BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀIGiáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Bùi Xuân Hải
Nhóm : 5
Lớp – Khóa : Đêm 4 – Khóa 22
1. Trần Trí Đức
2. Đặng Thụy Thanh Lan
3. Trần Thị Hùynh Như
4. Vương Thị Thanh Quy
5. Phạm Thị Phương Thảo
6. Lê Thị Yến
1
NĂM 2013
MỤC LỤC
Nội dung Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
A. BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU
KIỆN KINH DOANH Ở VIỆT NAM – ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
2
I. NHỮNG QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH Ở VIỆT
NAM NÓI CHUNG
2
1.1. Các văn bản quy phạm pháp luật về thành lập và đăng ký doanh nghiệp
2
1.2. Các khái niệm
2
5
II. BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU
KIỆN KINH DOANH Ở VIỆT NAM
5
2.1. Thực trạng điều kiện kinh doanh ở Việt Nam
5
2.1.1.Về giấy phép kinh doanh
6
2.1.2.Về vốn pháp định
7
2.1.2.1. Vị trí và vai trò của vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp các nước
7
2.1.2.2. Vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam – Những điểm
tương đồng và khác biệt với thế giới
8
2.1.3. Về các điều kiện kinh doanh khác
10
3
2.2. Đánh giá qui định pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam
11
2.2 1 Tính thống nhất
11
2.2 2 Tính minh bạch – rõ ràng
12
2.2 3 Tính hợp lý
15
2.2 4 Tính khả thi
16
1.1. Điều kiện kinh doanh đối với TCTD
22
1.2. Vai trò của cấp phép ngân hàng
22
1.3. Về thực hiện cấp phép ngân hàng tại Việt Nam
22
1.3.1. Thẩm quyền cấp phép ngân hàng
22
1.3.2.Quy trình, thủ tục cấp phép
22
1.3.3.Điều kiện cấp phép
23
1.3.3.1. Mức vốn pháp định của TCTD
23
1.3.3.2. Tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, người điều hành và một số
chức danh khác của TCTD
24
1.3.3.3. Các điều kiện khác tại Mục 2 Thông tư số 40/2011/TT-NHNN ngày
15/12/2011
26
1.3.3.4. Tỷ lệ sở hữu cổ phần
26
1.3.3.5. Phạm vi hoạt động được phép của TCTD
5
26
35
2.5.2 Về cơ chế xác định phí, lãi suất của TCTD (Điều 91)
6
36
2.5.3 Về yêu cầu ban hành quy định nội bộ (Điều 93)
36
2.5.4 Về góp vốn, mua cổ phần của NHTM (Điều 103)
36
2.5.5 Về kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối, sản phẩm phái sinh của NHTM
(Điều 105)
37
2.5.6 Về phạm vi hoạt động của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính
38
KẾT LUẬN
39
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình thành lập doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân cần hết sức chú ý các
điều kiện để hành nghề, một số ngành nghề đăng ký kinh doanh pháp luật yêu cầu người
đứng đầu doanh nghiệp hoặc người phụ trách chuyên môn cần phải có chứng chỉ hành nghề,
một số ngành nghề kinh doanh pháp luật lại yêu cầu doanh nghiệp phải có vốn pháp định mới
được thành lập và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Các quy định này nằm trong các quy
định của rất nhiều luật và nghị định khác nhau. Chính vì vậy đã làm cho người muốn tham
gia kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn và thời gian khi muốn tham gia vào các lĩnh vực kinh
doanh có điều kiện. Đặc biệt là các tổ chức tín dụng – tổ chức tài chính trung gian – có ảnh
hưởng quan trọng đến nền kinh tế nước ta. Các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong 01 thời
hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty.
1.6. Điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp
Theo qui định tại Khoản 2 Điều 7 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày
29/11/2005: “Đối với ngành, nghề mà pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan quy định
phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề đó khi có đủ điều kiện
theo quy định.
Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi
kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.”
Theo qui định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010,
“Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức:
- Giấy phép kinh doanh;
- Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;
- Chứng chỉ hành nghề;
- Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp;
- Xác nhận vốn pháp định;
- Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
9
- Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh
doanh ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.”
1.3.8. Giấy phép kinh doanh (GPKD)
Giấy phép kinh doanh là một loại văn bản mang tính chất pháp lý do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp, cho phép hoặc đồng ý để một chủ thể kinh doanh (cá nhân hoặc tổ
chức) tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh nhất định.
