Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính - Pdf 28

Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
CHƯƠNG TRÌNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH
Mục tiêu
1. Phân tích được các số liệu về tình hình mắc bệnh và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính (NKHHCT).
2. Liệt kê được nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây tử vong và mắc bệnh NKHHCT.
3. Thăm khám và đánh giá chuẩn, phân loại và xử trí đúng bệnh NKHHCT tại tuyến y tế
cơ sở.
1.Tầm quan trọng và định nghĩa NKHHCT
1.1. Tầm quan trọng của NKHHCT
NKHHCT là bệnh lý phổ biến ở trẻ em và gây tỉ lệ tử vong cao nhất so với các bệnh khác.
Các thông báo chính tại hội nghị quốc tế về chống NKHHCT cho biết hàng năm trên thế giới
có khoảng 4,3 triệu trẻ em < 5 tuổi chết vì NKHHCT trong đó chủ yếu do viêm phổi. Mỗi
năm một đứa trẻ bị 4-6 lần NKHHCT làm ảnh hưởng đến ngày công lao động của bố mẹ, là
gánh nặng đối với xã hội. Do NKHHCT có tầm quan trọng như vậy nên Tổ chức y tế thế giới
và Unicef đã đưa ra chương trình phòng chống bệnh NKHHCT với mục tiêu cụ thể là làm
giảm tỉ lệ tử vong do NKHHCT ở trẻ < 5 tuổi, cùng với mục tiêu lâu dài là làm giảm tỉ lệ mắc
bệnh và giảm tỉ lệ kháng kháng sinh.
1.2. Định nghĩa
NKHHCT bao gồm các nhiễm trùng ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, bao gồm mũi, tai,
họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phổi. Thời gian bị bệnh không quá 30
ngày, ngoại trừ viêm tai giữa cấp là 14 ngày.
2. Dịch tễ và nguyên nhân
Hàng năm đa số trẻ em bị mắc 4-6 lần NKHHCT, chiếm một phần lớn bệnh nhân đến khám
tại các cơ sở y tế. Tại hội nghị Tham khảo Quốc tế về chống NKHHCT lần thứ nhất tổ chức
tại Washington năm 1991, cho biết hàng năm trên thế giới có khoảng 4,3 triệu trẻ em <5 tuổi
đã chết vì NKHHCT trong đó chủ yếu do viêm phổi. Mười ngàn tử vong mỗi ngày chỉ do một
nguyên nhân. Chưa có bệnh nào làm trẻ chết nhiều như vậy, trong đó đáng chú ý là 90% số tử
vong này tập trung ở các nước đang phát triển. Đến tháng 7 năm 1997, hội nghị quốc tế của
TCYTTG tại Canberra đã tổng kết là tử vong do NKHHCT dưới chiếm 19% tử vong ở trẻ em
<5 tuổi. Sau đây là một vài con số thống kê:

Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Bảng 1: Số đợt NKHHCT hàng năm tại khu vực thành phố .
Nơi % trẻ
Ethiopia
Baghdad, Iraq
Sao Paulo, Brazil
London, UK
Herston, Australia
25.5
39.3
41.8
35.5
34.0
Bảng 2: Số trẻ em bị NKHHCT đến khám tại các phòng khám bệnh ngoại trú :
- Trong bệnh viện
Nơi % trẻ vào viện
Dhaka, Bangladesh
Rangoon, Myanmar
Islamabad, Pakistan
Nadola, Zambia
Khoa Nhi, BV Huế
35.8
31.5
33.6
34.0
25.31
Bảng 3: Số trẻ em bị NKHHCT đến điều trị tại bệnh viện:
2.1.2.Tình hình tử vong
Trong hội nghị Washington, 1991, đã thông báo số liệu sau đây của Wafula, về tử vong hàng
năm trong 1000 trẻ đẻ sống :

2.1.4. Tỷ lệ mới mắc và gánh nặng của NKHHCT đối với xã hội
- Ở thành phố : 5 - 6 đợt NKHHCT/trẻ/năm. Ở nông thôn : 3 - 5 đợt (Việt Nam : 1,6 đợt).
- Tỷ lệ mới mắc NKHHCT giống nhau ở các nước đã và đang phát triển.
- Bệnh NKHHCT hiện nay phổ biến vì: Bệnh cấp ở trẻ em, số lượng đến khám bệnh đông, số
lượng điều trị tại bệnh viện đông.
Như vậy NKHHCT là gánh nặng cho xã hội vì:
+ Tỉ lệ mắc bệnh và tử vong cao. + Chi phí tốn kém cho điều trị.
+ Ảnh hưởng ngày công lao động của bố mẹ.
2.2.Tình hình viêm phổi
2.2.1. Trên thế giới
Nơi Tỷ lệ mới mắc viêm phổi hàng năm/100
trẻ
Chapel Hill, USA
Seattle, USA
3.6
3.0
Bangkok, Thailand
Gadchirol, India
Basse, Gambia
Maragua, Kenya
7.0
13.0
17.0
18.0
Bảng 5: Số đợt viêm phổi hàng năm ở trẻ dưới 5 tuổi :
2.2.2.Ở nước ta
- Viêm phổi chiếm khoảng 33% trong tổng số tử vong ở trẻ nhỏ do mọi nguyên nhân.
- Khoảng 2,8/1000 số trẻ chết là do viêm phổi.
- Với 7 triệu trẻ dưới 5 tuổi trong cả nước, ước tính số chết do viêm phổi không dưới
20.000/năm.

