Nghiên cứu hệ thống cây trồng tại xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỀN THỊ CHUYỀN
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
TẠI XÃ VIỆT THỐNG, HUYỆN QUÉ VÕ,
TỈNH BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
TS. DƯƠNG TIẾN VIỆN
HÀ NỘI – 2013
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu săc tới Thầy giáo - Tiến sĩ
Dương Tiến Viện, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây
dựng và hoàn thiện khóa luận.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy (Cô) giáo trong tổ Kỹ
thuật nông nghiệp, khoa sinh - KTNN, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và các
cán bộ của xã Việt Thống, phòng nông nghiệp huyện Quế Võ đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành
bản khóa luận.
Trong quá trình nghiên cứu và làm đề tài chắc không tránh khỏi những thiếu sót, vậy tôi rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy (Cô) giáo và các bạn sinh viên để đề tài này
càng hoàn thiện và mang lại hiệu quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2013 Người thực hiện
Nguyễn Thị Chuyền
Khóa luận này được hoàn thành bởi sự cố gắng, nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu của bản thân cùng
với sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy Dương Tiến Viện cũng như các thầy cô giáo trong tổ
Kỹ thuật nông nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành bài khóa luận này, tôi đã tham khảo một số tài liệu
như đã nêu ở mục tài liệu tham khảo
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với kết quả của

là thực hiện sự nghiệp “Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá” nông thôn trên phạm
vi cả nước. Hiện nay, quỹ đất nông nghiệp ngày càng suy giảm do việc chuyển
đổi mục đích sử dụng để phát triển kinh tế. Do vậy, thâm canh tăng vụ đi đôi với
việc bố trí lại hệ thống cây trồng, nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lợi tự
nhiên, cho hiệu quả cao là một vấn đề cấp thiết.
5. Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng, đánh giá tiềm năng đất
đai, xem xét mức độ thích hợp của các loại hệ thống cây trồng và tình hình sử
dụng đất làm cơ sở cho việc đề xuất một số hướng sản xuất hợp lý là vấn đề có
tính chiến lược và cấp thiết của Quốc gia cũng như từng địa phương. Trong
những năm gần đây, chúng ta đã triển khai nhiều hệ thống cây trồng trên các
vùng đất khác nhau và đã mang lại một số hiệu quả góp phần nâng cao thu nhập
cho người nông dân.
6. Việt Thống là một xã nằm phía Bắc của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Ninh, bao gồm 5 thôn với diện tích tự nhiên là 542,4 ha, có dân số 6.067 người
trong đó thôn đông nhất là thôn Việt Vân với khoảng 2.041 dân tiếp sau đó là
Thống Hạ, Thống Thượng, Yên Ngô và Việt Hưng.
7. Việt Thống là một xã thuần nông, thu nhập chủ yếu dựa vào các
loại nông phẩm và chăn nuôi nhỏ. Tuy vậy, hệ thống cây trồng ở các nông hộ
nhìn chung còn tự phát, chưa hợp lý thiếu kỹ thuật canh tác, ít đầu tư thâm canh
chủ yếu là bóc lột đất, nên đất đai bạc màu nhanh, năng suất các loại cây trồng
nhìn chung còn thấp so với tiềm năng. Mặt khác, xã nằm ven sông nên có một
phần đất ngoài đê là đất phù xa cần được tận dụng triệt để.
5
8. Do vậy, để phát triển nền kinh tế xã Việt Thống, phải đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp bằng cách nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng để
đưa ra hệ thống cây trồng phù hợp. Đưa các giống mới có giá trị cao vào sản
xuất và kỹ thuật trồng trọt hợp lý. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hệ thống cây trồng tại xã Việt Thống, huyện
Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh”
2. Mục đích của đề tài

12. Đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm
an toàn ngày càng cao của nhân dân trong vùng
cũng như góp phần cung cấp cho các đô thị xung
quanh đồng thời tạo nên một vùng hàng hoá xuất
khẩu.
13. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN cứu
1.1. Cff sở khoa học của đề tài
1.1.1. Quan điểm về hệ thống
14. Lý thuyết hệ thống đã được ứng dụng rất rộng rãi trong công tác
nghiên cứu khoa học nông nghiệp cũng như nhiều lĩnh vực khác khác nhau.
15. Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có
quan hệ và tác động qua lại. hệ thống không phải là phép cộng đơn giản của các
yếu tố, các đối tượng mà là sự kết họp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng.
Mỗi hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành, đến lượt mình, nó lại là bộ
phận cấu thành của hệ thống lớn hơn [7].
16. Các yếu tố bên ngoài hệ thống nhưng có tác động tương tác với
hệ thống gọi là yếu tố môi trường. Những yếu tố môi trường tác động lên hệ
7
thống gọi là yếu tố đầu vào, những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại
của hệ thống gọi là yếu tố đầu ra.
17. Theo Hoàng Tụy, 1987 [15], phép biến đổi của hệ thống là khả
năng thực tế khách quan của hệ thống trong việc biến đổi đầu vào thành đầu ra.
Thực trạng của hệ thống là khả năng kết họp giữa đầu vào và đầu ra của hệ
thống tại một thời điểm nhất định. Mục tiêu là trạng thái mà hệ thống mong
muốn và cần đạt tới. Hành vi của hệ thống là tập họp các đầu ra của hệ thốn có
được trên cơ sở các giải pháp thích hợp đem lại hiệu quả cao cho cả hệ thống.
Cơ cấu của hệ thống bao gồm sự sắp xếp các phần tò, các yếu tố trong hệ thống
cùng các mối quan hệ tác động và ràng buộc giữa chúng.
18. Hiện nay nghiên cứu hệ thống có hai phương pháp cơ bản:
19. -Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến một hệ thống đã có sẵn.

1.1.3. Cơ sở lý luận về hệ thống cây trồng
25. Hiện nay, có nhiều khái niệm về hệ thống cây trồng:
26. HTCT là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong
không gian và thời gian trong mọi hệ thống sinh thái nông nghiệp nhằm tận
dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội (Đào Thế Tuấn 1984)
[14].
27. HTCT là hình thức đa canh bao gồm: trồng xen, trồng gối, trồng
luân canh, trồng thành băng, canh tác hỗn họp, vườn hỗn họp các loại cây.
HTCT hay công thức luân canh là tổ họp trong không gian và thời gian của các
cây trồng trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác để sản xuất chúng
(Zandazardatra).
9
28. Như vậy, HTCT là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương
tác giữa các loại cây trồng được bố trí họp lý trong không gian và thời gian tức
là mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau
trên một mảnh đất, trong một hệ sinh thái. Vì vậy, nghiên cứu HTCT là nghiên
cứu: công thức luân canh và hình thức đa canh, cơ cấu cây trồng hay tỷ lệ diện
tích dành cho mùa vụ cây trồng nhất định, kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống
canh tác đó.
29. Cơ sở năng suất của một HTCT là sự tăng trưởng của cây trồng
nó phụ thuộc vào môi trường vật lý, hóa học và kỹ thuật quản lý chăm sóc của
con người. Để xây xựng HTCT họp trước hết phải tìm hiểu mối quan hệ của cây
trồng với môi trường tự nhiên của nó. Từ đó, sắp xếp cây trồng theo không gian,
thời gian cũng như các biện pháp chăm sóc cho phù hợp với môi trường tự
nhiên. Vì vậy việc nghiên cứu HTCT trong hệ thống canh tác là tìm ra các hình
thức trồng trọt có hiệu quả cao nhất. Đồng thời xem xét mối quan hệ tác động
qua lại giữa cây trồng với cây trồng, cây trồng và đất đai, cây trồng với vật nuôi,
cũng như tác động qua lại giữa cây trồng với các hoạt động ngành nghề khác
trong mỗi địa phương.
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống cây trồng

họp thành phức hệ tác động vào cây trồng. Hiểu được mối quan hệ giữa cây
trồng với đất thì sẽ dễ dàng xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý ở một vùng
nào đó. Tùy thuộc vào địa hình, thành phần lý tính và hóa tính của đất để bố trí
cây trồng phù họp.
35. Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ
nước, chế độ không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng. Đất có thảnh phần cơ giới nhẹ
thích hợp cho trồng cây lấy củ. Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên
bề mặt phù hợp cho các cây ưa nước. Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu
1
1
tương thường sinh trưởng tốt và cho và cho năng suất cao trên các loại đất có
thành phần cơ giới nhẹ ( Phạm Bình Quyền và cs, 1992) [9]. Hàm lượng các
chất dinh dưỡng trong đất quyết định đến chất lượng cây trồng hơn là quyết định
đến tính thích ứng, Tuy vậy trong các loại cây trồng cũng có những cây ưa trồng
trên nhứng loại đất có hàm lượng dinh dưỡng cao và cũng có cây chịu được
những loại đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp, đất chua, mặn, có độ độc. Vì vậy,
tùy vào thuộc tính chất của từng loại đất mà con người bố trí cây trồng cho họp
lý.
1.2.4. Cây trồng
36. Cây trồng là thành phần trung tâm của hệ sinh thái đồng ruộng,
bố trí HTCT họp lý là lựa chọn cây trồng nào để lợi dụng tốt nhất các điều kiện
tự nhiên cũng như các nguồn tài nguyên khác của vùng. Sử dụng những nguồn
lợi đó một cách tốt nhất, nghĩa là phải lụa chọn cho cây trồng những điều kiện
thuận lợi nhất để chúng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao.
37. HTCT họp lý ở một vùng nào đó là sự bố trí họp lý của từng loài
cây, giống cây trồng gắn với các yếu tố sinh thái: đất, nước, không khí, năng
lượng mặt trời và nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Rõ ràng, về sức sản xuất,
HTCT bền vững luôn có mối quan hệ phức hợp tương tác giữa các yếu tố sinh
thái này mà con người cần hiểu sâu sắc những yếu tố chi phối đó để chúng được
quản lý như một hệ thống tổng họp.