Chức năng: Thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước chủ động trong việc hạn chế và
điều tiết những ngành nghề SXKD không có lợi cho cộng đồng, không cần khuyến khích.
Đồng thời, là công cụ can thiệp nhanh, mạnh vào việc điều tiết phát triển các ngành nghề
hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan (Phụ
lục Một số ngành cần có chứng chỉ hành nghề khi đăng ký kinh doanh đính kèm – Nguồn: Sở
Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM).
Chức năng:
- Nhằm bảo đảm năng lực tối thiểu của người quản lý, người tự chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp, và để quản lý, giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề
nghiệp của những người hành nghề.
- Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề và điều kiện cấp chứng chỉ
hành nghề tương ứng áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan. Trong
đó có thể kể đến một số nhóm ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề trước khi đăng ký
kinh doanh.
1.3.11. Vốn pháp định:
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập
doanh nghiệp.
Ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, mức vốn pháp định cụ thể, cơ quan
có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận
vốn pháp định, hồ sơ, điều kiện và cách thức xác nhận vốn pháp định áp dụng theo các quy
định của pháp luật chuyên ngành
Đối với đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có
vốn pháp định, trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có thêm xác nhận của cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định. Người trực tiếp xác nhận vốn pháp định cùng
liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số vốn tại thời điểm xác nhận.
11
Chức năng: Bảo vệ lợi ích của công đồng, chủ yếu đối với các ngành nhạy cảm, sự
biến động tài chính gây tác động lớn đối với xã hội
1.3.12. Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp: bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của ngưòi được
bảo hiểm phát sinh do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp.
- Gắn với đặc tính của các lĩnh vực hoạt động chuyên môn khác nhau, các sản phẩm bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp rất đa dạng như: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiến trúc sư,
Theo báo cáo thống kê “Ngành nghề kinh doanh có điều kiện: Một số kết quả rà soát
ban đầu”của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện năm 2008, đã tập hợp
được khoảng gần 400 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh
tương ứng.
- Phân chia theo ngành:
Bưu chính viễn thông: 20; Nông nghiệp và phát triển nông thôn:37; Tài nguyên môi
trường: 45; Tư pháp: 13; Văn hóa thông tin: 42; Xây dựng: 32; An ninh trật tự: 8; Công
thương: 37; Giáo dục đào tạo: 1; Lao động thương binh xã hội: 6; Ngân hàng, tài chính: 53; Y
tế: 47; Giao thông vận tải:36
- Phân chia theo lĩnh vực:
Kinh doanh-dịch vụ: 250; Sản xuất-chế biến: 33; Khai khoáng: 15; Xuất nhập khẩu: 21;
Khác: 66.
- Số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện có xu hướng tăng nhanh từ năm 2000
trở lại đây.
NĐ 11/1999 chỉ quy định: 10 loại cấm; 5 loại hạn chế; 14 loại kinh doanh có điều
kiện so với NĐ 59/2006 quy định 23 loại cấm; 8 loại hạn chế; 92 loại có điều kiện
Thống kế đến năm 2008: Việt Nam có hơn 300 loại giấy phép; gần 400 ngành nghề
kinh doanh có điều kiện, tập chung chủ yếu trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ; sau đó, sản
xuất, chế biến; khai khoáng; các ngành khác.
2.1.4. Về giấy phép kinh doanh:
- Đối với những ngành kinh doanh có điều kiện, hệ thống giấy phép kinh doanh là
những loại giấy tờ cần thiết bên cạnh “Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” mà thiếu nó,
doanh nghiệp không thể tiến hành hoạt động được. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay tại Việt
Nam đang có hơn 300 loại giấy phép kinh doanh do các Bộ, Ngành ban hành đang có hiệu
lực; ngoài ra con số các giấy phép kinh doanh do các địa phương (cấp Tỉnh, Thành phố, thậm
chí cấp Quận, Huyện ) ban hành thì khó có thể thống kê chính xác.
- Số lượng giấy phép kinh doanh có xu hướng tăng nhanh từ năm 2000 trở lại đây.
13
+ Trước năm 2000, theo ước tính có khoảng 500 GPKD tất cả.
+ Năm 2000 Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg và Nghị định 30/2000/NĐ-CP ra đời
ban hành tùy tiện, thiếu trách nhiệm ngay từ khâu soạn thảo. Trong đó, mục đích hồ sơ, thủ
tục, thẩm quyền, trách nhiệm, điều kiện cấp phép, thời hạn cấp phép…chưa rõ ràng, cụ thể.
