1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**********
Phạm Diệu Linh
ĐẶC ĐIỂM QUẶNG HÓA VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC
KHỐNG CHẾ QUẶNG CHÌ KẼM VÙNG CHỢ ĐỒN – CHỢ ĐIỀN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
2
CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.1 Phạm vi và đặc điểm khu vực nghiên cứu 8
1.2 Đặc điểm địa chất vùng nghiên cứu 10
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu địa chất và khoáng sản 10
1.2.2 Địa tầng 13
1.2.3 Các thành tạo magma 16
1.2.4 Cấu trúc – kiến tạo 17
1.2.5 Khoáng sản 19
1.3 Đối tượng nghiên cứu 21
1.4 Phương pháp nghiên cứu 21
1.5 Một số khái niệm được sử dụng 23
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC YẾU TỐ KHỐNG CHẾ QUẶNG KHU VỰC
CHỢ ĐỒN – CHỢ ĐIỀN 27
2.1 Yếu tố thạch địa tầng 27
2.2 Yếu tố cấu trúc - kiến tạo 30
2.3 Yếu tố magma 33
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM QUẶNG HÓA KHU VỰC CHỢ ĐỒN – CHỢ ĐIỀN .
35
3.1 Đặc điểm phân bố quặng hóa 35
3.2 Đặc điểm thành phần khoáng vật quặng 37
3.3 Đặc điểm thành phần hóa học 53
3.4 Sự phân đới quặng hóa 57
KẾT LUẬN 64
4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3-1: Thành phần khoáng vật quặng trong mẫu lõi khoan khu vực Phia Khao 38
Ảnh 2-3: Đá biến đổi nhiệt dịch thạch anh sericit chứa quặng, Lg2101, Nà Áng –
Khuổi Giang, nicol (+) 28
Ảnh 2-4: Đá vôi chứa quặng bị cà nát mạnh Lg2087 Nà Áng Khuổi Giang, nicol (+)
29
Ảnh 2-5: Đá vôi phân lớp mỏng, mỏ Lũng Hoài 29
Ảnh 2-6: Microgranit bị ép phiến, biến đổi nhiệt dịch thạch anh hóa, chlorit hóa,
Lg2104, Huổi Giang – Tân Lập, nicol (+) 33
Ảnh 2-7: Granosyenit bị biến đổi nhiệt dịch, LG371, Suối Cok Cướm, nicol (+) 34
5
Ảnh 3-1: Quặng cấu tạo dạng dải – Đèo An 36
Ảnh 3-2: Quặng cấu tạo dạng ổ, mạch trong đá hoa hệ tầng Pia Phương 36
Ảnh 3-3: Sphalerite bị dập vỡ 39
Ảnh 3-4: Sphalerite có quan hệ tiếp xúc với pyrite hạt lớn 39
Ảnh 3-5: Sphalerite gặm mòn thay thế pyrite 40
Ảnh 3-6: Sphalerite đi cùng với pyrite hạt nhỏ tự hình 40
Ảnh 3-7: Sphalerite chứa chalcopyrite, galena và pyrrhotite tha hình, dạng giọt, tách
dung dịch trong sphalerite 41
Ảnh 3-23: Sphalerite dạng đám ổ nhỏ xâm tán trong nền đá hoa ở Phia Khao 50
Ảnh 3-24: Galena dạng hạt tha hình lấp đầy trong phi quặng và khe hổng của pyrite
51
Ảnh 3-25: Galena gặm mòn thay thế gần như hoàn toàn hạt pyrite, Phia Khao 52
Ảnh 3-26: Pyrite thế hệ I bị rạn nứt dập vỡ 526
LỜI MỞ ĐẦU
Vùng Chợ Đồn – Chợ Điền thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn, là một
trong những vùng quặng chì kẽm nổi tiếng, có chất lượng tốt nhất và trữ lượng lớn
nhất nước ta. Vùng quặng đã được tìm kiếm, thăm dò và khai thác ở các mức độ
khác nhau. Từ người Trung Quốc đến người Pháp và sau đó là nhà nước tổ chức
khai thác với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Tiệp Khắc. Sau đó, trong quá
trình khảo sát đo vẽ và lập bản đồ địa chất ở các tỷ lệ khác nhau cùng với các công
trình tìm kiếm khoáng sản chì kẽm, vùng Chợ Đồn – Chợ Điền đã được nghiên cứu
khá kỹ.
