Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của một số giống lan đai châu và ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến sinh trưởng của cây tại Gia Lâm, Hà Nội - Pdf 28

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình tìm hiểu và nghiên cứu khóa luận, nhận được sự
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS. Đặng Văn Đông, tôi đã từng bước tiến hành
nghiên cứu khóa luận này với đề tài: “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng của một
số giống lan Đai Châu và ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến sinh trưởng
của cây tại Gia Lâm, Hà Nội
Qua đây, chứng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Đặng Văn Đông,
các anh chị trong Viện nghiên cứu rau quả tại Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, các
thầy cô trong khoa Sinh - KTNN cùng các thầy cô trong trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng tôi xin được chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, tập thể
bạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin được chân thành cảm ơn tất cả!
Hà Nội, tháng năm 2013 Sinh viên
Vũ Thị Huệ
Khtìá luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ Lớp: K35D - SP KTNN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài là do tôi trực tiếp nghiên cứu và có tham khảo
tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả. Tuy nhiên đó là cơ sở để tôi
thực hiện đề tài này. Đề tài này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, các nội
dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được báo
cáo trong các hội nghị khoa học nào. Nếu phát hiện bất cứ gian lận nào tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Vũ Thị Huệ
Khtìá luận tốt

25
3.7
Anh hưởng của chê độ tưới nước tới sinh trưởng của một
số giống lan Đai Châu giai đoạn 3 năm tuổi
26
r
Khoá luận tôt nghiệp
Vũ Thị Huệ Lớp: K35D - SP KTNN
MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài:
Hoa lan là một loại hoa lâu đời và thanh lịch. Đối với người Hy Lạp cổ
đại, hoa lan vinh danh những anh hùng, và sau khi sự gia tăng phổ biến của
những bộ sưu tập phong lan ở Anh thời Victoria, ý nghĩa của hoa phong lan
chuyển dần dần trở thành biểu tượng của sự sang trọng. Hoa lan cũng đã được
cho rằng là một vị thuốc chữa các bệnh khác nhau và phòng bệnh, cho phép
con người tránh khỏi bệnh tật. Người Aztec uống một hỗn hợp của hoa phong
lan vani và sô-cô-la để cung cấp cho họ quyền lực và sức mạnh, và người
Trung Quốc tin rằng hoa lan có thể giúp chữa trị bệnh phổi và ho.
Ngày nay, ý nghĩa của hoa phong lan được coi là một biểu tượng của vẻ
đẹp hiếm thấy và tinh tế. Trong số các loại hoa được biết, hoa lan chiếm một vị
trí đặc biệt như là một trong những loài hoa lôi cuốn và quyến rũ, làm cho
chúng trở thành một sự lựa chọn đặc biệt khi bạn muốn thể hiện tình cảm với
những người quý giá trong cuộc sống của bạn.
Với ước tính khoảng 25.000 loại khác nhau hiện có tự nhiên và hơn thế
nữa các loài hoa lan mới luôn được phát hiện qua mỗi năm, hoa lan thuộc vào
các họ thực vật có hoa lớn nhất. Mỗi loài lan khác nhau có đặc điểm sinh
trưởng và phát triển khác nhau. Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc là
những yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến chất lượng cây và hoa. Đai
Châu là một loài lan có vẻ đẹp quý phái toát lên bởi dáng vẻ của cây: dễ mập,
dài, thân to, khỏe mạnh, lá cây dày và xanh bóng với những cụm hoa dài