Hệ thống giấy phép kinh doanh đang bất cập, cứng nhắc đã góp phần làm tăng chi phí giao
dịch, giảm sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh quốc gia, hạn chế
quyền tự do kinh doanh của người dân, gây tốn kém chi phí, phiền hà khó khăn cho doanh
nghiệp. Những điều đó góp phần làm xấu đi môi trường đầu tư kinh doanh và tạo cơ hội cho
tham nhũng phát triển.
2.1.5. Về vốn pháp định:
Vốn có vai trò cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào trên thế giới khi ra
thương trường.
2.1.2.3. Vị trí và vai trò của vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp các nước.
Có thể nói, vốn là yêu cầu quan trọng hàng đầu để nhà đầu tư gia nhập thị trường mà
các quốc gia đang phát triển kinh tế thị trường không thể không quan tâm. Tuy nhiên, điều
đặt ra là ngưỡng vốn tối thiểu bao nhiêu để cho phép nhà đầu tư gia nhập thị trường lại là một
vấn đề không đơn giản mà pháp luật doanh nghiệp nhiều nước phải cân nhắc để có những
điều chỉnh cho phù hợp. Vì thế, vốn pháp khi thành lập doanh nghiệp đã trở thành một trong
những nội dung cơ bản của pháp luật doanh nghiệp ở nhiều nước.
Ở Việt Nam, quy định về vốn pháp định có quá trình hình thành và phát triển hơn 20
năm từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế thị trường. Dù trải qua những giai đoạn thăng trầm nhất
định nhưng vốn pháp định vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật doanh nghiệp Việt
Nam suốt từ năm 1990 cho đến nay. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào kinh tế
quốc tế cùng với tiến trình cải cách thủ tục hành chính đang diễn ra hết sức mạnh mẽ thì việc
nhìn nhận và đánh giá lại pháp luật điều chỉnh vốn pháp định ở Việt Nam trong tương quan
với quy định vốn pháp định ở các nền kinh tế khác trên thế giới lại có ý nghĩa hơn bao giờ
hết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà những vấn đề về vốn pháp định cho hoạt động
của doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản
ở Việt Nam vẫn còn đọng lại nhiều vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải nhanh chóng và hoàn
thiện trong thời gian sớm nhất để tạo ra sự ổn định cho kinh tế nước nhà phát triển bền vững,
thoát ra thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế mà Việt Nam đang phải nếm trải suốt từ
năm 2008 đến nay.
+ Sau này khi Luật Doanh nghiệp 2005 được ban hành thì vốn pháp định tiếp tục áp
dụng cho một số ngành, nghề như: kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê, kinh doanh dịch
vụ bảo vệ, kinh doanh vận chuyển hàng không, kinh doanh cảng hàng không, kinh doanh cung
cấp dịch vụ hàng không, kinh doanh sản xuất phim, kinh doanh Sở giao dịch hàng hoá và kinh
doanh dịch vụ kiểm toán độc lập. Chẳng hạn, để kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê thì phải có ít
nhất là 2 tỷ VND, kinh doanh bất động sản thì phải có vốn tối thiểu là 6 tỷ VND,
16
Trong khi đó, ở nhiều nước, vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp họ lại có cách
tiếp cận khác, đó là quy định vốn pháp định áp dụng theo từng loại hình doanh nghiệp, hoặc
một mức thống nhất cho doanh nghiệp, chứ không áp dụng theo từng ngành, nghề kinh doanh
cụ thể như tại Việt Nam và Lào. Điều này được thể hiện qua các dẫn chứng sau:
+ Ở Phần Lan, vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp mà quốc gia này quy định
chung là 2.500 euro.
+ Ở Indonesia, để thành lập công ty TNHH thì họ bắt buộc NĐT phải có ít nhất 50
triệu rupiah.
+ Ở Hàn Quốc, một công ty cổ phần trong lĩnh vực đầu tư phải có vốn tối thiểu 1 tỷ
won, còn trong lĩnh vực thương mại thì vốn pháp định đối với một công ty TNHH là 10 triệu
won, trong đó giá trị mỗi phần vốn góp ít nhất là 5.000 won, còn đối công ty cổ phần là 50
triệu won và giá trị danh nghĩa của mỗi cổ phiếu thấp nhất là 100 won.