Xuất phát từ những nghiên cứu của đề án đang thi công “Đánh giá triển vọng
khoáng sản ẩn sâu (Pb-Zn, Au-Sb) và các khoáng sản khác ở các vùng có triển vọng
thuộc đông nam đới Lô Gâm” do TS. Tăng Đình Nam làm chủ nhiệm, vùng Chợ
Đồn – Chợ Điền được chọn là một trong những vùng khảo sát và nghiên cứu chi
tiết. Trong quá trình tham gia phân tích mẫu, viết chuyên đề cho đề án cùng với việc
thu thập tài liệu làm luận văn thạc sĩ, tôi nhận thấy việc giải quyết một số vấn đề về
thành phần vật chất, điều kiện thành tạo, nguồn gốc quặng hóa chì kẽm và các yếu
tố cấu trúc khống chế quặng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhất định, đồng thời
cũng phù hợp với quy mô của một luận văn thạc sĩ khoa học. Vì vậy tôi đã chọn đề
sâu sắc tới sự giúp đỡ quý báu đó.
8
CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Phạm vi và đặc điểm khu vực nghiên cứu
Các vùng nghiên cứu thuộc địa phận huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn, trong
khung tọa độ địa lý:
22° 4' 50" - 22° 24' 50" vĩ độ Bắc
105° 15' 00" - 105° 45' 00" kinh độ Đông Hình 1-1: Sơ đồ vùng nghiên cứu
Các yếu tố địa hình - địa mạo, giao thông và kinh tế nhân văn như sau:
9
Địa hình thuộc vùng núi thấp, cao trung bình, phân cắt mạnh, độ cao tuyệt
đối thay đổi từ 200 đến 1000m. Các núi thấp và đồi sườn thoải có phương đôi khi
trùng với phương của các kiến trúc uốn nếp liên quan đến các đá trầm tích lục
nguyên, đôi khi nhô lên các đỉnh cao có sườn dốc ứng với các tầng đá cứng như
quaczit, đá vôi silic hoặc đá xâm nhập. Các khối đá vôi bị phân cắt mạnh bởi các
quá trình xâm thực và karst, được đặc trưng bằng các dạng địa hình nhấp nhô có các
thung lũng khô và thung lũng mù với sườn dốc, cây cối um tùm.
Trong vùng có các hệ thống sông chính như: sông Gâm và một phần sông
Năng. Các thung lũng suối hẹp thường là dạng chữ V có dòng chảy mạnh, nhiều
gềnh, đôi khi có các thác nước.
Khí hậu có tính chất nhiệt đới, đặc trưng bởi sự khác biệt hai mùa. Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 32-35oC, độ ẩm 90-95%, lượng mưa
trung bình đến 2000 mm/năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ
tích khối granitoid Sông Chảy (đới Sông Lô do A.E.Dopvjicov xác lập năm 1965
cùng với việc thành lập Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500 000), sau
này Trần Văn Trị gọi là Đới phức nếp lõm Sông Gâm (Trần Văn Trị và nnk, 1977)
và gần đây nhất là Đới Tây Việt Bắc (Trần Văn Trị và nnk, 2009).
