1
DANH MỤC BẢNG
Biểu 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn thế giới 10
trong vài thập kỷ gần đây 10
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 9 nước có sản lượng lúa
hàng đầu thế giới 11
Bảng 1.3: Năng suất, diện tích và sản lượng gạo Việt Nam trong những thập
kỷ gần đây 13
Bảng 3.1: Các giai đoạn phát triển của cây lúa theo mã số 35
Bảng 3.2: Phương pháp nghiên cứu tính trạng hình thái 35
Bảng 3.3: Phương pháp nghiên cứu tính trạng nông học 37
Bảng 3.4: Phương pháp nghiên cứu tính trạng năng suất 38
Bảng 4.1: chiều dài và chiều rộng lá công năng 52
Bảng 4.2: Chiều dài và chiều rộng lá đòng 54
Bảng 4.3: Kích thước lớp cutin của lá (n=30) 60
Bảng 4.4: Chiều cao thân giống nếp tan tròn 68
Bảng 4.5: chiều dài bông giống lúa nếp tan tròn cổ truyền 92
Bảng 4.6 : Thời gian sinh trưởng của giống lúa nếp tan tròn cổ truyền 95
Bảng 4.7: Các yếu tó cấu thành năng suất lúa 99
Bảng 4.7: các đặc điểm về hình thái hạt 102
Bảng 4.7: Chất lượng cơm của giống nếp tan tròn 104 2
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.25: Giống lúa nếp tan trong cổ truyền giai đoạn chín sữa 94
Bông lúa nổi trên mặt ruộng 94
Hình 4.27. Giống lúa nếp tan tròn gia đoạn làm đòng vụ mùa năm 2013 98
Hình 4.26: hình thái ngoài hạt gạo giống nếp tan tròn 103
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1. Đặt vấn đề 6
2. Mục tiêu đề tài 8
3. Nội dung nghiên cứu 8
4.1. Đặc điểm hình thái, giải phẫu của giống lúa nếp tan tròn 47
4.1.1. Đặc điểm hình thái và giải phẫu lá 47
4.1.2. Đặc điểm hình thái, giải phẫu thân 67
4.1.3. Đặc điểm hình thái, giải phẫu rễ 83
4.2. Một số tính trạng về hình thái bông 91
4.2.1. Chiều dài cổ bông 91
4.2.2. Chiều dài bông 92
4.2.3. Trục bông 92
4.3. Một số tính trạng nông học 93
4.3.1. Khả năng đẻ nhánh 93
4.3.2. Độ rụng hạt 94
4.3.3. Thời gian sinh trưởng 95
4.4. Các yếu tố cấu thành năng suất 98
4.5. Các đặc điểm về hính thái và chất lượng hạt 102
4.6. Đánh giá mốt số khả năng chống chịu của giống 104
4.6.1. Khả năng chịu rét của mạ 104
4.6.2. Khả năng chống sâu bệnh của giống nếp tan tròn 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
6
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
An ninh lương thực là yêu cầu cấp thiết hiện nay, biến đổi khí hậu làm
giảm năng suất, chất lượng cây trồng. Trong khi đó nhu cầu về lương thực lại
không ngừng tăng lên - một nghịch lý buộc các nhà khoa học phải nỗ lực hết
mình trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu, lai tạo các giống cây con thích ứng
với môi trường, cho năng suất và chất lượng cao nhằm đảm bảo nhu cầu và
chất lượng cuộc sống cho con người trước mắt cũng như lâu dài.
Ở Việt Nam những năm gần đây, các nhà khoa học trong lĩnh vực nông
tròn màu trắng đục và chất lượng hơn hẳn các giống lúa lai cũng đang được
gieo trồng phổ biến trên địa bàn như giống N87, N97. Ngoài những đặc điểm
nổi trội về chất lượng hạt của giống nếp tan tròn, giống lúa này còn có điểm
nổi trội hơn các giống lúa lai về khả năng chịu rét và chống chịu sâu hại. Tuy
nhiên năng suất của giống không cao, ảnh hưởng đến sản lượng và lợi nhuận
của người dân, mặc dù giá thành của lúa gạo nếp tan cao hơn so với những
loại gạo khác. Chúng tôi hy vọng những nghiên cứu về các đặc điểm sinh học,
sinh thái, nông học liên quan đến năng suất, tính chống chịu của giống nếp tan
có thể sử dụng làm nền tảng cho bảo tồn và phát triển nguồn gen quý này.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, để góp phần
nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các giống lúa cổ truyền được gieo
trồng tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nhằm thúc đẩy quá trình chọn lọc,
lưu giữ các giống lúa thuần bản địa có chất lượng hạt cao, khả năng chống
chịu với điều kiện khí hậu, sâu hại tốt nên tôi chọn cho đề tài “Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh học và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa
nếp tan tròn (Oryza sativa L. var. japonica) trồng tại xã Thôm Mòn,
huyện Thuận Châu, Sơn La”.