+ Ở Trung Quốc, để thành lập công ty TNHH một thành viên phải có vốn pháp định
là 100.000 yuan, đối với công ty cổ phần là 5.000.000 yuan, còn đối với công ty TNHH hai
thành viên là 30.000 yuan.
+ Ở Đức, thành lập công ty TNHH thì họ quy định phải có tối thiểu 25.000 euro,
công ty cổ phần là 50.000 euro.
+ Ở Anh Quốc, thành lập công ty cổ phần thì phải có tối thiểu 50.000 euro và ít nhất
¼ trong số đó phải được thành toán đủ khi thành lập.
+ Ở Pháp, để thành lập công ty hợp danh hữu hạn (Société à responsabilité limitée -
SARL) thì phải có vốn tối thiểu là 7.500 euro, còn nếu thành lập công ty cổ phần (La Société
Anonyme) thì phải có ít nhất 37.000 euro.
là so với nhiều nước trên thế giới thì vốn pháp định ở Việt Nam không có tính ổn định cao
bằng, đó là điều tất yếu.
- Thứ ba, trong khi hầu hết các nước trên thế giới đang có xu hướng giảm bớt vai trò và
ảnh hưởng của vốn pháp định đối với doanh nghiệp thì ở Việt Nam vốn pháp định lại đang có
chiều hướng gia tăng trở lại trong nhiều ngành nghề
Nếu như vào thời điểm năm 2003, cả nước chỉ có khoảng 3-4 ngành, nghề kinh doanh
phải có vốn pháp định, thì tại thời điểm hiện nay, số lượng ngành, nghề kinh doanh phải có
vốn pháp định đã tăng từ 5-6 lần so với thời điểm năm 2003 và chưa có dấu hiệu dừng lại
trong thời gian tới. Nếu như vào thời điểm năm 2003, cả nước chỉ có khoảng 3-4 ngành, nghề
kinh doanh phải có vốn pháp định, thì tại thời điểm năm 2011, số lượng ngành, nghề kinh
doanh phải có vốn pháp định đã tăng từ 5-6 lần so với thời điểm năm 2003 và chưa có dấu
hiệu dừng lại trong thời gian tới. Sự gia tăng các ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp
định ở Việt Nam cũng gây nhiều lo ngại cho doanh nghiệp và đi ngược lại tiến trình cải cách
thủ tục hành chính mà Nhà nước Việt Nam đang tiến hành. Thậm chí, trong một số trường
hợp vốn pháp định ở Việt Nam còn được sử dụng để tạo lực cản cho nhà đầu tư gia nhập thị
trường, đây là điều mà hiếm khi xuất hiện trong pháp luật doanh nghiệp các nước khác.
18
Thực tiễn này đã đặt các nhà hoạch định chính sách pháp luật liên quan đến doanh nghiệp
ở Việt Nam phải xem xét, đánh giá lại quy định vốn pháp định để chúng thực sự phát huy
được hiệu quả trên thực tế chứ không phải là rào cản cho quyền tự do kinh doanh của người
dân như dẫn chứng trên đã phân tích.
2.1.6. Về các điều kiện kinh doanh khác:
- Hiện tại tại Việt Nam chứng chỉ hành nghề còn những hạn chế và ảnh hướng xấu đến
môi trường kinh doanh. Chứng chỉ hành nghề nên do hội nghề nghiệp cấp cho tất cả những
người hành nghề để quản lý, giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của họ, chứ không
phải do đào tạo và thi tuyển. Có rất nhiều nhân viên có hàng chục năm công tác nhưng không
được hành nghề vì chưa tham gia học và “thi tuyển” để được cấp chứng chỉ hành nghề. Do
đó, những vi phạm về đạo đức nghề nghiệp, sự lạc hậu về trình độ chuyên môn của người
hành nghề đã và đang xảy ra một cách phổ biến. Chứng chỉ hành nghề đã và đang trở thành
một rào cản lớn đối với công dân khi gia nhập thị trường nói riêng và cả môi trường kinh
định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc quyết định có liên quan của Thủ
tướng Chính phủ (sau đây gọi chung là pháp luật chuyên ngành).
Các quy định về loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh
đối với ngành, nghề đó tại các văn bản quy phạm pháp luật khác ngoài các loại văn bản quy
phạm pháp luật đã nêu tại khoản 1 Điều này đều không có hiệu lực thi hành.”
