vấn đề lý luận về doanh nghiệp - Pdf 28

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do
kinh doanh và bình đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được bảo đảm trên
cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về
tổ chức doanh nghiệp.
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, pháp luật kinh tế
nói chung và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng, được xây
dựng trên nền tảng những đặc thù về chính trị, kinh tế - xã hội, có tính chất giải
pháp tình thế, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn kinh doanh đặt
ra. Các văn bản pháp luật về doanh nghiệp ngày càng được gia tăng nhanh chóng
cả về số lượng và hình thức văn bản. Tuy nhiên chất lượng của các văn bản này
nhiều khi còn khác nhau.
Với quan điểm xay dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa, những năm gần đây Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Việc ban hành Luật Doanh nghiệp 1999
được xem như một bước phát triển quan trọng, với những tư duy pháp lý mới
trong xây dựng pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống pháp
luật hiện hành về doanh nghiệp vẫn chưa đạt được mức độ hoàn thiện cần thiết,
chưa đáp ứng được tốt các yêu cầu mà thực tiễn kinh doanh đang đặt ra. Những
vấn đề pháp lý về tổ chức doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản pháp
luật khác nhau. Nội dung của các văn bản pháp luật này bộc lộ nhiều bất cập cả
về nội dung pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Tĩnh phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo
là những biểu hiện không hiếm thấy trong pháp luật hiện hành về doanh nghiệp.
Thực tế này là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến kìm hãm sự pháp triển của hoạt
động kinh doanh; tạo ra sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động tiêu
cực đến sản xuất kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh.
Đảng và Nhà nước ta có chủ trương “Đổi mới và hoàn thiện khung pháp
lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động
tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất kinh doanh của mọi
thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau...”. Trên tinh thần đó,

loại hình doanh nghiệp
NỘI DUNG CHÍNH
I/ Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp:
1/ Khái niệm doanh nghiệp:
Khác với nhiều nước trên thế giới, pháp luật hiện hành Việt Nam có đưa ra
định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp tư nhân (1999), Luật
công ty (1990) mà sau đó được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (1999) và mới
đây nhất là Luật Doanh nghiệp (2005) là các văn bản đưa ra định nghĩa chính
thức về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tuy nhiên, ở
một số văn bản pháp luật khác của Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp được xác
định với nội hàm hẹp hơn như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam và các văn
bản hướng dẫn thi hành...
Theo điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 thì Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Phù hợp với
quan điểm chung về doanh nghiệp như vậy, các văn bản pháp luật về tổ chức
doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay chỉ quy định rõ tư cách doanh nghiệp cho
các chủ thể kinh doanh là:
• Doanh nghiệp tư nhân (quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005).
• Các loại công ty: công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn (quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005).
• Công ty Nhà nước (quy định trong Luật Doanh nghiệp Nhà nước).
• Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (quy định trong Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam).
Có thể thấy, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005 có nội
hàm hẹp hơn khái niệm chủ thể kinh doanh theo cách hiểu thông thường. Đây
cũng là cơ sở của quan điểm cho rằng: theo suy luận lôgic từ pháp luật hiện hành
thì hiện nay, không phải tất cả các đơn vị kinh doanh (chủ thể kinh doanh) được
thành lập “nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” đều
được coi là doanh nghiệp. Nhận định này là có cơ sở, bởi lẽ có những chủ thể

với ý nghĩa tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
doanh nghiệp cần được tiếp cận phù hợp với xu hướng phổ biến, đáp ứng đòi hỏi
của sự nghiệp công nghiệp hóa. Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, chúng
ta cần xem xét khái niệm doanh nghiệp từ hai góc độ: kinh tế - xã hội và pháp lý,
gắn với những yếu tố của kinh tế thị trường.
* Từ góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của hệ
thống kinh tế - xã hội. Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể xã hội, sinh
ra với chức năng chủ yếu là hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp được
cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: cơ sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy
quản lý điều hành, người lao động... Với chức năng kinh doanh, doanh nghiệp sử
dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa và
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như toàn xã hội. Sự tồn tại của
doanh nghiệp luôn được đặt trọng môi trường kinh tế - xã hội xác định. Các yếu
tố của môi trường kinh tế - xã hội (cơ chế kinh tế, trình độ phát triển kinh tế, hệ
thống pháp luật, trình độ dân trí, văn hóa kinh doanh...) đều có tác động đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp ở những phương diện và mức độ khác
nhau.
Về mặt thực tiễn, sự hình thành doanh nghiệp là hệ quả tất yếu của sự phát
triển hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp không phải hiện tượng riêng có của
nền kinh tế thị trường, nhưng lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, chỉ trong điều
kiện kinh thế thị trường, doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển đúng với ý
nghĩa đích thực của nó.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp giữ vai trò trung
tâm trong các hoạt động kinh tế, như có ý kiến đã cho rằng “các doanh nghiệp là
những khối chủ chốt của thị trường, sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, tạo
thành cơ sở của trao đổi thị trường”.
* Từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tư
cách chủ thể pháp lý độc lập) và có ngành nghề kinh doanh. Trong điều kiện kinh
tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của
hệ thống pháp luật kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp có những

