dụng
Tín dụng sản xuất và kinh doanh: là loại tín dụng cấp cho nhà sản
xuất kinh doanh để tiến hành sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá.
Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng.
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cho vay đầu tư dự án: đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở
dự án sau khi đã được xem xét khẳng định tính hiệu quả và khả thi của dự
án.
Tín dụng thuê mua (Leasing): Ngân hàng thực hiện tín dụng thuê
mua là bỏ ra một khoản vốn để mua mới, để xây dựng mới hoặc mua và cải
tạo, sửa chữa và nâng cấp một loại tài sản cố định sẵn có, sau đó cho thuê
hoặc bán cho doanh nghiệp, tư nhân để sử dụng vào mục đích kinh doanh

bảo, nhiều cá nhân cũng được hưởng đặc quyền này. Những người có nhà
riêng, công ăn việc làm ổn định, trả nợ sòng phẳng thể hiện trên sổ sách theo
dõi thường được vay trên cơ sở đảm bảo
Tại Việt Nam hình thức cho vay không cần đảm bảo đã bắt đầu được
áp dụng và phát triển theo xu hướng khả quan nhưng những khách hàng cá
nhân chưa được ngân hàng chấp nhận cho vay theo hình thức này.
1.2.2.2.5 Căn cứ theo phương pháp hoàn trả
Các khoản cho vay của ngân hàng có thể được hoàn trả một lần hoặc
trả góp.
Cho vay trả một lần: là khoản cho vay hoàn trả toàn bộ một lần vào
thời gian đáo hạn cuối cùng.
Cho vay trả góp: là khoản cho vay hoàn trả theo định kỳ. Việc hoàn
trả có thể là hàng tháng, hàng quý, nửa năm hoặc hàng năm. Cho vay trả góp
được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt kỳ hạn thực hiện hợp
đồng. Nhờ vậy, việc hoàn trả không trở thành một gánh nặng lớn đối với
người vay như trong trường hợp toàn bộ khoản cho vay phải được trả một
lần
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.2.6 Các loại cho vay khác:
Ngoài các hình thức cho vay nêu trên, ngân hàng còn rất nhiều hình
thức tín dụng như: cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho
vay theo hạn tín dụng dự phòng, tín dụng chiết khấu thương phiếu, cho vay
luân chuyển, cho vay theo uỷ thác ...
1.2 Hiệu quả TDNN đối với DNNN của NHTM
1.2.1Quan niệm về hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với DNNN
1.2.1.1 Theo quan điểm của ngân hàng đối với DNNN
Trong nền kinh tế thị trường, đối với các ngân hàng, cho vay là hoạt
động kinh doanh chủ chốt để tạo ra lợi nhuận, cho vay thường chiếm 60%-

Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động
Tỷ lệ cho vay =
Dư nợ tích luỹ hết kỳ
Vốn huy động tích luỹ đến hết kỳ
Tỷ lệ này đánh giá khả năng tận dụng nguồn vốn của ngân hàng
trong hoạt động tín dụng. Tỉ lệ cho vay càng cao thì lượng vốn được đưa
vào sử dụng càng lớn. Ngược lại, nếu tỉ lệ cho vay thấp có nghĩa là ngân
hàng bị ứ đọng vốn hoặc chưa tận dụng hết nguồn vốn trong hoatj động tín
dụng tại ngân hàng mình.
Giá trị gia tăng được tạo ra từ việc sử dụng tín dụng của Ngân hàng
trên một đồng vốn đầu tư. Tỷ lệ tạo ra giá trị gia tăng của đồng vốn cho vay
được xác định như sau:
Tỷ lệ tạo giá trị gia tăng =
Tổng giá trị tăng tạo ra từ nguồn tín dụng
Tổng dư nợ
Tuy nhiên tỷ lệ này khó có thể xác định chính xác trong trường hợp sử
dụng nhiều nguồn vốn khác nhau vào sản xuất kinh doanh. Do đó tỷ lệ này
là một số tương đối tính theo phần trăm khoản tín dụng Ngân hàng so với
tổng nguồn vốn được đưa vào sử dụng. Tỉ lệ này càng lớn chứng tỏ hiệu
quả sử dụng vốn tín dụng ngân hàng càng cao.
1.2.2.1.2 Các chỉ tiêu về an toàn tín dụng và mức độ rủi ro
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng dư nợ quá hạn trong kỳ và tổng dư nợ quá hạn tích luỹ
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả tín dụng ngân hàng.
Nợ quá hạn càng cao rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn vì vậy ngân
hàng luôn tìm cách giảm số dư này.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn =

Dư nợ quá hạn đầu kỳ+ DS chuyển nợ quá hạn trong kỳ
1.2.2.1.3 Chỉ tiêu về doanh lợi
Tổng doanh thu của ngân hàng từ hoạt động tín dụng
Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động của ngân hàng và tỷ trọng thu
nhập từ hoạt động tín dụng
Các chỉ tiêu trên phản ánh thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín
dụng và tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng so với các hoạt động khác
của ngân hàng
Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của ngân hàng
Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế phản ánh kết quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
một cách tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Hiệu suất sinh lời
Hiệu suất sinh lời =
Thu lãi cho vay
Dư nợ
Chỉ tiêu hiệu suất sinh lời phản ánh khả năng sinh lời của đồng vốn tín
dụng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn tín dụng
càng lớn hay vốn tín dụng được sử dụng càng có hiệu quả.
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định tính
Nhiều tác động khác của các khoản tín dụng ngân hàng khó có thể
đánh giá được qua các chỉ tiêu định lượng mà chỉ có thể đánh giá định tính
như đổi mới cơ câú kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao trình
độ nghề nghiệp, tổng số việc làm tạo ra từ các dự án có thể sử dụng nguồn
vốn tín dụng, số lao động có việc làm nhờ việc sử dụng nguồn vốn tín dụng
để mở rộng tái sản xuất và sự mở rộng hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra,
bằng việc sử dụng chính sách tiền tệ, chính phủ đã có một công cụ hữu hiệu

triển kinh tế đất nước theo định hướng của Nhà nước.
1.2.3.2 Đối với DNNN
Nâng cao hiệu quả tín dụng sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất
kinh doanh, tăng lợi nhuận doanh nghiệp và tiếp tục được ngân hàng cấp
vốn với mức lãi suất ưu đãi hơn.
1.2.3.3. Đối với nền kinh tế xã hội
Nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng góp phần hoàn thành tốt các
mục tiêu kinh tế xã hội như ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát,
thay đổi cơ cấu và tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại
hoá, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm cho dân cư trong
cộng đồng...
Như vậy nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNNN CủA ngân hàng
có ý nghĩa to lớn đối với ngân hàng, đơn vị vay vốn và nền kinh tế xã hội.
Vì vậy việc củng cố nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng là sự cần thiết
khách quan nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của các ngân
hàng thương mại, của đơn vị vay vốn cũng như của cả nền kinh tế.
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với
DNNN
Hiệu quả tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố
bao gồm các nhân tố về phía ngân hàng, các nhân tố DNNN và các nhân tố
khách quan khác. Trong đó các nhân tố về phía ngân hàng, DNNN là cơ
bản, nó quyết định hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng, các nhân tố
khách quan quan trọng, nó hình thành môi trường pháp lý, môi trường hoạt
động của ngân hàng. Chính vì vậy, trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng
phải thường xuyên xác định, phân tích đánh giá các nhân tố tác động đến
hoạt động tín dụng của ngân hàng mình để từ đó đưa ra các chính sách tín
dụng hợp lý áp dụng cho điều kiện của ngân hàng trong hoàn cảnh nền kinh