và tinh thần của toàn xã hội khi nguồn lự nhiên có giới hạn. Vận dụng vào phát
triển bền vững hệ thống cây trồng cho thấy cần tận dụng triệt để điều kiện tự
nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng, chủng loại cây trồng sao cho họp lý trên một
đơn vị diện tích. Đồng thời có thể tăng vụ, thay đổi giống cây trồng hoặc tăng
đầu tư thâm canh nhằm khai thác tối đa điều kiện tự nhiên. Tóm lại, về mặt kinh
tế cơ cấu cây trồng cần thỏa mãn các điều kiện:
1
3
45. + Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
+ Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận
dụng các nguồn lợi tư nhiên
46. + Đảm bảo thu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế
+ Đảm bảo chất lượng và giá trị hàng hóa cao hơn cơ cấu cây trồng cũ + Khi
đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một số chỉ tiêu
như : năng suất, tổng sản lượng Việc đánh giá này rất phức tạp do giá cả sản
phẩm luôn biến động.
1.2.7. Thị trường
47. Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến HTCT hợp lý. Theo cơ
cấu thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề: Trồng cây gì,
giống như thế nào và sản phẩm của chúng cung cấp ở đâu, cho ai. Thông qua sự
vận động của giá cả, thị trường có tác dụng định hướng cho người ssanr xuất nên
trồng cây gì, với số lượng chi phí như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của xã
hội và thu được kết quả cao. Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh
quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng , mà vụ cho phù họp với thị trường.
Thị trường có tác dụng điều chỉnh HTCT, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt
hiệu quả cao hơn, cải tiến HTCT chính là điều kiện à yêu cầu để mở rộng thị
trường (Nguyễn Cúc và cs, 2007) [1].
48. 1.2.8 Nông hộ
49. Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông
thôn chủ yếu được thực hiện qua nông hộ. Do vậy, quá trình chuyển đổi HTCT

nước Châu Á đã đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo
hướng lấy cây lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, chế độ
xen canh, gối vụ ngày càng được chú ý nghiên cứu. Ở châu Á hình thành “Mạng
1
5
lưới hệ canh tác châu Á”- một tổ chức họp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu
lúa quốc tế (IRRI) với nhiều quốc gia trong vùng, nhằm giải quyết 3 vấn đề:
54. + Tăng vụ bằng trồng cây ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa
lũ;
55. + Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh,
luân canh tăng vụ;
56. + Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và
khắc phục những yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao (Lý
Nhạc và các cộng sự, 1987) [8].
57. Một số nước ở khu vực Đông nam Á đã có nhiều công trình
nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, kết quả nghiên cứu đã
góp phần nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của cây trồng. Ở
Philippin đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các loại đất cao và
thấp trong điều kiện có tưới và nhờ nước trời. Còn Indonesia đã thử nghiệm các
mô hình tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng trên các loại đất có tưới 10 tháng, 7
tháng và 5 tháng. Những mô hình thử nghiệm có 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 2 vụ lúa - 1
vụ màu, 1 vụ lúa - 1 vụ màu đã được áp dụng và nhân ra diện rộng, các cây màu
chủ yếu là cây họ đậu, các loại rau, ngô.
58. Trong nhiều nghiên cứu sử dụng khai thác họp lý đất dốc ở Thái
Lan thì việc trồng cây họ đậu thành băng theo đường đồng mức góp phần hạn
chế chống xói mòn rất hiệu quả. Hệ thống trồng xen cây họ đậu với cây lương
thực trên đất dốc ngoài việc làm tăng năng suất cây trồng thì đất còn được cải
tạo nhờ được tăng cường thêm chất hữu cơ tại chỗ và tăng nguồn vi sinh vật có
ích trong đất. Qua đó bình quân lương thực của Thái Lan trong 10 năm (1977 -
1987) đã tăng 3%, trong đó lúa gạo tăng 2,4%, ngô tăng 6,1%, ngoài ra các cây