8
2. Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của giống lúa nếp tan tròn,
từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển giống lúa nếp tan tròn
tại huyện Thuận Châu, Sơn La.
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các tính trạng hình thái, nông học của giống lúa nếp tan
tròn.
- Nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu của giống lúa nếp tan tròn.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học liên quan đến năng suất và chất
lượng hạt.
- Nghiên cứu khả năng chống chịu của giống lúa đối với nhiệt độ thấp
và sản lượng [6], trong đó Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất (44,1
triệu ha) tiếp đến là Trung Quốc (khoảng 30,4 triệu ha) (FAOFAST, 2011)
[8].
Qua kết quả nghiên cứu của FAOSTAT (2011) [6] cho thấy về diện
tích canh tác lúa có xu hướng tăng mạnh là khoảng từ thập kỷ 60 đến thập kỉ
90, sau đó tăng chậm dần và có xu hướng ổn định vào thập kỷ năm đầu của
thế kỷ XXI. Năng suất trên đơn vị diện tích cũng có chiều hướng tăng mạnh
trong 4 thập kỷ cuối thế kỷ XX. Năng suất từ 18,7 tạ/ha năm 1961 lên 38,9
tạ/ha năm 2000 và đạt 43,3 tạ/ha năm 2010. Năng suất trong 4 thập kỷ cuối
thế kỷ XX tăng nhanh có thể giải thích do giai đoạn từ 1961 - 2000 cuộc cách
mạng xanh về giống lúa và kỹ thuật canh tác có nhiều cải biến, thuốc hóa học
và thuốc trừ sâu bệnh được sử dụng phổ biến.
10
Sang những năm đầu thế kỷ XXI người ta có xu hướng hạn chế sử dụng
chất hóa học vào thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn số lượng
nên năng suất có xu hướng tăng chậm lại. Sản lượng trong 5 năm đầu tiên
của thế kỷ XXI (từ 2000 đến 2005) sản lượng lúa tăng không đáng kể (từ
598,97 triệu tấn lên 618,53 triệu tấn) nhưng từ 2005 đến 2011 sản lượng lúa
tăng nhanh đạt tới 722,76 triệu tấn. Trong giai đoạn sau có sự tăng nhanh về
sản lượng do ở giai đoạn này khoa học kỹ thuật trong chọn giống phát triển,
có nhiều giống lúa lai, ngắn ngày và năng suất cao được đưa vào sử dụng.
Đặc biệt là ở các nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển năng suất lúa cao
hơn hẳn. Bảng 1.2 [8] mô tả số liệu thống kê 10 nước có sản lượng lúa hàng
đầu thế giới.
Biểu 1.1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của toàn thế giới
trong vài thập kỷ gần đây
Năm
Diện tích
(triệu ha)
42,97
688,52
2010
161,76
43,3
701,12
2011
164,12
44,03
722,76
(Nguồn: FAOSTAT, 2011)[8]
Theo số liệu bảng 1.2, trong 9 nước có sản lượng gạo cao nhất từ 10
triệu tấn trở lên thì có 8 nước nằm ở Châu Á, chỉ có một đại diện không thuộc
11
Châu Á là Braxin (Nam Mỹ). Trung Quốc và Việt Nam là hai nước có năng
suất cao hơn hẳn 66,86 tạ/ha (Trung Quốc) và 55,32 tạ/ha (Việt Nam). Có thể
lý giải do Trung Quốc là nước đi tiên phong trong phát triển lúa lai, có trình
độ thâm canh cao (ICARD, 2003)[15]. Còn Việt Nam những năm gần đây có
sự vượt trội về sản lượng nhờ thủy lợi được cải thiện đáng kể và áp dụng
nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và bảo vệ thực vật. Nhật Bản là
nước có năng suất cao đứng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa, đạt 53,312 tạ/ha.
Thái Lan tuy là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo trong nhiêu năm,
song sản lượng chỉ đạt 29,74 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến
canh tác các giống lúa dài ngày, có chất lượng cao (Bùi Huy Đáp, 1999)[6].