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc xuất xứ, phân bế và phân loại của cây hoa lan
1.1.1. Nguồn gốc xuất xứ
Phương Đông chính là nơi đàu tiên cây hoa lan được biết đến. Nói tới
hoa lan là chúng ta không thể không nhắc tới Trung Quốc, theo tác giả
Bretchacidon thì từ đời vua Thần Nông (2800TCN) một số loài lan rừng này
đã được dùng làm thuốc chữa bệnh. Chính vẻ đẹp kiêu sa và hương thơm
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 5 Lớp: K35D - SP KTNN
quyến rũ của nó kết hợp với công dụng chữa bệnh nên loài hoa này đã nhanh
chóng xuất hiện ở Châu Ầu. Pharatus (376-285TCN) được coi là cha đẻ của
ngành lan học, vì ông là người đầu tiên dùng từ Orchids để chỉ một loài hoa
lan củ tròn. Sau đó là Linneaus (1707-1778) và Bron (1773-1858) là những
người đầu tiên phân biệt rõ ràng họ lan với các họ thực vật khác. Nhưng người
đặt nền tảng cho môn học về hoa lan là Joanlind (1779-1885). Vào năm 1836
ông đã công bố tài liệu (A Tabuler View of the tribes of Orchidea) để sắp xếp
loài và chi thuộc họ lan. Tên của họ lan do ông đưa ra vẫn được dùng cho đến
ngày nay [8].
Ở Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về lan ở buổi đầu
chưa được rõ rệt. Người ta không biết chính xác nhưng có
lẽ người đầu tiên khảo sát về lan là nhà truyền giáo Bồ
Đào Nha Joanisde Loureiro, ông đã mô tả cây lan Việt Nam
trong cuốn “ Flora de cochinchinensis” (1789). Chỉ sau
khi người Pháp đến Việt Nam thì mới có những công trình
nghiên cứu được công bố đáng kể là Guillaumin, tác giả đã
mô tả 101 chi gồm 750 loài lan cho cả 3 nước Đông Dương
trong bộ “Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte chủ biên,
xuất bản từ những năm 1932-1934. Theo Phạm Hoàng Hộ, ở
Việt Nam có tới 755 loài lan (Cây cỏ Việt Nam - quyển

hạt châu) mà người bình dân gọi là tai trâu, đuôi chồn hay gọi là lan me (vì
thường mọc trên cây me tại Sài Gòn). Hơn nữa lan Đai Châu lại nở vào mùa
xuân cho nên có thêm tên gọi là Nghinh Xuân. Lan Đai Châu không chịu được
các chất trồng đã cũ, mục xung quanh rễ nhưng cũng không thích việc thay
chậu, chính vì vậy mà cây thường được trồng trong chậu treo, cho rễ đâm
xuống, hoặc có thể đặt chúng trong các giỏ gỗ không càn bổ sung bất kì chất
trồng nào Cây lan này thường có 5-8 lá dài từ 20-30 cm, rộng 4-7 cm, màu
xanh vàng có những sọc trắng và những chấm tím. về hoa thì hoa lan Đai Châu
có thể có đến 50 bông trên mỗi cần hoa. Một cây cỡ trung bình có thể cho 3-4
vòi hoa và nếu nuôi trồng tốt thậm chí có thể cho hoa nhiều hơn. Kamenmoto
và Sagirik (năm 1975) đã báo cáo rằng một cây cỡ lớn ở Băng Kốc có nhiều
nhánh có thể cho tới 30 vòi hoa, đường kính mỗi bông có thể từ 2.5-3.8 cm.
Cây trổ hoa có hương thơm ngát có thể đến 2 tuần lễ. Hoa thường có màu
trắng pha màu đỏ hoặc tím và chúng cũng thường có các cây độc chỉ có một
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 7 Lớp: K35D - SP KTNN
màu. Một số cây trắng tuyền và đỏ tuyền đã được tìm thấy. Các cây cho hoa
màu đỏ do lai tạo đã được tìm ra bởi những người nuôi trồng ở Thái Lan.
Khoảng 80% cây con được sản xuất bằng cách nuôi trồng đã cho ra màu đỏ,
trong đó nếu lai tạo thì dễ dàng hơn. Kamenmoto và Sagarik (năm 1975) đã
báo cáo rằng màu đỏ của những bông hoa này là do bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ
trước mùa ra hoa. Khi nhiệt độ mùa thu ấm hơn bình thường, các sắc tố đỏ sẽ
không phát triển đày đủ và một số trường hợp cây hoa đỏ sẽ cho ra hoa với
màu có lẫn trắng [18].
1.2.2. Yêu cầu về ngoại cảnh của cây lan Đai Châu:
Lan Đai Châu là một loại lan rất ưa thích khí hậu ẩm, nóng vào ban
ngày, lạnh vào ban đêm. Thoáng gió (trong rừng thường sống ở gàn ngọn
những cây có vỏ bị nứt chai). Nhiệt độ ban ngày và ban đêm chênh nhau 10°c
nếu không thỏa mãn những điều kiện về nhiệt độ thì cây sẽ không ra hoa hoặc