Vùng nghiên cứu thuộc phần đông nam đới Lô Gâm, gắn liền với nhiều loại
hình khoáng sản có giá trị, nhiều mỏ dễ khai thác, vì vậy nghề khai khoáng sản ở
đây phát triển từ rất sớm. Đời nhà Lý (1010 – 1225) đã có nghề khai khoáng đồng,
vàng, bạc, chì, sắt Đời nhà Lê đã khai thác nhiều mỏ như mỏ chì kẽm bạc Chợ
Điền, Ngân Sơn v.v (Theo “Lịch triều Hiến Chương loại Chí”). Những công trình
nghiên cứu địa chất liên quan đến vùng Lô Gâm được ghi nhận trước hết qua các
công trình tản mạn của các nhà địa chất Pháp được tổng hợp trong công trình của
Fromaget “Xứ Đông Pháp, cấu tạo địa chất đá, các mỏ và mối liên quan có thể của
chúng với kiến tạo” (1941) kèm theo bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000, lần đầu tiên
ông xác lập các cấu trúc Indoxinit ở Đông Dương. Song song với việc nghiên cứu
địa chất người Pháp bắt đầu khai thác các mỏ Pb-Zn Chợ Điền .v.v. Tuy nhiên việc
nghiên cứu địa chất và khai thác tài nguyên khoáng sản chỉ được ghi nhận khá rõ
ràng từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến nay.
Về công tác đo vẽ lập bản đồ địa chất khoáng sản: Sau khi miền Bắc được
hoàn toàn giải phóng, công tác địa chất được đẩy mạnh. Năm 1955, Sở địa chất
được thành lập cùng với việc ra đời hàng loạt các Đoàn, Đội địa chất trên khắp miền
11
Bắc vì vậy công tác địa chất được đẩy mạnh một cách đáng kể. Từ 1960 - 1963
Đoàn địa chất 20 với sự cộng tác của các chuyên gia Liên Xô do A.E.Đovjicov
đứng đầu đã hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 miền Bắc Việt
Nam. Đây là một công trình khoa học lớn đầu tiên ở nước ta, trong đó các tác giả
xếp MBVN vào 2 đơn vị kiến tạo chính: Hệ chuẩn uốn nếp đông Việt Nam và hệ
uốn nếp tây Việt Nam ngăn cách bởi đứt gẫy sông Chảy. Qua công tác này nhiều
vùng mỏ mới được phát hiện và một loạt tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 và
1:50.000 trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam đã ra đời. Thuộc vùng nghiên cứu có tờ
triển vọng, trong đó có điện tích đề nghị tìm kiếm sâu từ 200 - 500 m như Nà Tùm.
Trong công trình Tài nguyên khoáng sản tỉnh Bắc Kạn, Cục Địa chất và Khoáng sản
Việt Nam cho rằng trên diện tích tỉnh Bắc Kạn có cấu trúc địa chất rất phức tạp,
chắc chắn còn tiềm ẩn các loại khoáng sản, các mỏ khác chưa phát hiện được đặc
biệt là ở phần sâu.
Về công tác nghiên cứu chuyên sâu liên quan: Từ năm 1965 cho đến nay
Đoàn Địa chất 45 trước kia và nay là Viện Khoa Học Địa chất và Khoáng sản đã
tiến hành nhiều dạng nghiên cứu liên quan về cổ sinh địa tầng, kiến tạo, magma, địa
hóa, sinh khoáng chuyên khoáng, thành phần vật chất và thành hệ quặng, đánh giá
và dự báo tài nguyên khoáng sản đã được tổng hợp trong công trình “Nghiên cứu
sinh khoáng và dự báo khoáng sản rìa đông đới Lô Gâm mức tỷ lệ trung bình và chi
tiết hóa một số vùng quan trọng” của Thái Quí Lâm (1991), “Tài nguyên khoáng
sản Việt nam” của Trần Văn Trị (1999) và “Xác lập luận cứ khoa học, đánh giá
định lượng, định hướng phát triển việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản Việt
Nam đến năm 2020” của Nguyễn Linh Ngọc (2001), đánh giá chuyên khoáng chì-
kẽm có công trình của Đỗ Quốc Bình (2004, 2009). Riêng công tác địa vật lý nhằm
phát hiện các thân quặng tồn tại sâu đã có các công trình của Tăng Đình Nam
(2001, 2003, 2008). Công trình “Xây dựng và hoàn thiện công nghệ phân tích tổng
hợp tài liệu bằng hệ thông tin địa lý địa chất và hệ chuyên gia địa chất ứng dụng thử
nghiệm trên vùng Chợ Đồn của Doãn Ngọc San (2006).Trong đó liên quan với
khoáng sản chì-kẽm và vàng-antimon, đáng kể là công trình “Nghiên cứu sinh
khoáng và dự báo khoáng sản rìa đông đới Lô Gâm mức tỷ lệ trung bình và chi tiết
13
hóa một số vùng quan trọng” do Thái Quí Lâm chủ biên, đã xác định những thành
hệ địa chất, đặc điểm kiến trúc, những yếu tố khống chế quặng hóa, những thành hệ
quặng chủ yếu, phân vùng sinh khoáng và dự báo triển vọng khoáng sản vùng Lô
Gâm.