huy động vốn. Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp lý do
chính trong việc tạo lập quan hệ tín dụng một cách có khoa học, có tính
linh hoạt trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tín dụng đã được quy định cả về
huy động cũng như cho vay, quản lý được cơ cấu tài sản, nguồn vốn của
ngân hàng. Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh. Do
hoạt động tín dụng có khả năng rủi ro lớn so với các loại hình kinh doanh
khác nên cần có sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa các phòng ban, bộ
phận trong từng ngân hàng, trong toàn hệ thống ngân hàng và giữa ngân
hàng với các ngân hàng khác. Thiết lập mối quan hệ giữa các bộ phận sẽ
tạo điều kiện cho quản lý có hiệu quả các khoản tín dụng, phát hiện và giải
quyết kịp thời các tình huống xảy ra.
Ba là, chất lượng nhân sự. Phẩm chất và trình độ cán bộ là yếu tố
quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng của ngân hàng.
Nghiệp vụ ngân hàng ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày
càng cao để có thể sử dụng các phương tiện hiện đại, phù hợp với sự phát
triển nghiệp vụ không ngừng. Người cán bộ tín dụng hơn bao giờ hết phải
có đạo đức tốt, trách nhiệm nghề nghiệp cao và đảm bảo về mặt chuyên
môn mới có thể xử lý các tình huống xảy ra, giúp ngân hàng ngăn ngừa
những sai phạm khi thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng.
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài ra, người cán bộ tín dụng phải có bản lĩnh, kinh nghiệm nghề
nghiệp. Chỉ có như vậy cán bộ tín dụng mới giải quyết tốt các khó khăn,
phức tạp của công việc, lĩnh vực mình phụ trách và hoàn thành công việc
được giao.
Bốn là, thông tin tín dụng. Nhờ có thông tin tín dụng, ngân hàng có
thể đưa ra các quyết định chính xác kịp thời đồng thời tìm biện pháp phòng
ngừa rủi ro và nâng cao hiệu quả tín dụng. Yêu cầu thông tin tín dụng phải
chính xác, đầy đủ, kịp thời. Để đạt được yêu cầu này, ngân hàng phải có

Có các dịch vụ phục vụ đa dạng chất lượng cao với chi phí hợp lý
Là phương tiện trợ giúp các nhà quản lý ngân hàng có thể nắm bắt
kịp thời tình hình hoạt động tín dụng để có những điều chỉnh phù hợp với
tình hình thực tế.
Cán bộ tín dụng làm việc trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị sẽ
làm cho năng suất lao động không cao, chất lượng phục vụ thấp do đó ảnh
hưởng nhiều đến hiệu quả tín dụng ngân hàng. Như vậy trang thiết bị cũng
là một nhân tố không thể thiếu trong việc nâng cao hiệu quả tín dụng.
1.3.2 Các nhân tố về phía DNNN:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN có ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả tín dụng ngân hàng. Hoạt động sản xuất kinh
doanh của khách hàng có hiệu quả làm cho doanh nghiệp tăng lợi
nhuận và khả năng trả nợ cho ngân hàng. Ngược lại, hoạt động sản
xuất kinh doanh của DNNN không có hiệu quả không những làm
cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ mà còn dẫn đến việc
không trả nợ được cho ngân hàng làm cho rủi ro mất vốn của ngân
hàng tăng lên.
Năng lực kinh doanh, trình độ quản lý và kinh nghiệm của đội ngũ cán
bộ điều hành. Điều này ảnh hưởng đến việc nhận định tình hình thực tế,
phân tích, tính toán các biến động của thị trường trong tương lai…khi lập
và thực thi phương án kinh doanh.
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
í thức độc lập tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN
vay vốn. Trong điều kiện có sự chuyển đổi cơ cấu quản lý kinh tế, rất nhiều
doanh nghiệp đang từng ngày từng giờ nỗ lực vượt qua khó khăn vươn lên
để tự khẳng định mình. Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn không ít doanh nghiệp
không theo kịp sự đổi mới, lúng túng trong kinh doanh và vẫn còn trông
chờ vào sự nâng đỡ của nhà nước.