thành một mặt hàng có giá trị xuất khẩu.
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học
đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó ngành sản
xuất hoa lan cững không ngoại trừ. Năm 1904, Noel Bemal đã sử dụng phương
pháp cộng sinh nấm để gây nảy mầm cho hạt lan. Nhưng đến năm 1922,
phương pháp gieo hạt trong phòng thí nghiệm mà không cần nấm cộng sinh
của Knudson thành công đã có sự chuyển đổi rõ rệt. Không chỉ dừng lại ở đó,
gàn đây một phương pháp mới đã được ứng dụng thành công trong công tác
nhân giống lan mà chỉ cần trong một thời gian ngắn có thể tạo ra được rất
nhiều cây giống từ các bộ phận sinh dưỡng của chúng - đó chính là phương
pháp nuôi cấy mô đã được Morel khám phá ra. Lúc này ngành sản xuất hoa lan
có nhịp độ phát triển mau lẹ, nhanh chóng vào lĩnh vực thương mại.
Ngày nay lan đã trở thành loại hàng hóa rất được ưa chuộng ở nhiều
quốc gia trên thế giới. Do đó một số nước phát triển như: Pháp, Mỹ, Hà Lan,
Thái Lan, Trung Quốc đã và đang ứng dụng những công nghệ tiên tiến vào
việc nghiên cứu lai tạo ra các giống hoa lan mới có hương thơm và màu sắc đa
dạng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đồng thời cũng
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 9 Lớp: K35D - SP KTNN
nhằm đem lại một nguồn lợi kinh tế đáng kể cho các nước này.
Trung Quốc: Là nước có truyền thống chơi lan lâu đời, đặc biệt là lan
Kiếm. Loài hoa này được coi là quốc hoa của Trung Quốc. Vì thế họ đã tập
F
trung đàu tư nghiên cứu nhất là khoảng 20 năm trở lại đây và đã thu được
những kết quả rực rỡ. Họ đã sử dụng phương pháp lai hữu tính thu quả, sau đó
gieo và tuyển chọn các loài hoa đáp ứng được màu sắc, kiểu dáng sau đó họ sử
dụng kỹ thuật nhân giống vô tính Invỉtro và Invỉvo để tạo ra một lượng cây
giống lớn, sau đó xử lý cho ra hoa đồng loạt để tạo ra sản phẩm hàng hóa có
giá trị kinh tế cao, giá bán 1 cành hoa khoảng từ 5-10 USD.

đặc tính di truyền, biến dị ở mức độ khác nhau như hình thái hay phân tử.
Hiện nay, việc trồng hoa lan ở nước ta chủ yếu ở quy mô hộ gia đình,
diện tích nhỏ lẻ. Chỉ có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nước
ngoài trồng lan tại Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 50-60
ha trên một doanh nghiệp.
Thực tế, việc sản xuất hoa lan ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu
tiêu dùng nội địa. Theo thống kê, hàng năm Việt Nam phải chi hàng tỷ đồng để
nhập lan từ các nước láng giềng nhằm đáp ứng thị trường trong nước. Chỉ tính
riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 doanh số kinh doanh hoa lan và
cây cảnh chỉ đạt 200-300 tỷ đồng, nhưng chỉ trong quý I năm 2006 thì doanh
số này đã đạt 400 tỷ đồng. Trung bình mỗi năm tại thành phố này đã tiêu thụ
khoảng trên một triệu cây lan [9].
Có thể nói, lĩnh vực kinh doanh lan ở Việt Nam còn rất non trẻ, chỉ mới
thực sự bắt đầu được hơn 10 năm trở lại đây. Theo ông Đồng Văn Khiêm -
Giám đốc công ty phong lan xuất khẩu thành phố Hồ Chí Minh thì khó khăn
lớn nhất là nhà nước chưa có chính sách phát triển ngành lan, hơn nữa chính
sách thuế lại không rõ ràng Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lan hiện nay còn qua
ủy thác, không tạo được sự chủ động cho nhà sản xuất.
1.4. Giá tri của lan
Trước tiên xét trên phương diện thẩm mỹ: Từ xưa hoa lan đã được coi là
loại hoa vương giả. Hoa sở dĩ được nhiều người ưa chuộng là bởi màu sắc hoa
thắm tươi, đủ vẻ cùng với trăm ngàn kiểu dáng hoa khác nhau. Không chỉ thế
mà từ những bông hoa xinh đẹp đó còn tỏa ra những mùi hương thoang thoảng,
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 11 Lớp: K35D - SP KTNN
ngọt ngào cũng đã đủ làm ngây ngất lòng người. Khác với các loài
F
hoa sớm nở tối tàn, hữu sắc vô hương, hoa lan được xếp vào hàng vương giả
cũng bởi những lý do riêng của mình. Nếu giữ được đúng nhiệt độ và ẩm độ thì