Từ các công trình nghiên cứu đã có nhận thấy rằng vùng Chợ Đồn – Chợ
Điền đã được nghiên cứu khá kỹ về địa chất và khoáng sản tuy nhiên các nghiên
ĐEVON
Hệ tầng Pia Phương (D
1
pp)
Phân bố với diện tích lớn ở trung tâm nếp lồi Chợ Điền và tây Chợ Đồn. Hệ
tầng Pia Phương do Nguyễn Kinh Quốc và nnk. (1977) xác lập ở vùng Lô Gâm và
cho tuổi Silur muộn – Devon sớm. Thành phần đá của hệ tầng theo Nguyễn Kinh
Quốc chủ yếu gồm đá vôi và đá phiến sét sericit xen cát kết, bột kết, đá phiến sét
vôi, vôi silic; đá vôi silic, phun trào axit. Thành phần của hệ tầng không khác với hệ
tầng Mia Lé tuy đá có trình độ biến chất cao hơn, ngoài ra theo mô tả của Nguyễn
Kinh Quốc còn có thành phần silic, những vỉa mỏng mangan và phun trào axit.
Hệ tầng Mia Lé (D
1
ml)
Mặt cắt chuẩn Lũng Cố - Mia Lé:
- Chỉnh hợp trên đá phiến sét của hệ tầng Bắc Bum là bột kết màu xám lục
xen đá phiến sét và sét vôi chứa Euryspirifer tonkinensis và Euryps.aff. parasensis.
Dày 50m
- Đá phiến sét xen đá phiến sét vôi, phần trên cùng có một vài lớp đá vôi sét
mỏng. Hóa thạch phong phú gồm Tay cuộn, San hô, Rêu động vật, Bọ ba thùy. Dày
450m.
Hệ tầng Khao Lộc (D
1
-D
2
kl)
Phân bố hẹp chủ yếu thành dải ở phía đông Chợ Đồn đến Pù Khuổi Sao. Hệ
tầng Khao Lộc được chia làm 2 tập sau:
- Nằm chuyển tiếp trên đá vôi của hệ tầng Bản Thăng là các trầm tích
carbonat xen lục nguyên màu xám chứa phong phú hóa thạch cá cổ. Dưới cùng là
47,8; TiO
2
=0,13-3,28; Al
2
O
3
=11,2-24,2; Fe
2
O
3
=7,28; FeO=8,5-10,4;
MnO=0,09; MgO=3,26-15,48; CaO=9,81-19,02; Na
2
O + K
2
O= 0,88-6,02.
Về địa hóa, đặc trưng là các nguyên tố Ti, Co, Ni, Cr, Cu, Y và Yb luôn
cao hơn Clark. Khoáng hóa liên quan là titanomagnetite ngoài ra còn
chalcopyrite, pyrrhotite, pentlandit và Pt, Pd, Ag.
Tuổi của phức hệ được xác định trên cơ sở so sánh với các khối xâm nhập
tương tự đã được nghiên cứu. Tuổi tuyệt đối 251 triệu năm.
b- Phức hệ Phia Bioc gồm: Pha 1 (πaT
3
n
pb
1
) thành phần: granodiorit,
granit biotit dạng porphyr hạt vừa - lớn; Pha 2 (πaT
3
Ret ở Núi Hồng phủ không chỉnh hợp lên trên. Tuổi tuyệt đối 267-280 triệu
năm.