7
nước ta ngày càng nhiều và đã làm cho hệ thống cây trồng ở một số vùng có
những thay đổi đáng kể (Bùi Huy Đáp, 1993) [5].
63. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà năng suất lúa chiêm
bình quân toàn miền Bắc chỉ đạt 13,61 tạ/ha, các nhà khoa học đã dày công
nghiên cứu đưa vụ lúa xuân trở thành vụ sản xuất chính, thay thế dần cho vụ lúa
chiêm. Một hệ thống gieo cấy lúa xuân tương đối hoàn chỉnh đã được xây dựng
từ vụ xuân 1968 ở huyện Hải Hậu - Nam Định với 100% diện tích lúa xuân. Đến
năm 1971, diện tích cấy lúa xuân ở đồng bằng sông Hồng vượt lúa chiêm và đã
tạo ra năng suất bình quân 31,9 tạ/ha và vào năm 1985 tỉnh Thái Bình đạt năng
suất lúa xuân là 52tạ/ha. Sự nhảy vọt về năng suất là kết quả của vụ lúa xuân với
các giống lúa năng suất cao, Ngoài ra cùng với vụ lúa xuân là sự ra đời của vụ
đông với các giống cây trồng có nguồn gốc ôn đới như bắp cải, xu hào, khoai
tây, cà chua, Từ đó đã đưa ra công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa - vụ
đông hoặc màu xuân - lúa mùa - vụ đông đạt hiệu quả cao. (Bùi Huy Đáp, 1977)
[2].
64. Trong hệ thống luân canh trên đất bạc màu ở miền Bắc Việt
Nam, cây vụ đông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, nhờ vụ đông mà
đất trồng được che phủ trong suốt thời kỳ khí hậu khô hạn (trong điều kiện khô
hạn, đất màu bị thoái hoá nhanh nhất, đồng thời các chất hữu cơ phân huỷ
mạnh). Cây vụ đông đã làm tăng độ ẩm của đất từ 30 - 50% so với không trồng
cây vụ đông. Đất bạc màu có trồng cây vụ đông đều làm tăng năng suất cây
trồng vụ sau một cách rõ rệt (Bùi Huy Đáp, 1979) [3].
65. Theo Bùi Huy Đáp (1993) [8] sắp xếp lại cách sản xuất, bố trí lại
các chế độ luân canh, sử dụng đất đai họp lý hơn và phù hợp với điều kiện tự
nhiên của mỗi địa phương thì có thể đưa vụ đông thành một vụ cây trồng chính.
Diện tích cấy lúa 2 vụ khi cấy lúa xuân đã tạo điều kiện cho việc gieo trồng một
1
8
loại cây vụ đông. Trên những chân ruộng vàn hay cao nếu cấy lúa Mùa sớm

một cách đáng kể qua các năm gần đây đã gây ra áp lực rất lớn cho ngàng nông
nghiệp. Nhưng do việc luân canh tăng vụ, sử dụng những giống cây trồng mới
có năng suất cao, chất lượng tốt mà các nhà nông học đã chọn tạo ra, cơ cấu mùa
vụ thích họp đã đảm bảo được an ninh lương thực, đáp ứng đầy đủ nhu cầu
của không những người dân trong nước mà còn xuất khẩu nông sản tương đối ổn
định trong những năm vừa qua
70. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP
71. • 7 •
72. NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Việt Thống
- Hệ thống cây trồng trên địa bàn xã Việt Thống
2.2. Nội dung nghiền cứu
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội đến hệ thống cây
trồng.
- Đánh giá hiện trạng hệ thống cây trồng trên địa bàn xã Việt Thống.
- Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật góp phần phát triển hệ thống cây trồng ở
xã Việt Thống.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển hệ thống cây trồng theo
hướng bền vững.
2.3. Phưcrng pháp nghiên cứu
- Điều tra số liệu sơ cấp: thông tin được công bố từ các báo cáo, bài báo, từ
các cơ quan tại địa phương và các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành.
2
0
- Điều tra số liệu sơ cấp: đối với việc thu thập số liệu từ điều tra các nông
hộ. Công việc điều tra được áp dụng theo phương pháp điều tra nông
thôn có sự tham gia của người dân (PRA).
- Phỏng vấn trực tiếp hoặc thông qua phiếu.

