TIỂU LUẬN MẪU THAM KHẢO
08:29 NGUYEN VAN TIENLDS NO COMMENTS
LỜI NÓI ĐẦU
Gia đình - hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan
trọng để hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình lại càng tốt hơn. Sự tác động và chi
phối lẫn nhau giữa gia đình và xã hội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân. Bởi lẽ, nền
tảng vững chắc để xây dựng gia đình chủ yếu là xuất phát từ quan hệ hôn nhân.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập - quốc tế hoá ngày càng được mở rộng thì hòa vào sự phát
triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng được hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau
của xã hội, dựa trên những nguyên tắc nhất định. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc
các dân tộc tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân
Việt Nam và người nước ngoài, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trên cơ sở nguyên
tắc tiến bộ, một vợ , một chồng bình đẳng.
Cơ sở thiết lập quan hệ hôn nhân hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia, chịu
tác động và chi phối bởi các yếu tố nước ngoài. Do tính chất phức tạp vốn có của quan hệ
này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận và bảo vệ bằng cách thông qua hình thức ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh và có những sửa đổi bổ sung để hoàn thiện nội
dung của chế định trên thực tế. Cụ thể, những văn bản ra đời trước như Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 1986, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài, và hiện nay là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-
CP ngày 10/7/2002 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2000 về quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số
69/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002. Đây là cơ sở pháp
lý vững chắc hướng các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
phát huy tối đa quyền tự do kết hôn và đảm bảo trật tự cũng như sự ổn định xã hội. Tuy
nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật đã bộc lộ không ít những thiếu sót và bất cập, ảnh
hưởng lớn đến cuộc sống của chủ thể kết hôn và những giá trị đạo đức truyền thống của xã
hội xưa nay, kết hôn có yếu tố nước ngoài một mặt thể hiện ý nghĩa tích cực, thúc đẩy giao
lưu hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực nhưng vẫn không thể phủ nhận những hạn chế đang
tồn tại trong đó.
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài.ϖ
Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam.ϖ
Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quϖan hệ đó
theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
( Khoản 14 điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
Như vậy, chủ thể tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài rất đa dạng bao gồm
một trong những đối tượng sau:
- Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: Công dân nước ngoài
là người không quốc tịch. Trên cơ sở kế thừa những quy định của pháp luật trước đó, Nghị
định số 68/2002/NĐ- CP ngày 10/7/2002 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ một cách cụ thể bằng cách liệt kê
rõ ràng. Trong đó:
+ Công dân nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài, không phải là người có
quốc tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
+ Người không quốc tịch là người không có quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào.
Cả hai đối tượng nêu trên đều được Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam điều chỉnh trong
quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, không có sự phân biệt khi xác lập quyền và nghĩa vụ
giữa họ với nhau.
- Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc
tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam (khoản 2 điều 9 Nghị định 68). Do điều
kiện cuộc sống hay tính chất công việc họ đang làm mà những người này đã đến và sinh
sống lâu dài tại Việt Nam. Và theo đó một nhu cầu hoàn toàn có khả năng phát sinh đó chính
là việc đăng ký kết hôn. Những đối tượng đó sẽ trở thành chủ thể trong quan hệ kết hôn có
yếu tố nước ngoài khi họ có nguyện vọng kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam.
- Ngoài ra, những công dân Việt Nam ra nước ngoài sinh sống một cách hợp pháp và kết hôn
tại cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cũng được đặt ra và xem đây là một trong những
trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài. Căn cứ để xác lập mối quan hệ hôn nhân ở đây là
theo pháp luật nước ngoài mặc dù chủ thể tham gia là người Việt Nam.
rõ nét, không kể đến những trường hợp nam nữ sống chung với nhau mà không tiến đến
đăng ký kết hôn. Do tính chất phức tạp của quan hệ mà khi đưa ra những biện pháp giải
quyết đòi hỏi những nhà làm luật cũng như những cơ quan có thẩm quyền xem xét dưới
nhiều góc độ khác nhau trên những nguyên tắc nhất định. Qua nghiên cứu và đúc kết từ thực
tiễn, việc xây dựng và áp dung pháp luật về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài cần đáp ứng những nguyên tắc chung sau đây:
1.2.1. Tôn trọng và bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên cơ sở
pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và những nguyên
tắc chung của pháp luật quốc tế.