bảo vệ loài hoa quý giá này có kế hoạch khai thác và tận dụng kho tài nguyên
gen một cách hiệu quả và thiết thực nhất.
1.5. 1.2. về công tác chọn, tạo giống
Trong nhiều năm qua, các nước tiên tiến đã sử dụng các kỹ thuật truyền
thống và hiện đại vào chọn tạo giống hoa nói chung và hoa lan nói riêng đã đạt
được những kết quả rất khả quan, đặc biệt là trên một số giống lan công
nghiệp như Hồ Điệp, Vũ Nữ, Địa lan từ đó ngành sản xuất hoa lan đã mang
lại nguồn lợi kinh tế to lớn cho nền kinh tế của nhiều nước như Hà Lan, Trung
Quốc, Đài Loan, Thái Lan Các phương pháp chủ yếu đã được thế giới áp
dụng gồm: lai hữu tính, xử lý đột biến, chuyển gen.
Khi nghiên cứu về lai tạo giống Hà Tùng (1994) [22] đã lai tạo thành
công giữa 2 dòng: lan Xuân (C. goeringii) X lan Kiếm Tàu (C. sinense). Còn
Lý Phương (1998) [23] đã lai tạo và chọn ra được tổ hợp lai giữa: lan Đài (C.
ỳỉorỉbundum) X lan Huệ (C.ýaberi).
Ngoài việc lai tạo, các nhà nghiên cứu cững quan tâm đến việc tạo các
giống hoa lan mới bằng phương pháp xử lý đột biến. Từ Vệ Huy (1995) [26]
cho rằng sử dụng tia tử ngoại với cường độ thích hợp có tác dụng ngăn chặn
sự phân chia NST trong quá trình giảm phân dẫn đến hình thành tế bào không
đày đủ gây nên sự biến dị. Khi sử dụng tia tử ngoại với cường độ cao, Lâm
Phương (1997) [24] cho rằng nhân tế bào biến đổi, co cụm lại dẫn đến biến dị.
Còn Bành Lục Xuân (2004) [25] với việc sử dụng tia
60
Co-Ỵ với cường độ bán
tử vong đã cho kết quả biến dị rất rõ ràng và không đồng nhất.
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 13 Lớp: K35D - SP KTNN
1.5.2. Một số kết quả nghiên cứu về hoa lan ở Việt Nam
1.5.2.1. Kết quả nghiên cứu về thu thập tập đoàn, đánh giá
nguồn gen