thuận lợi và bất thuận cho cây trồng, vật nuôi phát triển. Do khí hậu thời tiết
mang tính biến động cao nên tạo cho vùng có những sản phẩm cây trồng tương
đối phong phú. Mùa hè trồng được các loại cây nhiệt đới, mùa đông trồng được
các loại cây ôn đới và á nhiệt đới. Tuy nhiên khí hậu đôi khi cũng gây khó khăn
cho sản xuất nông nghiệp như vào mùa hạ khi bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt
đới hoặc bão, kèm theo mưa lớn kéo dài, gây ngập úng cho các vùng thấp trũng,
mùa đông nhiệt độ thấp kéo dài khiến cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng phát
triển chậm.
81. 3.1.1.3 Nguồn nước và chế độ thuỷ văn
82. Xã Việt Thống được bao bọc bởi con sông cầu tạo thành hệ thống
cung cấp nước tưới cho sinh hoạt và sản xuất. Ngoài ra con sông này cung cấp
nguồn phù sa đáng kể cho vùng đất bãi ven sông và những vùng đất phù sa được
bồi đắp hàng năm, góp phần phát triển các công thức luân canh, tăng vụ đặc biệt
là cây vụ đông, vụ xuân ở vùng đất bãi ven sông. Hàng năm nước lũ xuất hiện từ
tháng 6 cho đến tháng 9, lúc này mặt sông rộng, nước chảy mạnh, vào mùa khô
lòng sông hẹp, lưu lượng nước thấp, cũng gây ra những trở ngại đáng kể cho sản
xuất cũng như giao thông của nhân dân.
83. Ngoài ra, xã có hệ thống kênh, mương nổi, ao hồ phân bố rộng
khắp trên địa bàn, lại được hai trạm bơm tưới tiêu kịp thời tạo điều kiện thuận
lợi cho sinh hoạt và sản xuất.
3.1.1.4. Tài nguyên đất
2
2
84. Theo số liệu điều tra thổ nhưỡng, xã Việt Thống có các loại đất
sau:
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Diện tích 9,43ha chiếm 2,9% diện
tích tự nhiên toàn xã. Đất có phản ứng chua pH
K
ci4,0-4,5 thành phần cơ
giới cát pha. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số trung bình thấp, kali

86. Đặc điểm địa chất xã Việt Thống mang những nét đặc trưng của
cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng; bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ
rệt của cấu trúc mỏng. Tuy nhiên, nằm trong miền kiến tạo Đông bắc Bắc bộ
nên cấu trúc địa chất có những nét còn mang tính chất của cánh cung Đông
Triều vùng Đông Bắc.
87. Nhìn chung địa hình, địa chất toàn xã thuận lợi cho việc xây dựng
cơ sở hạ tầng, mở rộng và xây dựng mới các khu dân cư, kiến thiết ruộng đồng
3.1.2. Điều kiên kinh tế - xã hôi
• •
3.1.2.1. Dân sổ và lao động
88. Dân số toàn xã Việt Thống năm 2012 là 6.025 người, có 3.293
người trong độ tuổi lao động, vời rỷ lệ tăng dân số bình quân là 0,8%. Qua tình
hình điều tra dân số thấy rằng xã có một nguồn nhân lực tương đối dồi dào, tỷ lệ
người trong độ tuổi lao động cao và có xu hướng ngày càng tăng thích nghi và
đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới. Đây là một thuận lợi
cho việc phát triển các ngành kinh tế đặc biệt về phát triển nông nghiệp hàng
hoá.
3.1.2.2. Hiện trạng mạng lưới giao
thông a) Thực trạng mạng lưới
giao thông
89. Việt Thống xa trung tâm huyện, không có đường quốc lộ, tỉnh lộ,
các trục đường chính của huyện chạy qua, nên rất khó khăn cho việc giao thông
đi lại và vận chuyển hàng hóa.
2
4
90. Giao thông trong xã được cải thiện, toàn xã đã có 8,5km đường
bê tông, giải cấp phối 5km, còn lại là 6km đường đất, trong đó các tuyến đường
liên thôn,liên xã đều đã được bê tông hóa. Bên cạnh đó, xã nằm chạy dài theo bờ
đê sông Cầu, con sông này có khả năng cho các phương tiện thuỷ có trọng tải
200-400 tấn đi qua vào mùa mưa, tuy nhiên vào mùa khô chỉ có khả năng cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status