- Biết lúc nào cần đem con đến cơ sở y tế.
- Biết lợi ích của việc tiêm phòng.
- Biết lợi ích của sữa mẹ.
- Biết tác hại của khói, bụi.
2.5.3.Tổ chức tốt việc tiêm phòng 6 bệnh cho trẻ em (xem bài tiêm chủng mở rộng)
2.5.4.Nâng cao dinh dưỡng, tránh các yếu tố làm tăng nguy cơ NKHHCT.
3. Đánh giá, phân loại và xử trí NKHHCT:
NKHHCT có thể có nhiều dấu hiệu và triệu chứng khác nhau bao gồm : Ho, khó thở, đau
họng, chảy mũi nước, đau tai, chảy mủ tai và sốt. Sốt là triệu chứng phổ biến trong
NKHHCT. May mắn là đa số các trẻ em bị NKHHCT nhẹ như cảm lạnh, hoặc viêm phế quản.
Những trẻ như vậy không bị ốm nặng và có thể được gia đình chữa ở nhà mà không cần dùng
kháng sinh. Tuy vậy một ít trẻ bị viêm phổi nếu không được dùng kháng sinh sẽ có thể chết vì
thiếu oxy hoặc do nhiễm khuẩn huyết. Khoảng 1/4 trẻ <5 tuổi chết ở các nước đang phát triển
là do viêm phổi .
Như vậy điều trị trẻ bị viêm phổi sẽ có thể làm giảm rất nhiều số tử vong ở trẻ em. Để được
như vậy người cán bộ y tế phải có khả năng thực hiện một nhiệm vụ khó khăn là xác định
được một số ít trẻ bị ốm rất nặng trong số trẻ bị NKHHCT mà hầu hết là nhẹ.
3.1. Đánh giá
Đánh giá là tìm các thông tin về bệnh của đứa trẻ bằng cách hỏi người mẹû, nhìn và nghe.
3.1.1. Hỏi
- Trẻ bao nhiêu tuổi ?
- Trẻ có ho không ? Ho từ bao lâu rồi ?
- Đối với trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi : hỏi trẻ có uống nước được không ?
- Đối với trẻ < 2tháng tuổi : hỏi trẻ có bú kém không ?
- Trẻ có sốt không ? Sốt từ bao giờ ?
- Trẻ có co giật không ?
3.1.2.Nhìn, nghe
59
Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
- Đếm số lần thở trong một phút .

rút lõm ở trẻ nhỏ <2 tháng tuổi . Bình thường ở trẻ này cũng có dấu rút lõm lồng ngực nhẹ vì
xương thành ngực mềm, mỏng. Do đó ở lứa tuổi này gọi là có dấu rút lõm khi dấu này sâu và
dễ thấy . Dấu rút lõm lồng ngực chỉ có ý nghĩa khi nhìn thấy liên tục và rõ ràng, nếu chỉ thấy
lúc trẻ đang khóc hoặc đang bú thì không phải có dấu rút lõm.
- Tiếng thở rít
Tiếng thở rít là một tiếng thở thô ráp tạo ra khi trẻ hít vào. Muốn nghe rõ tiếng này phải để sát
tai vào miệng của bệnh nhân . Thở rít xảy ra khi có hẹp thanh quản, khí quản hoặc nắp thanh
quản làm cản trở không khí vào phổi. Thông thường một trẻ không ốm nặng sẽ chỉ thở rít khi
kêu khóc hoặc giãy dụa,cho nên phải nghe tiếng thở rít khi trẻ nằm yên.
- Tiếng sò sè
Tiếng sò sè là một tiếng êm dịu như tiếng nhạc nghe được ở thì thở ra .Muốn nghe rõ tiếng
này cũng phải để sát tai vào miệng bệnh nhân. Thở sò sè xảy ra khi hẹp đường dẫn khí ở phổi,
thì thở ra sẽ kéo dài hơn bình thường và đòi hỏi trẻ phải cố gắng thở. Một trẻ được gọi là “ thở
sò sè tái diễn “ phải có hơn một đợt bị sò sè trong vòng 12 tháng.
- Ngủ li bì khó đánh thức
60


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status