Đây là một nguyên tắc đóng vai trò quan trọng và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây
dựng pháp luật cũng như đề xuât những giải pháp. Ở Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài được thừa nhận không những trong thực tế mà còn được cụ thể hóa
bằng những quy định của pháp luật. Điều này đã tạo một cơ sở pháp lý để nhà nước quản lý
và nắm bắt được tình hình kết hôn trên thực tế, đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trực tiếp
tham gia vào quan hệ.
Bất kì một quốc gia yêu chuộng hòa bình nào cũng phải tôn trọng và chịu sự chi phối từ
những quy định của luật quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế. Hiện nay, các
nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã tham gia ký kết các Hiệp định, Hiệp định khu
vực, cũng như gia nhập vào các tổ chức quốc tế nhằm mục đích là có được sự hỗ trợ, giúp đỡ
về nhiều phương diện từ quốc tế. Phương hướng để giải quyết những tồn tại đối với hoạt
động kết hôn có yếu tố nước ngoài liên quan trực tiếp đến nhiều vấn đề pháp lý quốc tế.
1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là người Việt Nam hay người nước ngoài đều bình
đẳng và được tôn trọng.
Nhìn chung, chế định kết hôn có yếu tố nước ngoài được Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định và hướng dẫn tại Nghị định số 68 và Nghị định số 69 của Chính phủ đã thể
hiện rõ nét tinh thần của nguyên tắc này, xuất phát từ chính sách chung của Nhà nước nhằm
nâng cao vai trò của yếu tố con người trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã
hội. Trong những năm gần đây, sự qua lại giữa công dân Việt Nam và nguời nước ngoài
ngày càng trở nên phổ biến đòi hỏi quốc gia phải có những định hướng, chính sách phù hợp.
Cụ thể trong chế định hôn nhân có yếu tố nước ngoài, pháp luật Việt Nam đã quy định điều
quy định điều kiện kết hôn gồm 3 nội dung như sau:
1.3.1. Điều kiện về độ tuổi.
“ Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên”
( Khoản 1 điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)
Khi các chủ thể kết hôn với nhau tức là có sự gắn bó về mặt nhân thân, tạo lập một gia đình
mới trong xã hội. Các nhà làm luật đã xây dựng quy phạm về độ tuổi kết hôn nhằm đảm bảo
mục đích của hôn nhân trên thực tế. Căn cứ vào sự phát triển thể chất và mức độ nhận thức
của từng cá nhân để tổng hợp thành quy định chung về độ tuổi áp dụng cho mọi đối tượng
kết hôn.
Phạm vi đối tượng kết hôn theo điều kiện về độ tuổi cũng được mở rộng phản ánh được sự
phát triển về mặt sinh lý, tâm lý con người. Theo đó, bất kỳ các bên nam nữ khi đạt độ tuổi
mà pháp luật quy định thì có quyền kết hôn phù hợp với nguyện vọng của bản thân.
Quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn chỉ đưa ra mức giới hạn tối thiểu mà các chủ thể
kết hôn phải đáp ứng, không yêu cầu về độ chênh lệch tuổi giữa hai bên nam và nữ. Do đó
khi áp dụng pháp luật trên thực tế, tình trạng kết hôn mà nam nữ cách nhau đến vài chục tuổi
đang trở nên phổ biến hiện nay. Điều này một phần đã ảnh hưởng đến sự phát triển của thế
hệ tương lai cũng như những giá trị đạo đức truyền thống trong xã hội.
1.3.2. Điều kiện về sự tự nguyện.
“Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên
nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”
(Khoản 2 điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)
Tự nguyện là sự thống nhất ý chí của các bên lẫn trong cách thể hiện ra bên ngoài. Hai bên
nam nữ tự mình quyết định việc kết hôn, tỏ rõ thái độ ưng thuận lấy nhau và trở thành vợ
chồng, không chịu sự tác động hay chi phối từ bên ngoài.
Theo đó, công dân Việt Nam được tự do quyết định việc kết hôn của mình và pháp luật cũng
tôn trọng quyền này đối với người nước ngoài. Đây là một quy định hoàn toàn phù hợp với
pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế.
Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tình yêu chân chính giữa hai bên nam nữ, được biểu
hiện thông qua sự tự nguyện kết hôn. Do đó, trong một số trường hợp, kết hôn được coi là vi
phạm yếu tố tự nguyện, tức là các chủ thể xác lập mối quan hệ hôn nhân không xuất phát từ
- Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong
phạm vi ba đời.
- Cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với
con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với
con riêng của chồng.
- Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.
1.3.3.1. Người đang có vợ hoặc có chồng là:
Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và đình
nhưng chưa ly hôn;∫
Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/1/1987 và đang chung
sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;∫
Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/1/1987 đến trước ngày
01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng
không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết 02/2002 của Hội
đồng Thẩm phán có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003).∫
1.3.3.2. Người mất năng lực hành vi dân sự là:
Người mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
1.3.3.3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ là:
Giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại. Giữa những người có họ trong
phạm vi ba đời là giữa những người có cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị
em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú,
con bác, con cô,con cậu, con dì là đời thứ ba.
(Hướng dẫn tại các tiểu mục c.1; c.2; c.3 mục c phần 1 Nghị quyết số 02/2000 của Hội đồng
Thẩm phán)
Quan điểm của nhà nước Việt Nam đối với những trường hợp này là dứt khoát và không có
những ngoại lệ, đây là một nội dung mà khi công dân Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài hay người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam đã dẫn đến rất nhiều những xung
đột pháp luật. Tuy nhiên, về mặt khách quan những trường hợp bị cấm kết hôn được đặt ra
trên cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội về tâm lý con người nhưng đây không phải là những
yếu tố bất biến. Khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định cũng như trong nhận thức
chồng nước ngoài cư trú ở nhiều huyện, thị trong tỉnh. Nói chung, hôn nhân có đăng ký, bảo
đảm các điều kiện theo luật định. Tuy nhiên, gần đây tình hình phụ nữ kết hôn với người
nước ngoài tăng mạnh và có diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. từ năm 2005, tình hình phụ
nữ lấy chồng nước ngoài ở Long An tăng nhanh về số lượng, chiếm tỷ lệ cao hơn so với Việt
kiều. Có đến 90/284 trường hợp kết hôn với người Đài Loan, chiếm tỷ lệ gần 30% số kết hôn
có yếu tố nước ngoài. Phụ nữ trong tỉnh lấy chồng Đài Loan trong năm 2005 tập trung nhiều
ở các huyện Đức Hòa, Cần Đước, Cần Giuộc,Bến Lức và thành phố Tân An. Năm 2006, tình
hình phụ nữ kết hôn với người nước ngoài diễn biến phức tạp hơn, số lượng kết hôn tăng
nhanh. Đặc biệt, từ khi Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính
phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch được ban hành thì kết hôn nước ngoài còn hình thành dưới
hình thức khác thông qua thủ tục ghi chú kết hôn (không đăng ký kết hôn tại Việt Nam mà
thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, rồi đem giấy
chứng nhận kết hôn đến Sở Tư pháp thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch). Thủ tục này rất
đơn giản và thực hiện nhanh chóng. Địa bàn cư trú của phụ nữ lấy chồng Đài Loan, Hàn
Quốc cũng có sự chuyển hướng, tập trung nhiều về các huyện vùng sâu, vùng biên giới có
điều kiện kinh tế khó khăn, trong đó nhiều nhất là hai huyện Đức Hoà và Đức Huệ. Trong
năm 2006, riêng hai huyện Đức Hoà, Đức Huệ có 122/339 trường hợp kết hôn với nước
ngoài, chiếm hơn 30% cả tỉnh, trong đó 65 trường hợp ghi chú kết hôn với Hàn Quốc. Năm
2007, số lựơng các vụ kết hôn nước ngoài ở hai huyện trên là 146/325, chiếm gần 50% cả
tỉnh, trong đó Hàn Quốc là 101 trường hợp.