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của 9 nƣớc có sản lƣợng
lúa hàng đầu thế giới
Tên nƣớc
Diện tích
(triệu ha)
40,80
32,08
Philippin
4,53
36,77
16,68
Braxin
2,75
48,95
13,47
(Nguồn: FAOSTAT, 2011)[8]
Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lượng lúa sẽ tăng chậm và có
xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị
12
hoá gia tăng (Beachel, H.M, 1972) [36]. Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá
vật tư đầu vào tăng cao đã không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử
dụng ruộng đất khó có thể tăng cao hơn nữa (ví dụ ở Việt Nam nhiều nơi đã
trồng tới 3 vụ lúa/năm). Nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các
cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang
trồng các giống lúa có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn.
1.1.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nước trồng lúa trọng điểm trên thế giới, người Việt
Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình. Từ xa
xưa cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong
đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999) [6]. Suốt từ Bắc đến
Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu
ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long. Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa
1970
4,72
21,53
10,17
1980
5,60
20,79
11,64
1990
6,04
31,81
19,22
2000
7,67
42,43
32,52
2004
7,44
48,55
36,14
2008
7,40
52,33
38,72
2010
7,48
53,41
40,00
2011
7,65
thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất
khẩu. Nhu cầu gạo trên thị trường thế giới và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn
tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng .
Các điều kiện cơ bản của sản xuất lúa của Việt Nam hiện nay là: Đất,
nước, phân bón, giống, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ gạo khá đảm
bảo. Sản lượng phân bón sản xuất trong nước đang tăng dần do các nhà máy
sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã đi vào hoạt động và sắp tới công trình khí -
điện - đạm Cà Mau sẽ đi vào hoạt động cùng với các nhà máy phân lân, supe
phôt phát tăng công suất đảm bảo ổn định nguồn cung cấp trong nước, ứng
dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới vào sản xuất để
thực hiện các biện pháp thâm canh lúa nhằm tăng năng suất và chất lượng,
15
giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị
trường [33]. Tổ chức quản lý nông nghiệp không ngừng đổi mới và hoàn thiện
theo hướng phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, tăng cường sự hỗ
trợ của nhà nước, phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu
gạo khi Việt Nam gia nhập WTO. Những năm gần đây, hiệp hội xuất khẩu
gạo Thái Lan và Việt Nam đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu
gạo giữa 2 nước trên thị trường thế giới và khu vực, cũng tạo điều kiện thuận
lợi cho mỗi nước. Thách thức sắp tới Việt Nam sẽ là thành viên của WTO nên
thị trường nông sản nói chung, thị trường lúa gạo Việt Nam nói riêng sẽ mở
rộng cửa cho hàng nhập khẩu từ các nước. Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ
của Nhà nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ hạn chế và tiến tới bãi bỏ.
Gạo Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan…và các nước khác có chất lượng
cao, giá rẻ hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không
đáng kể (94% hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong
đó hàng lương thực gạo, ngô không đáng kể). Do đó lúa gạo Việt Nam phải
chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn non kém.
các quốc gia nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm
nhận việc thu thập tập đoàn giống trên thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen
để cải tạo giống lúa trồng (Trần Đình Long, 1992) [19].
Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI thành lập năm 1960, đến năm 1962
đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, và năm 1977 chính thức khai trương
ngân hàng gen. Tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên thế
giới, bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó có các giống lúa trồng ở Châu
Á, O. sativa chiếm đến 95% còn 2.194 mẫu đang ở thời kỳ hạt nhân, chuẩn bị
đăng ký vào ngân hàng gen cây lúa (Gomez, KA,1995)[46].
17
Nguồn tài nguyên phong phú cùng với đội ngũ các nhà khoa học giàu
trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện được vai
trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên thế giới. IRRI đã có quan hệ chính
thức ở Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm giống quốc tế
trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây lúa, trong quá
trình hợp tác Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu
giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện
ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt (Shen, J.H,
2000) [42].
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt
được gieo trồng phổ biến trên thế giới. Các viện khác như IRAT, EAT,
ICRISAT đã chọn lọc ra nhiều những giống lúa tốt phục vụ sản xuất. Hiện
nay người ta ứng dụng ưu thế lai trong sản xuất lúa. Trong lịch sử phát triển
lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này.
Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp
lai có ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai 3
dòng được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975. Năm 1996, Trung Quốc
lại thành công với qui trình sản xuất lúa lai 2 dòng. Chiến lược nghiên cứu
cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau
như IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT [43]. Tại các viện này việc chọn lọc và lai
tạo các giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu. Chỉ tính riêng viện nghiên cứu
lúa gạo quốc tế (IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống
lúa tốt. Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các
giống lúa có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ha vụ, đồng thời
tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu
19
vitamin A, giàu Protein, Lisine, có mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải
quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng (Cada, E.C, 1997)[38].
Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới sử dụng lúa lai trong sản
xuất đại trà từ năm 1976. Thành tựu lúa lai của Trung Quốc đã được giải
thưởng đặc biệt về phát minh năm 1981. Ngoài lúa lai 3 dòng vẫn đang giữ
vai trò chủ đạo trong sản xuất, Trung Quốc đã thành công đưa vào sản xuất
lúa lai hệ 2 dòng. Năng suất của các tổ hợp lai hai dòng cao hơn lúa lai ba
dòng khoảng 5 - 10%. Cho đến nay việc chọn tạo các giống lúa lai chín sớm
về cơ bản đã thành công (Lin, S.C, 2001)[41].
Ấn Độ là một nước trồng lúa với diện tích đứng đầu thế giới. Ấn Độ
cũng là một nước đi đầu trong công cuộc cách mạng xanh về cải tiến giống
lúa. Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thành lập vào
năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa đóng vai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu,
lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho sản xuất. Ngoài ra tại các bang của Ấn
Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan trọng ở
Madrasheydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệt đới
(ICRISAT). Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng
trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giá trị
trên thị trường tới 850 USD/ tấn (trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng
trên thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn ( 7/5/2004)[34]. Nghiên cứu và
1995) [29].
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu các giống lúa chất lượng cao ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Lê Quý Đôn là nhà khoa học đầu tiên đã mô tả chất
lượng của một số giống lúa Việt Nam ngay từ thế kỉ XVIII. Công tác chọn tạo
giống đã được quan tâm và thực hiện từ lâu. Nhưng chỉ mãi cho đến năm
21
1990 công tác chọn tạo giống đã được xây dựng thành chương trình quốc gia,
tập hợp hầu hết các cơ quan nghiên cứu như Viện, Trường trong cả nước với
đội ngũ đông đảo các cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia và tuỳ theo yêu
cầu sản xuất lương thực ở từng giai đoạn và mục tiêu của các chương trình mà
các công trình có khác nhau. Cho đến ngày nay, có rất nhiều nghiên cứu về
chất lượng lúa gạo tại Việt Nam đã được tiến hành bao gồm: kỹ thuật trồng và
chăm sóc, bảo vệ thực vật, chọn tạo giống và kỹ thuật sau thu hoạch. Trong
công tác chọn giống các nhà khoa học Việt Nam đã tận dụng nguồn vật liệu
có sẵn trong nước, các nguồn nhập nội. Qua quá trình chọn lọc, phục tráng
các giống lúa cổ truyền đặc sản như các giống lúa nếp, lúa tám ở đồng bằng
Sông Cửu Long, chọn lọc, phục tráng các giống lúa chất lượng cao nhập nội
như: IR42, Khaodawkmali, Bắc thơm số 7, LT2, LT3….(Lưu Ngọc Trình,
1996)[29].
Những tiến bộ của ngành công nghệ sinh học trong thời gian gần đây
cũng có tác động khá sâu sắc tới ngành chọn tạo giống đặc biệt là đối với
giống lúa. Cho đến nay việc nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa thơm của
nước ta đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên hướng chọn tạo giống lúa
cải tiến có mùi thơm ít thành công hơn là khai thác tính trạng này từ các giống
lúa cổ truyền, thông qua chọn lọc dòng thuần. Cải tiến dạng hình cây lúa
thơm bằng phương pháp chọn lọc dòng thuần đã được áp dụng thành công ở
nước ta với một số giống như Nàng hương, Tám xoan, bên cạnh đó với
phương pháp xử lý đột biến từ giống Tám thơm cổ truyền, cao cây, dễ đổ chỉ
cấy được một vụ, tác giả Nguyễn Minh Công, trường Đại học Sư Phạm Hà
theo thời gian sinh trưởng như sau:
- Nhóm cực ngắn: Loại này có thời gian sinh trưởng từ 90 - 110 ngày
gồm có 345 giống.
23
- Nhóm ngắn ngày: Có thời gian sinh trưởng từ 110 - 120 ngày, nhóm
này có 860 giống
- Nhóm trung ngày: Nhóm này có thời gian sinh trưởng 121 - 140 ngày,
nhóm này có đến 1.684 giống.