một chu kỳ kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến mậu dịch và công nghiệp, xuât
nhập khẩu, mức công lao động nên nó ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng cho
việc mở rộng sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ tiêu dùng.
Hai là, chính sách kinh tế của Nhà nước ưu tiên hay hạn chế một
ngành nào đó để đảm bảo cân đối trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới
hiệu quả tín dụng. Những doanh nghiệp nằm trong diện ưu tiên của Nhà
nước sẽ được tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh
như ưu đãi về thuế, trợ giá sản phẩm… giúp cho doanh nghiệp kinh doanh
ổn định đảm bảo hiệu quả tín dụng. Ngược lại, đối với những doanh nghiệp
không nằm trong diện ưu tiên sẽ không nhận được sự giúp đỡ nào từ phía
Nhà nước khi doanh nghiệp gặp khó khăn. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả
tín dụng ngân hàng khi doanh nghiệp bị thua lỗ. Mặt khác hiệu quả tín
dụng cũng bị tác động bởi sự điều tiết của Chính phủ thông qua các chính
sách tiền tệ như chính sách lãi suất, chính sách điều hành tỷ giá hối đoái,
điều chỉnh năng động tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương
mại, điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng...Tất cả các chính sách này đều nhằm động viên mọi tiềm năng về vốn
trong nước, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng.
Ba là, nhân tố tiền đề kinh tế cho nền kinh tế thị trường: Trong nền
kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản xuất kinh
doanh chịu sự chi phối và điều tiết của thị trường. Nhờ đó, các hoạt động
sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trên cơ sở tận dụng
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kết hợp tối thiểu các yếu tố đầu vào để tạo ra tối đa sản phẩm. Yếu tố đầu
tiên phải tính toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh là yếu tố vốn, từ đó
nảy sinh nhu cầu hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường tiền tệ.
Những thị trường này tạo ra sự vận động linh hoạt của đồng vốn để thu
được hiệu quả kinh tế cao nhất cho việc sử dụng vốn.

Nhân tố pháp lý: Pháp luật tạo lập môi trường cho mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh tiến hành thuận tiện và đạt hiệu quả cao, là cơ sở pháp
lý giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra. Vì vậy nhân tố pháp lý có
vị trí hết sức quan trọng đối với hiệu quả tín dụng. Kinh doanh trong môi
trường pháp lý nghiêm minh, chặt chẽ sẽ tạo cho các doanh nghiệp vay vốn
một phong cách kinh doanh đúng đắn, trung thực từ đó nâng cao được hiệu
quả kinh doanh và hiệu quả tín dụng ngân hàng. Trái lại, kinh doanh trong
môi trường pháp lý lỏng lẻo dễ làm cho các doanh nghiệp vay vốn nảy sinh
những ý tưởng và hành vi tiêu cực theo kiểu kinh doanh chụp giựt, lừa đảo.
Điều này không những làm giảm hiệu quả tín dụng ngân hàng mà còn ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế chung của cả nước.
Nhân tố bất khả kháng: Nhân tố này có thể gây ra thất thoát tín dụng
ngân hàng. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có trường hợp khách hàng
bị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng hoảng kinh tế… và kể
cả do Nhà nước thay đổi cơ chế, chính sách. Do đó khách hàng không trả
được nợ và ngân hàng phải gánh chịu rủi ro này.
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II: HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1.Tổng quan về ngân hàng Nông nghiệp & phát triển Nông thôn Hà
Nội
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thành phố Hà Nội
được thành lập vào ngày 27/ 07/ 1988. Tên viết tắt là NHNo&PTNT HN.
Trụ sở đặt tại số 77 phố Lạc Trung quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
NHNo&PTNT HN gồm có 7 chi nhánh ngân hàng quận và một ngân hàng
cấp 4. Trong cơ quan có 8 phòng ban, mỗi phòng ban giữ một nhiệm vụ
riêng nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau hợp thành bộ máy hoàn