Như vậy, một ngành nghề kinh doanh có điều kiện được coi là “hợp pháp” chỉ khi cả
Tên ngành nghề và các điều kiện kinh doanh tương ứng của ngành, nghề đó được quy
định tại luật, pháp lệnh, nghị định hoặc quyết định của Thủ Tướng. Các ngành nghề và điều
kiện kinh doanh khác là không hợp pháp
- Căn cứ vào các quy định Luật Doanh nghiệp 2005, trong khoảng 400 ngành nghề kinh
doanh có điều kiện, thì có khoảng 50 ngành nghề kinh doanh có điều kiện không đủ tính hợp
pháp. Đây là những ngành nghề mà cả tên ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh doanh
được quy định tại Thông tư của Bộ và/hoặc Quyết định của Bộ trưởng.
- Ngành nghề kinh doanh mà điều kiện kinh doanh “thể hiện bằng giấy phép”. Mặc dù
tên giấy phép được đề cập trong luật, pháp lệnh, nghị định; nhưng không quy định điều
kiện/tiêu chí cấp phép; việc cấp phép sau đó được hướng dẫn bằng Quyết định của Bộ
trưởng hoặc Thông tư: Ví dụ - Một số hoạt động cung cấp dịch vụ kết nối Internet (ISP,
IXP, );
- Luật, pháp lệnh không quy định thành điều kiện kinh doanh, nhưng nghị định và QĐ
hoặc thông tư lại hướng dẫn thành ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo hướng bó hẹp
lại – Ví dụ: Xác nhận đăng ký đại lý dịch vụ chuyển phát thư - Pháp lệnh chỉ quy định hợp
đồng đại lý phải lập thành văn bản; sau đó NĐ hướng dẫn quy định phải đăng ký. Nhưng TT
20
hướng dẫn việc đăng ký thành việc “nộp hồ sơ, thẩm tra hồ sơ và cấp giấy xác nhận đăng ký
hợp đồng. Hoặc Giấy phép cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông cấp cho
OSP viễn thông. Ví dụ như hoạt động in xuất bản phẩm, luật chỉ yêu cầu “có thiết bị để in
xuất bản phẩm”. Nhưng nghị định cụ thể hoá yêu cầu “phải có dây chuyền thiết bị in và gia
công sau in”. Thông tư cụ thể hoá thêm bằng yêu cầu cơ sở phải có đủ các thiết bị in và gia
công sau in, gồm máy in, máy xén, máy gấp, máy đóng sách
- Quy định của Luật, pháp lệnh hoặc nghị định rất chung chung, sau đó các Bộ quy
24/2003/NĐ-CP, đa số các điều kiện khác được quy định tại Thông tư 43/2003/TT-BVHTT
và Thông tư 79/2005/TT-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin);
+ Giấy phép có căn cứ pháp lý rất mơ hồ (các điều kiện kinh doanh đại lý Internet quy
định tại Thông tư liên tịch 02/2005/TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHĐT dựa trên một căn cứ duy
nhất là quy định “Đại lý Internet có trách nhiệm thực hiện các quy định về quản lý dịch vụ
Internet do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành” trong Nghị định 55/2001/NĐ-CP).
Nếu các doanh nghiệp đều biết rằng các giấy phép không có căn cứ pháp lý đều
không có giá trị thi hành, rằng họ không có nghĩa vụ phải xin các giấy phép này, rằng họ có
thể khiếu nại/tố cáo các cơ quan liên quan và thậm chí có thể yêu cầu tòa án bảo vệ quyền
không cần xin các giấy phép này thì có lẽ tình hình giấy phép kinh doanh ở Việt Nam sẽ có
được sự thay đổi căn bản ngay cả khi chưa có những điều chỉnh cụ thể của các cơ quan lập
pháp, lập quy.
- Kết quả rà soát của Bộ kế hoạch và đầu tư (CIEM), theo dự án GTZ cho thấy:
Về cơ bản thể hiện sự không rõ ràng, hợp lý của các quy định về giấy phép kinh
doanh (báo cáo CIEM-GTZ), cụ thể:
+ Đối tượng áp dụng:
Đối tượng áp dụng thường được quy định chung chung là “cá nhân, tổ chức” hoặc
“doanh nghiệp”; Với quy định như vậy, không rõ quy định đó áp dụng như thế nào đối với
đối tượng là hộ kinh doanh cá thể; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài! Rất ít trường
hợp có phân định rõ đối tượng áp dụng là bao gồm những loại doanh nghiệp nào (ví dụ, kinh
doanh vận tải đa phương thức).
+ Các điều kiện kinh doanh cụ thể:
Đây là một nội dung quan trọng nhất trong quy định về ngành nghề kinh doanh có
điều kiện, nhưng cũng là nội dung thiếu rõ ràng, hợp lý, thể hiện.
Nhiều trường hợp, thiếu quy định về điều kiện kinh doanh: Ví dụ, thử nghiệm
mạng và dịch vụ viễn thông; thử nghiệm dịch vụ chuyển phát thư (nghị định chỉ quy định:
”Bộ bưu chính viễn thông quyết định trường hợp thử nghiệm dịch vụ chuyển phát thư trước
khi cấp giấy phép).
Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định tại Quyết định hoặc thông
tư của các Bộ.
Yêu cầu phải có 5 nhân viên, trình độ ít nhất là cao đẳng? Là không thực tế và
bất hợp lý. 5 người có là quá nhiều không? Tại sao phải là cao đẳng? Tại sao phải là
23
người tốt nghiệp trong ngành luật, ngoại ngữ, kinh tế? Ngoại ngữ là là tiếng Anh,
Pháp, hay Tây Ban Nha?
Điều kiện kinh doanh được quy định trong các văn bản hướng dẫn có xu
hướng bổ sung thêm điều kiện, theo hướng khắt khe hơn, khó thực hiện hơn: Ví dụ: hoạt
động in xuất bản phẩm:
Luật chỉ yêu cầu “có thiết bị để in xuất bản phẩm”
Nghị định cụ thể hoá yêu cầu này bằng “phải có dây chuyền thiết bị in và gia công sau
in”
Thông tư, sau đó tiếp tục cụ thể hoá bằng yêu cầu cơ sở in phải có đủ các thiết bị in và
gia công sau in, bao gồm: máy in, máy xén, máy gấp và máy đóng sách (khâu thép liên hợp
hoặc vào bìa)
Hoặc, “đăng ký cam kết bảo vệ môi trường” được hướng dẫn thành “xác nhận đăng
ký cam kết BVMT” giống như một giấy phép.
Nhiều trường hợp, việc đáp ứng các điều kiện kinh doanh cụ thể phải thực
hiện các thủ tục hành chính khác để xin giấy phép hoặc ý kiến phê duyệt khác. Sau đó, tiếp
tục xin một giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì mới có thể tiến hành kinh doanh.
Ví dụ, các trường hợp kinh doanh có điều kiện thể hiện bằng giấy phép hoặc giấy chứng
nhận đủ điều kiện kinh doanh (kinh doanh xăng dầu, )
Tiêu chí để cơ quan hành chính cấp phép hoặc từ chối cấp phép đôi khi chưa
rõ ràng. Ví dụ như việc xin giấy phép khai thác mỏ, doanh nghiệp phải xin ý kiến rất nhiều
cơ quan và phải hoàn thiện nhiều thủ tục thẩm định cấp phép không rõ ràng. Để có được
giấy phép khai thác mỏ, trước hết doanh nghiệp phải xin ý kiến hai cơ quan quốc phòng và
du lịch, sau đó doanh nghiệp phải thỏa thuận với UBND xã nơi có mỏ để xin chấp thuận về
nguyên tắc. Tiếp đó doanh nghiệp phải lên UBND huyện để xin huyện chấp thuận ý kiến của
xã, sau đó huyện sẽ có công văn gửi lên Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) của tỉnh.
Sở TN&MT giao cho Phòng Quản lí Khoáng sản xuống kiểm tra thực địa, trên cơ sở kết
luận của khảo sát, Sở TN&MT sẽ làm công văn đề nghị UBND tỉnh ký quyết định chấp
- Thường lấy đối tượng quản lý làm mục đích - quản lý cái gì?; chứ không phải là mục
đích - phải quản lý để làm gì?, ví dụ hoạt động quảng cáo.
Mục đích của giấy phép phải hướng tới việc bảo vệ một hoặc một số lợi ích công
cộng nhất định (ví dụ an ninh quốc phòng, trật tự xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường );
đa số giấy phép được xem là có vấn đề về tính cần thiết:
+ Điều kiện cấp phép không liên quan đến lợi ích công cộng cần bảo vệ (ví dụ, các
điều kiện để được cấpgiấy xác nhận đủ điều kiện về an toàn trật tự đối với ngành nghề khắc
dấu bao gồm cả các điều kiện về an toàn phòng cháy chữa cháy, phòng nổ, phòng độc, vệ
25