trong và ngoài nước rất ưa chuộng.
Khi nghiên cứu đa dạng di truyền loài lan Hài Đốm (Paphỉopedỉlum
concolor Pfitzerj bản địa của Việt Nam, Khuất Hữu Trung và cộng sự [16] đã
nhận xét: loài lan Hài Đốm (p. concolor Pfltzer) bản địa của Việt Nam rất đa
dạng và phong phú. Các mẫu giống thu thập tại các vùng sinh thái khác nhau đều
có các đặc điểm đặc trưng riêng về hình thái. Kết quả phân tích bằng kỹ thuật
RAPD-PCR chỉ ra hệ số tương đồng di truyền của các mẫu Hài Đốm dao động từ
0,56 đến 0,94; 16 mẫu Hài Đốm nghiên cứu được phân thành 6 nhóm khác nhau.
Phương pháp mô tả đặc điểm hình thái và đánh giá đa hình di truyền ở
mức độ ADN có thể bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau để công việc phân loại dưới loài
trở nên chính xác hơn, phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và sử dụng một
cách có hiệu quả các nguồn gen lan Hài Đốm bản địa của Việt Nam.
Đặng Văn Đông, Chu Thị Ngọc Mỹ, Trần Duy Quý (2009) [3] đã điều tra
sự phân bố của hoa lan Việt Nam và lưu giữ, đánh giá một số giống lan quý tại
Gia Lâm - Hà Nội. Các tác giả đã kết luận: “Việt Nam được chia thành 6 vùng
lan chính, khác nhau về tính đa dạng, độc đáo của lan rừng và sinh thái tự nhiên
của các loài lan này: phía Tây Bắc Bộ; phía Đông Bắc Bộ và Trung tâm Bắc Bộ;
Bắc Trung Bộ; các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ”.
Các tác giả đã thu thập được 1.035 chậu (giò) gồm 50 loài thuộc 17 chi Phong
lan, Địa lan Việt Nam.
Nhiều loại hoa lan có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu tại Gia
Lâm - Hà Nội (Đai Châu, Phi Điệp, Giáng Hương Thơm).
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 15 Lớp: K35D - SP KTNN
Theo Dương Hoa Xô [17], Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ
Chí Minh đã thực hiện dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các
giống hoa lan ”, từ năm 2005 đến nay đã sưu tập được hơn 285 giống hoa lan
thuộc 12 nhóm giống khác nhau {Mokara, Dendrobỉum, Phaỉaenopsis,
Oncỉdỉum ), để phục vụ cho công tác bảo quản nguồn gen và lai tạo giống.

l,35cm; rễ mập 0,4lcm. Giá thể nuôi cây ngoài vườn ươm bọt núi + than củi + tảo
Đài Loan.
Khi nghiên cứu Quy trình kỹ thuật nuôi trồng Địa lan (Cymbỉdỉum spp.)
cấy mô, Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (2008) [13] đã xác định được thời gian
đưa cây ra ngoài vườn ươm tốt nhất ở đồng bằng là các tháng 1, 2, 3, 4,
5, 9, 10, 11, 12 và vùng núi là vào các tháng 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Giá thể cho
tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng phát triển tốt khi đưa ra vườn ươm là: dớn -
xơ dừa với tỷ với tỷ lệ 1:1. Chế độ phân bón luân phiên hợp lý có tác dụng
tốt đến sự sinh trưởng của cây so với bón đơn độc 1 loại phân bón. Chế độ
bón phân tốt nhất cho cây vườn ươm là: 5 lần N:P:K (30:10:10) + 1 lần
N:P:K (20:20:20) + 1 lần dinh dưỡng hữu cơ (sữa cá) + 1 làn vitamin tổng
hợp. Trong các công thức phối trộn giá thể thì công thức giá thể 1/2 rễ cây
dương xỉ +1/4 đất mùn +1/4 phân dê (khô) là tốt nhất. Để cây phát triển
hài hòa cân đối thì công thức phân bón tốt nhất dùng cho cây ngoài vườn
sản xuất là: 3 lần N: P: K (20:20:20) + 1 lần dinh dưỡng hữu cơ (sữa cá) +
1 lần vitamin tổng hợp. Xử lý KH2PO4 có ảnh hưởng tích cực đến sự tăng số
lượng ngồng hoa hình thành so với đối chứng.
Năm 2009, Lê Minh Nguyệt và cộng sự [11] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
môi trường và chất điều hoà sinh trưởng đến khả năng tái sinh và nhân nhanh
giống Hoàng lan thuộc chi lan Kiếm (Cymbỉdỉum). Các tác giả đã khẳng định:
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 17 Lớp: K35D - SP KTNN
môi trường nhân nhanh bổ sung các chất điều hoà sinh trưởng thuộc nhóm auxin
và cytokinin có tác dụng tốt tăng hệ số nhân và chất lượng chồi đối với hai giống
lan CD5 và CD9. Môi trường cho hệ số nhân và chất lượng chồi cao nhất với
giống CD5 là môi trường cơ bản MS bổ sung lmg/lít BAP và 0,3mg/lít NAA.
Môi trường tốt nhất đối với giống CD9 là môi trường cơ bản MS bổ sung lmg/lít
BAP và 0,5mg/lít NAA.
Các chất điều hoà sinh trưởng IBA, kinetin bổ sung riêng rẽ hay tổ hợp với

Giống hoa màu cam + Giống hoa
màu đỏ + Giống hoa màu trắng Các
loại phân bón :
+ Phân Đầu Trâu 009 (Bình Điền) thành phần gồm: 20% đạm (N), 20% lân
(P2O5), 20% kali (K
2
0), lưu huỳnh (S), magiê (Mg), canxi (Ca), kẽm (Zn), sắt
(Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), molypden (Mo), gibberellin, aNAA,
bNOA.
+ Phân Orchid-3 (Grow more) với hàm lượng dinh dưỡng 20%đạm (N),
20% lân (P
2
0
5
), 20% kali (K
2
0), 0,05% đồng (Cu), 0,0005% mangan (Mn),
0, 05% sắt (Fe), 0,05% kẽm (Zn).
+ Phân Plant soul 3 (Trung Quốc) thành phần 20% đạm (N), 20% lân
(P
2
0
5
), 20% kali (K
2
0), 0,1% Mg, 0,009% Bo, 0,02% Cu, 0,05% Mn, 0,002% Mo,
0,02% Zn, 0,0005% Co.
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại khu nhà lưới sản xuất lan Đai Châu, Trung tâm
Hoa cây cảnh, Viện nghiên cứu rau, quả, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội.

. Tưới vào lúc 8 giờ sáng.
CT1: Tưới 1 ngày/lần CT2: Tưới 3 ngày/lần CT3: Tưới 5
ngày/lần
Kho á luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 20 Lớp: K35D - SP KTNN
Chỉ tiêu theo dôi:
+ Đo chiều dài lá (cm): đo từ cuống lá đến ngọn lá.
+ Đo chiều rộng lá (cm): đo chỗ có chiều rộng lớn nhất.
+ Đếm tổng số lá/cây.
Ị 7 Ị »V
+ T~ V Ạ , Ạ _ _ Ậ < *>/_ ■*>
Đêm tông sô rê/cây.
+ Một số chỉ tiêu về hoa của các loại lan Đai Châu: số hoa/bông, chiều
dài ngồng hoa, thời gian nở, thời gian tàn, màu sắc, hương thơm của hoa.
2.3 Xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống kê
sinh học trên phần mềm tin học Excel.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN cứu
3.1. Đặc điểm hình thái của một số giống lan Đai Châu
Mỗi cây trồng nói chung và cây hoa lan Đai Châu nói riêng đều có
những đặc điểm mang tính đặc trưng về hình thái như: thân, rễ, lá, hoa
và mỗi đặc trưng hình thái đều mang đặc tính di truyền của giống. Các chỉ
tiêu hình thái không chỉ là vai trò trong việc nhận biết, phân loại mà còn
là cơ sở cho công tác chọn tạo giống. Quan sát đặc điểm hình thái của các
giống trong thí nghiệm tôi thu được kết quả như bảng 3.1.
Bảng 3.1. Đặc điểm hình thái một số giống lan Đai châu
tai Gia Lâm, Hà Nôi

7

Hoa chùm hoa mọc
từ nách lá, buông
xuống. Mỗi chùm
gồm nhiều hoa nhỏ
xếp dày xít trên
cuống chung. Hoa
màu trắng đốm tím.
Khtìá luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 21 Lớp: K35D - SP KTNN
2
Đai
Châu
cam
Thân
thâp.
Thân
có đốm
màu
cam.
Lá mọc cách dọc
theo 2 bên thân,
phiến lá cứng, lá
xanh đậm, sọc
trắng, chia thùy lệch.
Rê to,
khỏe
Hoa mọc thành chum
ở nách lá, hoa nhỏ,
màu vàng, cánh môi