Tháng 10/1997 NHNo&PTNT HN bàn giao sự quản lý 5 ngân hàng
huyện về Ngân hàng Trung ương và chỉ còn lại NHNo&PTNT HN trên địa
bàn.
Sau đó, NHNo&PTNT HN thành lập các ngân hàng cấp quận.
Nhìn chung, được thành lập trong giai đoạn chuyển biến quan trọng
của nền kinh tế Việt Nam, trải qua hơn 10 năm hoạt động và trưởng thành,
NHNo&PTNT HN đã vượt qua rất nhiều khó khăn của chính mình góp
phần tích cực vào sự thành công của công cuộc đổi mới kinh tế đất nước,
dần đưa Việt Nam hội nhập với nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
NHNO&PTNT HN chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ NHNO&PTNT Việt
Nam và đã thực hiện mở chi nhánh ngân hàng tại 7 quận trên địa bàn Hà
Nội:
NHNO&PTNT quận Cầu Giấy
NHNO&PTNT quận Hai Bà Trưng
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
NHNO&PTNT quận Hoàn Kiếm
NHNO&PTNT quận Tây Hồ
NHNO&PTNT quận Thanh Xuân
NHNO&PTNT quận Ba Đình
NHNO&PTNT quận Đống Đa
Và NHNo&PTNT HN (là trung tâm giao dịch). Ngoài ra,
NHNo&PTNT HN còn có một ngân hàng cấp 4, đó là Ngân hàng khu vực
Tam Trinh.
Sơ đồ mô hình tổ chức của NHNo&PTNT HN:
2.1.3 Nhiệm vụ
NHNo&PTNT HN là một DNNN kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch
vụ ngân hàng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong

Tháng 9/1995 thực hiện chủ trương của nhà nước xoá bỏ cầu cấp
NHNo&PTNT HN bỏ phần chỉ đạo ngân hàng cấp huyện, tập trung vào
kinh doanh. Lúc này, NHNo&PTNT HN là một đơn vị kinh doanh thực sự
phục vụ các đơn vị kinh doanh nông nghiệp, vật tư nông nghiệp và các đơn
vị kinh doanh lương thực, các đơn vị chế biến thực phẩm.
Vốn của Ngân hàng Nông nghiệp đã thực sự góp phần thúc đẩy các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển và đứng vững trong cơ chế thị
trường, đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư,
diêm nghiệp và chế biến nông sản, NHNo&PTNT HN còn đẩy mạnh đầu
tư cho các hộ sản xuất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành nhằm giúp các
hộ có vốn phát triển sản xuất kinh doanh mở mang ngành nghề truyền
thống, thay đổi giống cây trồng vật nuôi, chuyển dịch giống cây trồng.
Ngoài ra cùng với các tổ chức đoàn thể, NHNo&PTNTTPHN đã góp phần
thực hiện tốt chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng nhà nước và thành
phố đề ra.
NHNo&PTNT HN đã tập trung vốn cho các hộ nghèo với lãi suất ưu
đãi mang lại hiệu quả thiết thực và tạo điều kiện cho các hộ nghèo có vốn,
tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống.
Mặt khác, NHNo&PTNT HN huy động vốn và cho vay nội - ngoại tệ,
cho vay các chương trình quốc tế, chương trình EC, cho vay tiêu dùng, làm
các dịch vụ chuyển tiền nhanh, cho vay cầm đồ...
2.1.4 Hoạt động huy động vốn
Nhận thức được huy động vốn là hoạt động quan trọng có tính chất
mở đường cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, NHNo&PTNT HN đã
chú trọng nhiều đến hoạt động huy động vốn và làm cho nó trở thành thế
mạnh của mình. NHNo&PTNT HN luôn là kênh huy động vốn lớn nhất, là
chi nhánh dẫn đầu trong hệ thống NHNo&PTNT tại Hà Nội về hoạt động
huy động vốn với nguồn vốn huy động dồi dào. Sau đây ta sẽ xem xét cơ
Doãn Nam Lớp: Ngân hàng 46A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status