- Nhóm dài ngày: Nhóm này có thời gian sinh trưởng trên 140 ngày,
nhóm này có 78 giống.
Ngân hàng vật liệu, các nhà chọn tạo giống viện cây lương thực và thực
phẩm đã cho 15 giống chịu hạn, 23 giống chịu ngập úng, 180 giống lúa chịu
rét và 55 giống kháng bệnh đạo ôn, các giống lúa địa phương tìm được, đã
đánh giá phân loại, chọn lọc phục vụ cho mục tiêu cải tiến giống lúa (Viện
cây lương thực và thực phẩm, 1977)[35].
Nghiên cứu về sử dụng quỹ gen cây trồng từ nguồn nhập nội, Trần
Đình Long (1992) [19] đã khảo sát 53.124 mẫu giống cây trồng của 72 loài
khác nhau, trong đó 47.970 mẫu nhập nội từ Liên Xô cũ, đã khảo sát đánh giá
được 7.694 mẫu giống lúa, phía Bắc 5.629 mẫu, phía Nam 2.065 mẫu.
Những mối đe doạ làm tổn hại nguồn gen cây lúa theo Lưu Ngọc Trình
(1997)[30] trong vài chục năm trở lại đây do nhiều nguyên nhân khác nhau,
sự đa dạng của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng đã bị xói mòn đáng
kể, sự xói mòn đa dạng di truyền nguồn gen của cây lúa đó là:
+ Sự xói mòn di truyền: Từ khi tiến hành hình thành nền sản xuất nông
nghiệp đến nay con người đã thuần hoá một khối lượng lớn các giống của
nhiều loại cây trồng khác nhau. Khi cách mạng xanh ra đời, người nông dân
đã sử dụng một số lượng hạn chế của các giống cải tiến có năng suất cao, thay
thế vị trí của các giống cây địa phương đã tồn tại lâu đời trong sản xuất có
nguồn gen quý nhưng năng suất không cao, kém chịu phân đạm nên những
mềm, chống chịu tốt với kiện khí hậu khắc nhiệt, đặc biệt có khả năng chống
25
chịu sâu bệnh tốt như bệnh bạc lá, đạo ôn và rầy nâu, là những loại bệnh dễ
phát triển thành dịch. Để chọn tạo được giống vừa có năng suất cao, chất
lượng tốt lại kháng được nhiều loại sâu bệnh trên thì nguồn gen các giống lúa
địa phương rất có ý nghĩa.
Hiện nay và trong tương lai do sự phát triển kinh tế trong đó có nông
nghiệp với tốc độ nhanh như hiện nay thì sự tiếp cận khoa học và các giống
lúa mới của người dân tăng lên. Người dân còn bỏ dần giống cũ và thay thế
các giống mới có năng suất cao hơn, chính vì thế chúng ta cần thu thập, đánh
giá, bảo tồn, khai thác và phát triển chúng.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, với phương pháp điều tra, thu
thập, đánh giá, phân loại đánh giá địa phương và chọn lọc cá thể theo chu kỳ
để làm vật liệu di truyền lai tạo giống lúa cho vùng núi phía Bắc Việt Nam
như G4, G6, G10, G13, G14, G19…(Phan Hữu Tôn, 2000-2003) [23].
Tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC 93 -1 phục vụ sản
xuất lương thực ở cùng cao của Viện Bảo vệ Thực vật Từ Liêm, Hà Nội với
phương pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn
được giống LC 93-1 có thời gian sinh trưởng từ 115-125 ngày, năng suất 3-4
tấn/ha, chịu hạn khá chất lượng gạo tốt, thích hợn cho đồng vào dân tộc nghèo
ở vùng cao [48].
Hiện nay, ở một số địa phương đặc biệt vùng đồng bào các dân tộc ít
người vẫn còn duy trì và trồng nhiều giống lúc địa phương, chiếm diện tích
khá lớn, do chúng có những ưu điểm mà nhiều giống lúa mới khác không thay
thế được. Từ năm 2000 đến nay, trên cơ sở dự án JICA hợp tác với Nhật Bản,
Bộ môn công nghệ sinh học trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã thu thập
và bảo tồn được 970 mẫu giống lúa địa phương miền Bắc Việt Nam. Các mẫu
giống này đang được lưu giữ và đánh giá một số đặc điểm nông sinh học quan
trọng về khả năng kháng bệnh bạc lá, đạo ôn, chất lượng gạo. Kết quả cho