doanh nghiệp...
Ở hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau thì có sự phân chia các
loại hình doanh nghiệp khác nhau. Ví dụ như ở các nước theo hệ thống Luật án lệ
chia doanh nghiệp ra làm hai nhóm chủ yếu là hãng kinh doanh và công ty; ở các
nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa thì doanh nghiệp được chia thành
hai nhóm là doanh nghiệp cá nhân và công ty; doanh nghiệp theo hệ thống pháp
luật của Trung Quốc gồm: hộ cá thể, doanh nghiệp cá thể (doanh nghiệp tư
nhân), hợp danh, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và công ty.
Ở Việt Nam, do những điều kiện lịch sử, xã hội đặc thù, doanh nghiệp và
pháp luật về doanh nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều điểm khác biệt lớn so với xu
hướng phổ biến trên thế giới, một trong những khác biệt đó là vấn đề loại hình
doanh nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành
bao gồm:
- Một là, doanh nghiệp tư nhân. Theo điều 141 Luật Doanh nghiệp 2005, doanh
nghiệp tư nhân được định nghĩa là “doanh ghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp”.
- Hai là, công ty. Thep pháp luật hiện hành, cách tiếp cận công ty của Việt Nam
có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của hệ thống pháp luật Châu Âu lục
địa, theo đó công ty được chia thành hai nhóm:
• Nhóm công ty có tính chất đối nhân: là công ty hợp danh. Theo khoản 1
điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005, công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít
nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới
một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp
danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành
viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số
vốn đã góp vào công ty.
• Nhóm công ty có tính chất đối vốn: là công ty cổ phần và công ty trách

lâu đời và hiện đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế theo quan điểm kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo điều 1 của Luật
doanh nghiệp Nhà nước 2003, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà
nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức
dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
II/ Tổng quan pháp luật Việt Nam về các loại hình doanh nghiệp:
1/ Những quy định chung của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp:
Theo nghĩa rộng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp là
các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của doanh
nghiệp. Còn theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp
là các quan hệ pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, đó là các quan hệ phát sinh
trong các giai đoạn: gia nhập thị trường, quản trị doanh nghiệp, rút khỏi thị
trường.
Những quy định về doanh nghiệp được nêu trong hệ thống văn bản pháp
luật về doanh nghiệp. Nội dung của pháp luật về doanh nghiệp chủ yếu là những
quy phạm ghi nhận và đảm bảo quyền, đồng thời xác định trách nhiệm của nàh
đầu tư trong việc tổ chức, vận hành doanh nghiệp. Các nhóm quy phạm của pháp
luật Việt Nam về doanh nghiệp bao gồm:
- Một là, các quy định về bản chất pháp lý của loại hình doanh nghiệp. Các quy
định này đưa ra những dấu hiệu pháp lý để xác định loại hình doanh nghiệp. Mỗi
loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý nhất định và cần được xác
định trong luật pháp. Các nhà đầu tư có quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp
phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình, song trong quá trình tổ chức vận
hành doanh nghiệp, phải tuân thủ những quy định vể bản chất của loại hình
doanh nghiệp đã lựa chọn.
- Hai là, các quy định về thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh. Thành
lập doanh nghiệp có ỹ nghĩa xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp. Trong
nền kinh tế thị trường, với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, thành lập
doanh nghiệp được coi là quyền cơ bản của nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự hiện diện
của doanh nghiệp trên thương trường luôn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến những

- Sáu là, các quy định về giải thể doanh nghiệp. Giải thể doanh nghiệp là một
trong những thủ tục pháp lý dẫn đến chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp. Các quy
định pháp luật về giải thể doanh nghiệp bao gồm hai nội dung cơ bản là: các
trường hợp giải thể và thủ tục giải thể. Về nguyên tắc, việc quyết định giải thể
doanh nghiệp thuộc quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi doanh
nghiệp không còn thỏa mãn các điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật
hoặc kinh doanh vi phạm pháp luật thì doanh nghiệp sẽ bị bắt buộc phải giải thể.
Như vậy, phụ thuộc vào các loại hình doanh nghiệp, hệ thống pháp luật về
doanh nghiệp được cấu trúc với những chế định phù hợp với các đặc điểm pháp
lý của từng loại doanh nghiệp.
2/ Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường:
Trong cơ chế thị trường, sự tồn tại của pháp luật là một nhu cầu bắt nguồn
từ chính đòi hỏi của các quan hệ kinh tế. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi pháp luật
phải đảm bảo các quy luật, nguyên tắc của thị trường. Trong quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, pháp luật về doanh nghiệp cùng với các chế
định khác của pháp luật kinh tế, là công cụ không thể thiếu để Nhà nước điều tiết
nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với các
nhà đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp không chỉ có vai trò đảm bảo quyền tự do
và sự bình đẳng mà còn có vai trò đảm bảo sự an toàn trong đầu tư vốn của họ.
Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp thể hiện ở những mặt sau:
- Một là, pháp luật về doanh nghiệp phải đảm bảo quyền tự do của công dân
trong tổ chức hoạt động kinh doanh. Với một xã hội có nhà nước, tự do kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status