Các thành tạo xâm nhập tuổi Paleogen:
Phức hệ Chợ Đồn (ξ E cđ), chủ yếu là các khối nhỏ phân bố dải rác dọc
từ Nà Đuống đến Pù Thám Thau, Chợ Đồn. Thành phần: granosyenit, syenit
pyroxen biotit, syenit aplit.
Thành phần hàm lượng các khoáng vật tạo đá (%): Felgspat kali (45-80),
plagiocla (10-29), thạch anh (29), biotit (0,2-13), horblen(1), pyroxen (ít-31,5);
ngoài ra còn có apatit, sphen, zircon, epidot, turmalin, ít quặng.
Khoáng vật phụ (trong mẫu giã đãi và lát mỏng): magnetite, pyrite,
cyrtolit, zirrcon, granat, rutin, corindon, galena.
Đặc điểm thạch hóa: các đá syenit của phức hệ Chợ Đồn thuộc loại vôi
kiềm có hàm lượng (%): SiO
2
= 54,6-61,9; Al
2
O
3
=15,6-17,7; tổng sắt = 4,8;
CaO= 4,8-10,0; tổng kiềm = 7,8-10,8.
Về địa hóa, đặc trưng là các nguyên tố Pb, Zn, Ag, Ni, Co, V, Ba, Sr, Nb
và Y.
Phức hệ Chợ Đồn xuyên cắt các trầm tích Devon và granit phức hệ Phia
Bioc, có tuổi tuyệt đối 30 triệu năm nên được xếp vào Paleogen.
1.2.4 Cấu trúc – kiến tạo
Các vùng nghiên cứu thuộc tờ bản đồ Bắc Kạn nằm ở trung tâm miền
kiến tạo Đông Bắc Bộ, được nhiều nhà nghiên cứu kiến tạo xếp vào miền nền
18
hoặc rìa nền. Riêng Trần Văn Trị (1997) xếp vào miền uốn nếp Bắc Bộ cố kết
chúng bắt đầu hoạt động từ Paleozoi sớm và tái hoạt động nhiều lần sau đó.
Nhóm đứt gãy này thường bị các đứt gãy phương á kinh tuyến hoặc đông bắc -
19
tây nam làm dịch chuyển với cự ly 0,5 - 1 km. Phần lớn các đứt gãy có độ dài
trên 50 km, cắm về tây nam với góc dốc 70 – 80
o
. Dọc theo các đứt gãy của
nhóm này có đới cà nát rộng 5 - 7 km, những thể xâm nhập granitoid và mafic.
Sinh khoáng liên quan rất phong phú: Pb-Zn, Ag, Sb, Sn, Au…
- Nhóm đứt gãy phương đông bắc- tây nam và á kinh tuyến phát triển ở
các vùng Na Mong, Ninh Kiệm - Pac Van, Chợ Đồn, Phia Khao và Pia Ma với
chiều dài từ 5-30 km, có độ dốc 80-85
o
, cự ly dịch chuyển 0,3-1 km.
- Nhóm đứt gãy á vĩ tuyến thường là những đứt gẫy trẻ cắt qua nhiều cấu
tạo địa chất và các nhóm đứt gãy khác, có độ dốc đứng, độ dài 2 - 15 km, phân
bố rải rác ở vùng Đại Thị, liên quan là các sa khoáng thiếc và vàng.
1.2.5 Khoáng sản
Trong vùng Chợ Đồn – Chợ Điền có mặt các khoáng sản sau:
1. Sắt - mangan
Sắt - mangan trầm tích tập trung xung quanh nếp lồi Phia Khao, đã phát
hiện hàng chục điểm quặng. Quặng sắt-mangan nằm trong hệ tầng Pia Phương
(D
1
pp). Tập chứa quặng gồm đá phiến sericit, đá phiến thạch anh, đá phiến sét
xen cát kết, bột kết silic và phun trào felsic (?). Ở rìa nếp lồi Phia Khao hàm
lượng sắt tăng trội hơn mangan tạo nên kiểu khoáng hóa sắt - mangan.
Thành phần khoáng vật quặng gồm pyrolusit, psilomelan, limonite, thạch
anh, calcit. Hàm lượng sắt và mangan thay đổi trong giới han rộng (%): Mn =
ranh giới tiếp xúc giữa 2 loại đá có đặc điểm thạch học khác nhau.
Quặng chì - kẽm kiểu oxy hóa khá phổ biến trong nút quặng Chợ Điền,
phân bố ở phần trên các thân quặng (có khi đến độ sâu hàng chục mét) hoặc tích
đọng trong các phễu, hố, hang karst tạo nên thân quặng dạng túi. Một vài tụ
khoáng như ở Phia Khao thì quặng oxy hóa chiếm gần toàn bộ trữ lượng.
Chì-kẽm hình thành trong nhiều giai đoạn tạo khoáng với nhiều tổ hợp,
thế hệ khoáng vật. Quặng chủ yếu có cấu tạo dạng khối, thứ đến là cấu tạo dải,
mạch, dạng đất…
Trong điều kiện tương tự, ở vùng Chợ Đồn đã phát hiện các tụ khoáng có
giá trị công nghiệp: Bằng Lũng, Nà Tùm, Bắc Loa.
Về nguồn gốc các mỏ và điểm quặng đa kim kéo dài thành một đới phân
bố ở phía Tây khối granitoid Tam Tao, thuộc phức hệ Phia Bioc. Những đặc
điểm địa hóa của loại granitoid này cho thấy mối liên quan của quặng hóa Pb-Zn
21
với chúng. Các kết quả phân tích đồng vị Pb trong galena của các mỏ và điểm
quặng Pb - Zn tại vùng Chợ Đồn-Chợ Điền cũng cho kết quả 215-270 triệu năm,
tương ứng P
2
– T
1
. Quặng hóa tập trung trong đá vây quanh thuận lợi là đá
cacbonat-lục nguyên tuổi Paleozoi.
Các nguyên tố đi kèm đáng chú ý là trong sfalerit chứa In (0,001-0,1%),
Cd (0,2-0,4%), Ca (0,001-0,003%); trong galena chứa Ag: 2,7 kg/tấn. Quặng có
cấu tạo mạch, khối đặc sít, dăm kết, dài mỏng; Kiến trúc hạt tự hình, nửa tự
hình, hạt thay thế, phân hủy dung dịch cứng.
Ngoài ra trong thành phần quặng còn ít casiterit, stanin, thuộc kiểu đa
kim chứa thiếc phát triển dọc theo hệ đứt gãy á kinh tuyến kéo dài từ Hồ Ba Bể-
Quảng Bạch đến Đèo An đã phát hiện nhiều điểm quặng dạng giả tầng đa kim
Phương pháp viễn thám
Phương pháp này dùng để nghiên cứu cấu trúc, kiến tạo của vùng, xác định
các cấu trúc mang tính khu vực đồng thời kết hợp với các yếu tố khác để xác định
các yếu tố khống chế quặng.
Phương pháp nghiên cứu khảo sát địa chất
Công việc nghiên cứu khảo sát địa chất được tiến hành cùng tập thể tác giả
của Đề án “Đánh giá triển vọng khoáng sản ẩn sâu (Pb-Zn, Au-Sb) và các khoáng
sản khác ở các vùng có triển vọng thuộc đông nam đới Lô Gâm” tại vùng Chợ Đồn
– Chợ Điền tỷ lệ 1:10.000 và gồm các bước:
- Tìm hiểu cấu trúc địa chất khu vực nghiên cứu;
- Quan sát, đo vẽ thân khoáng, hình dạng, thế nằm của đá vây quanh, quan hệ
giữa đá vây quanh với các thân quặng;
- Tiến hành lấy mẫu để phân tích trong phòng.
Các phương pháp phân tích xác định thành phần vật chất
Phương pháp khoáng tướng: là phương pháp chủ đạo để xác định thành phần
khoáng vật quặng, kiến trúc và cấu tạo quặng, hàm lượng các khoáng vật trong mẫu.
23
Dựa vào quan hệ xuyên cắt, mức độ tự hình của các khoáng vật, một số kiến trúc cà
nát, gặm mòn, thay thế, tàn dư, tách dung dịch cứng, cấu tạo dăm kết, tổ hợp cộng
sinh khoáng vật để xác lập thứ tự thành tạo khoáng vật, phân chia các giai đoạn tạo
quặng.
Phương pháp thạch học lát mỏng: phương pháp này dùng để nghiên cứu
thành phần khoáng vật tạo đá, cấu tạo, kiến trúc từ đó để xác định tên đá, biết được
các quá trình biến đổi đá, trên cơ sở đó phán đoán điều kiện thành tạo và nguồn gốc
quặng.
Tên khoáng vật được xác định nhờ hình dáng, chiết suất, màu sắc dưới 1
nikon, màu giao thoa dưới 2 nikon, song tinh, góc tắt, cát khai
Phương pháp hóa silicat: xác định thành phần hóa học các thành tạo magma
vây quanh quặng (có khả năng sinh quặng)
phân bố của chúng ở các khe nứt kiến tạo khác nhau hay các phần khác nhau của
thân quặng;
- Các hiện tượng thay thế, gặm mòn, dăm hóa;
- Các dấu hiệu biến dạng, dập vỡ, xuyên cắt, tái gắn kết;
- Các dấu hiệu tái kết tinh, tái lắng đọng, tái kết hợp.
Tổ hợp khoáng vật: gồm những khoáng vật thuộc một hoặc vài THCSKV,
sinh thành trong những điều kiện hóa lý tương tự và phản ánh một thời đoạn biến
đổi thành phần dung dịch tạo khoáng. Mỗi tổ hợp khoáng vật đặc trưng cho một giai
đoạn khoáng hóa.
Thế hệ khoáng vật: là các cá thể của cùng một khoáng vật nhưng được hình
thành trong các giai đoạn tạo khoáng khác nhau (kế tiếp nhau)
Thời kỳ tạo khoáng và giai đoạn tạo khoáng
Thời kỳ tạo khoáng là một khoảng thời gian tích tụ khoáng vật khá dài thuộc
một kiểu nguồn gốc nhất định. Vd: thời kỳ tạo khoáng magma (thực sự), pegmatit,
carbonatit, nhiệt dịch…
25
Giai đoạn tạo khoáng là một khoảng thời gian tích tụ khoáng vật không dài
lắm, nằm trong phạm vi của thời kỳ tạo khoáng, tạo thành một tổ hợp khoáng vật có
thành phần nhất định, trong những điều kiện địa chất và hóa lý tương đối bình ổn.
Mỗi giai đoạn tạo khoáng đánh dấu một bước biến đổi thành phần dung dịch
tạo khoáng và một số điều kiện hóa lý khác. Các khoáng vật được tích tụ trong giai
đoạn tạo khoáng tạo thành một tổ hợp khoáng vật có thành phần nhất định, tách biệt
với các giai đoạn khác trong thời kỳ tạo khoáng bằng sự ngưng nghỉ tạo khoáng,
tương ứng với thời gian yên tĩnh kiến tạo. Thời gian ngưng nghỉ này kết thúc vào
đầu một giai đoạn tạo khoáng mới, được đánh dấy bằng sự mở rộng khe nứt chứa
quặng, kèm theo sự dập vỡ các tổ hợp khoáng vật của giai đoạn trước.
Tiêu chuẩn phân chia các giai đoạn tạo khoáng
- Các biến dạng kiến tạo trong tạo quặng.
- Sự xuyên cắt nhau của các THCSKV.