cánh môi chia 3 thuỳ
nhỏ, mỏng.
4
Đai
châu
trắng
Thân
xanh
sọc
trắng.
Lá song đính, phiên
lá cứng, lá xanh
đậm, sọc trắng, đầu
lá xẻ thuỳ lệch, sâu.
Rê dài, rê
xanh, đầu
rễ trắng.
Chùm hoa mọc từ
nách bẹ lá, dài
ngồng. Hoa trắng
tinh khiết, đỉnh cánh
môi chia 3 thuỳ nhỏ,
mỏng.
Qua kết quả bảng 3.1 cho thấy: các giống lan Đai Châu có những đặc
điểm như bộ rễ dài, to, khỏe do vậy khả năng hút dinh dưỡng và nước tốt. về
hoa thì màu sắc phong phú và có độ bền cao, giá trị thương phẩm lớn.
3.2. Đánh gi á khả năng sinh trưởng của một sổ giếng lan Đai Châu
Số lá và chiều dài, chiều rộng lá là một trong những chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của lan Đai Châu. Kết quả theo
dõi khả năng sinh trưởng của một số giống lan Đai Châu giai đoạn 3 năm tuổi

trắng đốm tím là cao nhất, sau đó tới giống lan Đai Châu màu cam và chậm
nhất
Khtìá luận tốt
nghiệp
Vũ Thị Huệ 23 Lớp: K35D - SP KTNN
là lan Đai Châu màu trắng.
Lan Đai Châu là giống lan đơn thân, phụ sinh và có sự khác biệt giữa các
giống về chiều cao thân và đường kính. Qua quan sát, theo dõi một số giống lan Đai
Châu giai đoạn 3 năm tuổi tôi thu được kết quả như bảng 3.3.
Bảng 3.3. Khả năng tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây của một
số giống lan Đai Châu giai đoạn 3 năm tuổi
Chỉ tiêu
Giống
Chiều cao thân (cm) Đường kính thân (cm)
Hoa màu trăng đôm tím 8,8 1,32
Hoa màu cam 6,5 0,79
Hoa màu đỏ 6,2 0,74
Hoa màu trăng 6,0 0,85
Chiêu cao thân, đường kính thân cũng có sự khác biệt giữa các giông lan Đai
Châu giai đoạn 3 năm tuổi. Chiều cao thân cây đạt từ 6,0 cm - 8,8 cm, đường kính
thân đạt từ 0,74 cm - 1,32 cm. Giống lan Đai Châu màu trắng đốm tím vẫn đứng đầu
về cả chiều cao thân và đường kình thân (chiều cao thân đạt 8,8 cm, đường kính
thân đạt 1,32 cm).
Cũng giống như đặc điểm sinh trưởng và phát triển của là thì sự sinh trưởng
và phát triển của bộ rễ giữa các giống lan Đai Châu là khác nhau. Các chỉ tiêu về rễ
là rất quan trọng, nó thể hiện sức hút các chất dinh dưỡng và hút nước của cây tốt
hay không. Vì vậy căn cứ vào các chỉ tiêu về rễ như số rễ, đường kính có thể đánh
giá được khả năng sinh trưởng của giống nào tốt hơn. Kết quả theo dõi khả năng
tăng trưởng bộ rễ của một số giống lan Đai Châu giai đoạn 3 năm tuổi được trình
bày trong bảng 3.4.

phát triển. Tuy nhiên mỗi loại phân bón khác nhau sẽ có những ảnh hưởng khác tới
sự sinh trưởng và phát triển của cây. Đe tìm ra loại phân bón giúp cây phát triển tốt
hơn, tôi đã tiến hành bố trí thí ngiệm và thu được kết quả như bảng3.5.
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng, phát triển của lan Đai
Châu giai đoạn 3 năm tuổi
Chỉ tiêu
Công thức

rễ/giò
(rễ)
Chiêu
dài rễ
(cm)
Đường
kính rễ
(cm)
Số lá/cây
(lá)
Màu sắc lá
CTl-Đâu trâu 009 9,6 35,9 0,97 6,6 Xanh
r
Khoá luận tôt nghiệp
Vũ Thị Huệ 25 Lớp: K35D - SP KTNN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status