Như vậy thông qua quá trình tìm hiểu các số liệu, một thực tế không thể phủ nhận đó là các
hoạt động đăng ký kế hôn có yếu tố nước ngoài đã không dừng lại ở con số vài chục mà đã
tăng lên vài trăm, vài ngàn trường hợp trong một năm. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh
vẫn là nơi mà tỉ lệ kết hôn chiếm vị trí đáng kể trong cả nước. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà,
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ người kết hôn có yếu tố nước ngoài cao nhất
nước, với trên 60 quốc gia có công dân là chủ thể tham gia vào mối quan hệ hôn nhân với
công dân Việt Nam. Năm 2007, đã có 2.358 phụ nữ của thành phố kết hôn với người nước
ngoài. Tuy nhiên, tình trạng lấy chồng nước ngoài của một bộ phận phụ nữ chủ yếu vì nhu
cầu kinh tế, thông qua các hình thức môi giới hôn nhân, không xuất phát từ tình cảm, tình
yêu để xác lập mối quan hệ hôn nhân hợp pháp, bình đẳng, hạnh phúc.
Tại tỉnh Vĩnh Long:
Năm 2001: 862 trường hợp.
Năm 2002: 716 trường hợp.
Năm 2003: 467 trường hợp(2).
Qua phân tích số liệu: các trường hợp phụ nữ Việt Nam Kết hôn với người nước ngoài nói
chung và người Đài Loan nói riêng tại một số tỉnh thành cho thấy tình hình kết hôn có yếu tố
nước ngoài đang là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội và tỉ lệ phụ nữ kết hôn với người Đài
Loan luôn chiếm một tỉ lệ cao trong tổng số trường hợp. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân
khách quan, chủ quan nhưng không thể phủ nhận những tồn tại đang diễn ra hiện nay.
(1)Báo nhân dân ngày 23/3/2005 về quản lý Nhà Nước đối với quan hệ hôn nhân gia đình có
yêu cầu nước ngoài
(2)Tham luận tình hình ly hôn với người nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long – TAND tỉnh Vĩnh
Long ngày 10/9/2009
2.2. Nguyên nhân của hiện tượng kết hôn có yếu tố nước ngoài
Kết hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề đã và đang diễn ra phổ biến trong xã hội. Sự gia
tăng đáng kể các trường hợp kết hôn hiện nay cũng như những tồn tại trong quá trình thiết
lập mối quan hệ này làm ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình thực tế của xã hội Việt Nam. Do
tính chất mối quan hệ không những liên quan đến pháp luật Việt Nam mà còn ảnh hưởng
đến pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
Do đó, ngay từ khi xuất hiện và được các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có
yếu tố nước ngoài đã phát sinh nhiều hạn chế trong thực tiễn đăng ký kết hôn nói riêng và áp
dụng pháp luật nói chung. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này nhưng chủ yếu và
cốt lõi là xuất phát từ những thay đổi trong tình hình kinh tế và xã hội của đất nước.
2.2.1. Thứ nhất về mặt xã hội
Ngày nay khi cuộc sống của người dân có những thay đổi đáng kể trong nhiều lĩnh vực, đòi
hỏi phải có sự vận động không ngừng của từng cá nhân cụ thể để thích ứng với môi trường
thực tế đó. Xu hướng quốc tế hóa được mở rộng, đưa Việt Nam hòa nhập với cộng đồng thế
giới, tạo ra sự giao lưu liên kết giữa những cá nhân, công dân trong nước với người nước
ngoài. Biểu hiện rõ nét là các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được hình thành và
ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam.