Nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất kinh doanh gốm tại xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 13

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành gốm Việt Nam có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo
việc làm và thu nhập cho số đông lao động ở một số địa phương trên cả nước. Các
sản phẩm gốm của các làng nghề không những được ưa chuộng trong nước mà còn
được phát triển và ưa chuộng rộng rãi ở nước ngoài. Tuy nhiên ngày nay sản phẩm
gốm của Việt Nam cũng phải chịu sức ép cạnh tranh mạnh mẽ với những sản phẩm
ngoại về mẫu mã, chủng loại và chất lượng… ( Lê Thị Anh Tiến, 2010)
Hiện nay việc sản xuất gốm tại các làng nghề chủ yếu là các hộ gia đình tự
đứng lên thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Hộ SXKD với trình độ sản xuất ở mức thấp, chủ yếu
là sản xuất thủ công, truyền thống, lao động chân tay là chính, máy móc sử dụng
trong sản xuất ít, giản đơn, tổ chức sản xuất mang tính tự phát, lề lối kinh doanh còn
nặng nề về sản xuất nhỏ vì vậy nên quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và không tập
trung. Trình độ học vấn, trình độ tay nghề của lao động còn thấp, việc tổ chức sản
xuất kinh doanh của các hộ chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm nên chất lượng sản xuất
kinh doanh chưa cao và thiếu tính bền vững. Sản xuất truyền thống thủ công nên
chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa cao, tiêu thụ khó khăn, chưa nắm bắt được thị
trường nên còn thụ động , hiệu quả thấp (Ngô Văn Bắc, 2007).
Trước xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta gia nhập tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), cùng với những tiến bộ và sự thay đổi mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật, sản xuất gốm đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình
phát triển, khó khăn lớn nhất phải nói đến chính là sự cạnh tranh gay gắt của các sản
phẩm cùng loại hoặc các sản phẩm thay thế trong nước cũng như nước ngoài. Thực tế
hiện nay cho thấy rằng các hộ SXKD gốm không chỉ chơi trong sân chơi trong nước mà
chơi trên sân chơi toàn cầu, những sản phẩm gốm ngoại từ Trung Quốc, từ Nhật Bản
hiện nay tràn ngập rất nhiều trên thị trường gốm ở Việt Nam và cạnh tranh rất gay gắt về
giá cả, mẫu mã, chất lượng với sản phẩm gốm trong nước, chính vì vậy đòi hỏi các hộ
SXKD gốm trong nước cần phải cải tiến công nghệ kỹ thuật, nâng cao trình độ, tay nghề
1
người lao động,… thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, có như vậy mới có những sản

- Phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh gốm sứ của các hộ gia đình tại
làng gốm sứ Phù Lãng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh; Xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh gốm sứ của các hộ.
- Đề xuất giải pháp phát triển của các hộ sản xuất kinh doanh gốm tại
Phù Lãng.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình sản xuất kinh doanh của các hộ
SXKD gốm như thế nào?
- Thực trạng sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm ở xã Phù Lãng đang
diễn ra như thế nào?
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến tình hình
sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm Phù Lãng?
- Để đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm Phù
Lãng cần có những giải pháp gì?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sản xuất kinh doanh và kết quả, hiệu quả sản
xuất kinh doanh gốm của các hộ gia đình tại Phù Lãng.
* Khách thể nghiên cứu: Hộ gia đình sản xuất gốm
Cơ quan quản lý tại địa phương
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung:
- Thực trạng sản xuất kinh doanh gốm của các hộ SXKD ở Phù Lãng.
- Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các hộ
SXKD gốm Phù Lãng.
- Giải pháp đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm
Phù Lãng.
* Phạm vi thời gian:
Số liệu nghiên cứu sử dụng trong đề tài từ năm 2009 – 2011
* Phạm vi không gian

xuất kinh doanh của mình.
Kết quả, hiệu quả sản xuất gốm của hộ SXKD
4
- Kết quả sản xuất: Kết quả sản xuất kinh doanh là những sản phẩm mang lại
lợi ích tiêu dùng xã hội được thể hiện là sản phẩm vật chất hoặc sản phẩm phi vật
chất. Những sản phẩm này phải phù hợp với lợi ích kinh tế và trình độ văn minh của
tiêu dùng xã hội. Nó phải được người tiêu dùng chấp nhận (Chu Văn Tuấn, 2001).
- Hiệu quả sản xuất: là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển theo
chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình
tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt
hiệu quả cao nhất (Chu Văn Tuấn, 2001).
* Kết quả, hiệu quả sản xuất của hộ SXKD gốm
- Kết quả sản xuất của hộ SXKD gốm: là những sản phẩm gốm, được các hộ
SXKD sử dụng nguyên liệu đầu vào, sử dụng công nghệ kỹ thuật… để tạo ra những
sản phẩm gốm hoàn chỉnh. Sản phẩm gốm mang lại những lợi ích nhất định cho
người tiêu dùng và được người tiêu dùng chấp nhận.
- Hiệu quả sản xuất của hộ SXKD gốm: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực đầu vào như đất sét, củi, lao động…, sử dụng công nghệ kỹ thuật với chi phí bỏ
ra thấp nhất nhưng tạo ra sản phẩm gốm nhiều nhất, chất lượng tốt nhất…
2.1.2 Vai trò của việc nghiên cứu sản xuất kinh doanh gốm của hộ SXKD
Để phát triển thì việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm là
điều cần thiết và quan trọng mà bất kì hộ SXKD nào cũng cần phải chú ý. Việc
nghiên cứu sản xuất kinh doanh gốm của hộ SXKD gốm có những vai trò như sau:
Tìm hiểu thực trạng sản xuất kinh doanh gốm của các hộ SXKD để tìm ra
những khó khăn, thuận lợi trong việc sản xuất gốm. Tồn tại những khó khăn gì,
vướng mắc gì trong quá trình sản xuất gốm để có những biện pháp khắc phục, hạn
chế những khó khăn đó. Đồng thời nhận biết sản xuất gốm có những thuận lợi gì để
có thể tận dụng những thuận lợi đó để phát triển, thúc đẩy sản xuất gốm.
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của hộ SXKD
gốm Phù Lãng. Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, hoặc mức độ ảnh

làng, họ bỏ học từ sớm, học sản xuất gốm qua truyền nghề từ những người nghệ
nhân chứ không qua đào tạo trường lớp chính quy vì thế nên mà trình độ học vấn,
trình độ tay nghề của người lao động còn thấp. Trong khi đó, sản xuất gốm chủ yếu
là sản xuất thủ công, lao động chân tay là chính, chính vì thế nên chất lượng lao
động đã ảnh hưởng trực tiếp không tốt đến chất lượng sản phẩm gốm.
6
Sản phẩm sản xuất tại các hộ SXKD tại Phù Lãng chủ yếu là các sản phẩm
gốm gia dụng như chum , vại, tiểu, sành…
Các hộ SXKD gốm chủ yếu thường gắn liền với sản xuất nông nghiệp, sản
xuất chỉ mang tính mùa vụ, cộng thêm năng suất lao động thấp nên sản xuất vẫn
chưa đảm bảo được nguồn thu nhập cho cuộc sống. Các hộ SXKD thường sản xuất
kiêm nhiều ngành nghề khác để có thể tăng thu nhập cho gia đình (Phạm Thanh
Trang, 2009), (Ngô Văn Bắc, 2007).
Với những đặc điểm như trên thì các hộ SXKD gốm nói chung và hộ SXKD
gốm Phù Lãng nói riêng muốn thúc đẩy, phát triển sản xuất kinh doanh thì cần có
những giải pháp thiết thực hơn như nâng cao chất lượng nguồn lao động, tăng
nguồn vốn sản xuất, mở rộng quy mô, sản xuất tập trung và liên tục… Có như vậy
mới có thể thúc đẩy sản xuất phát triển được.
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm Phù
Lãng
2.1.4.1 Thị trường tiêu thụ và đối thủ cạnh tranh
Thị trường tiêu thụ là nơi diễn ra mua bán trao đổi các loại hàng hóa, những
loại hàng hóa cùng loại hay thay thế sẽ cạnh tranh với nhau gay gắt để tìm khách
hàng. Khi hoạt động SXKD diễn ra, các sản phẩm gốm được sản xuất ra thì các hộ
SXKD gốm quan tâm đầu tiên đến thị trường tiêu thụ, để biết được những biến
động của nhu cầu xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại, cơ cấu của sản phẩm
gốm, giá cả, tình hình cung cầu về sản phẩm gốm. Trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay thì các hộ SXKD phải tự tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm
của mình. Chính vì vậy thị trường tiêu thụ có những tác động nhất định đến sản xuất
kinh doanh của các hộ SXKD gốm tại Phù Lãng (Đinh Thị Niên, 2009).

hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất ra sản phẩm. Đối với sản xuất gốm cũng vậy,
các hộ SXKD gốm cần phải quan tâm đến nguồn nguyên vật liệu sản xuất, mà ở đây
là đất sét, là củi, là tro rừng…đầu tiên. Nếu nguồn nguyên liệu này có sẵn, dễ khai
thác, dễ vận chuyển thì hoạt động sản xuất của các hộ SXKD gốm sẽ trở nên dễ
dàng hơn rất nhiều, ngược lại nếu nguồn nguyên vật liệu khan hiếm hoặc giá cả quá
cao sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, gây khó khăn, cản trở cho sản xuất của
các hộ SXKD gốm (Nguyễn Huy Long, 2010).
8
Chủ động trong khâu nguyên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, tiết
kiệm sẽ giúp giảm đi chi phí trong quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn… để có thể sản xuất được nhiều sản phẩm gốm hơn, chất lượng tốt hơn và
quan trọng nhất là hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ SXKD phát triển.
2.1.4.4 Nguồn nhân lực
Quá trình sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động luôn giữ vai trò chủ đạo,
nhất là đối với sản xuất gốm làm thủ công là chủ yếu. Lực lượng lao động trình độ
chuyên môn cao sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, lao động không chỉ đơn thuần tạo
ra số lượng sản phẩm mà còn có tính quyết định đến chất lượng sản phẩm.
Đối với các hộ SXKD gốm, lao động thường là học do truyền nghề, không
được học qua một trường lớp đào tạo chính quy nào vì vậy trình độ tay nghề không
cao, và vì thế mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các
hộ SXKD gốm. Các sản phẩm làm ra không được tinh xảo, chất lượng sản phẩm
không cao.
Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động, trình độ tay nghề người lao
động là việc cần thiết để sản xuất sản phẩm phát triển, nâng cao năng suất lao
động của người lao động tại các hộ SXKD gốm.
2.1.4.5 Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và khoa học công nghệ
Cơ sở vật chất kỹ thuật là phương tiện sử dụng vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố tạo ra tiềm năng tăng năng suất lao động
và hiệu quả kinh doanh.
Hiện nay các hộ SXKD gốm đa phần sử dụng phương pháp thủ công để sản

Đề tài nghiên cứu về từng công đoạn trong sản xuất gốm, có những công
đoạn như nào? làm như thế nào? và sắp xếp các công đoạn ra sao?
Chi phí sản xuất của các hộ SXKD gốm
Đề tài đi nghiên cứu về chi phí sản xuất của các hộ SXKD gốm, tìm hiểu
xem năm 2011 mỗi hộ phải bỏ ra bao nhiêu là chi phí cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, và chi cho những hoạt động gì khác nữa? Đi sâu tìm hiểu từng loại
chi phí cho từng nguyên liệu đầu vào, cho máy móc sử dụng trong quá trình sản
xuất, chi phí vận chuyển, …hay chi phí khác như thuế, công lao động thuê…
10
Từ đó có thể rút ra giá thành sản phẩm phụ thuộc vào chi phí của yếu tố nào
là chủ yếu? Đưa ra những giải pháp giảm tối đa chi phí để có thể hạ thấp giá thành
sản phẩm.
* Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ SXKD gốm Phù Lãng
Các kênh tiêu thụ chính của sản phẩm gốm Phù Lãng
Trong một vài năm gần đây hoạt động sản xuất tiêu thụ gốm của Phù Lãng
đã có những sự phát triển, sản phẩm được người tiêu dùng chú ý hơn. Sản phẩm
được tiêu thụ không chỉ ở những kênh truyền thống mà còn được tiêu thụ qua
nhiều kênh mới.
Đề tài sẽ đi nghiên cứu về các kênh tiêu thụ chính sản phẩm của các hộ
SXKD gốm Phù Lãng, từng kênh có những đặc trưng riêng gì? Thuận lợi gì?
Thị trường tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm gốm Phù Lãng
Đề tài tiếp tục nghiên cứu về thị trường tiêu thụ của sản phẩm gốm Phù
Lãng. Đối với thị trường nội địa thì sản phẩm gốm Phù Lãng được tiêu thụ ra sao?
Đối với thị trường xuất khẩu thì được tiêu thụ như thế nào?
Hiện nay trong cơ chế thị trường các sản phẩm không chỉ cạnh tranh với
những sản phẩm cùng loại mà còn cạnh tranh với những sản phẩm khác có khả năng
thay thế. Vậy thì sản phẩm gốm Phù Lãng đứng ở đâu trên thị trường gốm sứ Việt
Nam? Có vị trí như nào trong lòng người tiêu dùng? Đề tài sẽ đi nghiên cứu và làm
rõ vấn đề này.
* Kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm Phù

của làng nghề. Sự chuyển biến quan trọng này đã được tác động bởi các đường
lối, chính sách trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế nông thôn, đề
ra nhiều biện pháp, chính sách phát triển toàn diện kinh tế- xã hội nông thôn,
trong đó có làng nghề và đặc biệt hơn là làng nghề truyền thống. Trên cơ sở của
sự đổi mới đường lối kinh tế , một loạt các văn bản pháp luật ra đời như : luật
doanh nghiệp, luật công ty, luật hợp tác xã…tạo môi trường pháp lý thuận lợi
cho sự phát triển của làng nghề.
12
- Quyết định 2636-QD-BNN-CB phê duyệt Chương trình Bảo tồn và phát triển
làng nghề do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Với mục
tiêu: Phát triển làng nghề, ngành nghề, dịch vụ, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát huy bản sắc dân tộc trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
-Quyết định 132/2000/QĐ–TTg về một số chính sách khuyến khích phát
triển làng nghề nông thôn. Quyết định được ban hành bao gồm các quy định về
ngành nghề nông thôn và chủ trương phát triển làng nghề như: quy hoạch và định
hướng phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn theo cơ chế thị trường, các yếu tố
phục vụ mục đích sản xuất của làng nghề như đất đai, nguyên liệu, vốn, quy định
chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ.
-Nghị định 66/2006/NĐ-CP về nội dung và những chính sách phát triển
ngành nghề nông thôn. Trong đó có những chính sách khuyến khích như:
Bảo tổn và phát triển làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề gắn với du
lịch; phát triển làng nghề mới.
Tạo điều kiện thuận lợi về giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất tại
các cụm cơ sở ngành nghề nông thôn và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Được hưởng ưu đãi đầu tư theo luật đầu tư; hỗ trợ lãi suất đầu tư theo quy định
hiện hành; vay vốn từ quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm theo quyết định hiện hành;…
Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ sở ngành
nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiện hành của xúc tiến

Tuy nhiên, những chính sách này khi đi vào thực thi lại tồn tại những bất cập
như không phải bất kì chính sách nào cũng được thi hành ở các địa phương làng
nghề, hoặc các chính sách chưa thật sự về đến các làng nghề, ví dụ tại Phù Lãng khi
được hỏi về những lợi ích mà chính sách mang lại, những chủ hộ đã nói rằng không
được phổ biến về các chính sách, không biết nó có hỗ trợ được gì cho sản xuất của
họ hay không.
Một vấn đề nữa là các chính sách đưa ra để hỗ trợ hộ SXKD phát triển sản
xuất kinh doanh nhưng liệu các chính sách đó đã thực sự phù hợp và thiết thực với
điều kiện, những khó khăn tồn tại của hoạt động sản xuất tại những hộ SXKD hay
chưa? Tại Bát Tràng đến nay hầu như chưa có công ty, hộ sản xuất nào tiếp cận
14
“ Tôi không được biết đến các chính sách hỗ trợ của nhà nước, chúng tôi
không được phổ biến về các chính sách đó nên không biết là nó có hỗ trợ được
gì cho sản xuất kinh doanh hay không. Chúng tôi chỉ biết sản xuất gốm thôi chứ
không quan tâm đến những chính sách đó.”
( Nguyễn Văn Toán, 47t, Phù Lãng)
được khoản vay kích cầu vì theo ông Chủ tịch xã “chủ trương là các cơ sở phải đầu
tư thực sự, phải có hóa đơn để chứng minh, không phải vay để trả nợ”, trong khi lại
có rất nhiều hộ lại cần tiền để… trả nợ (Tiến Dũng, 2009)…
Những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cần phải có
những cơ chế chính sách triển khai cụ thể thì mới có thể có hiệu quả tốt nhất được.
Ngoài ra, cần có những chính sách linh động hơn, phù hợp và thiết thực với thực
tiễn để có thể tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh của các hộ
SXKD tại các làng nghề.
2.2.2 Đặc điểm sản xuất gốm của các hộ SXKD ở trong nước
Nước ta có truyền thống sản xuất gốm sứ lâu đời và có người đã đánh giá là
một cường quốc về xuất khẩu sản phẩm gốm sứ với các địa chỉ làng nghề như gốm
Bát Tràng ( Hà Nội), Chu Đậu, Hợp Lệ ( Hải Dương), Thổ Hà, Phù Lãng ( Bắc
Ninh) … Với mỗi làng nghề lại có những phong tục, tập quán sản xuất khác nhau,
chính vì thế mà sản xuất kinh doanh của các hộ cũng có những đặc trưng riêng,

được khoảng 3000 tấn dầu quy đổi và giảm phát thải trên 12.000 tấn khí CO2. Bên
cạnh đó sản phẩm gốm từ lò nung gas chất lượng cao hơn và doanh thu tăng 30% so
với đốt bằng than đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho các hộ SXKD gốm Bát
Tràng. Sử dụng lò gas không những góp phần vào thúc đẩy kinh tế địa phương, tăng
thu nhập cho các hộ SXKD mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời giúp
Bát Tràng thực hiện được mục tiêu “ bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống”
gắn với du lịch (Tiến Dũng, 2009).
Tóm lại các hộ SXKD gốm Bát Tràng đang trên con đường phát triển và
trong tương lai sẽ còn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ hơn nữa.
Đặc điểm sản xuất kinh doanh của các hộ SXKD gốm Chu Đậu- Hải Dương
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, sau hơn 500 năm thất truyền gốm Chu
Đậu- dòng gốm bác học mang đầy giá trị nhân văn, chất văn hóa tâm linh Việt đang
được hồi sinh. Hiện nay các hộ SXKD gốm Chu Đậu đang dần đi vào hoạt động sản
xuất kinh doanh trở lại, đang dần khôi phục lại những tinh hoa của một làng nghề
truyền thống, hy vọng có thể làm sống dậy thời kỳ đỉnh cao của dòng gốm này.
Cùng chung với quyết tâm khôi phục làng nghề của các cấp chính quyền, các
hộ SXKD gốm Chu Đậu cùng chung tay góp sức, quyết tâm đem sự hưng thịnh
quay trở lại cho nghề truyền thống của ông cha để lại.
16
Tại các lò gốm của các hộ SXKD khuyến khích các em nhỏ trong làng học
vẽ, tạo hình, chấm bút… Tại đây cũng mở những lớp tập huấn đào tạo về kỹ thuật
làm gốm cho các lao động trong hộ SXKD nâng cao trình độ, tay nghề sản xuất cho
các lao động trong hộ SXKD (Dương huyền, 2010).
Yêu và tâm huyết với nghề gốm truyền thống đã có từ lâu đời, các hộ SXKD
gốm Chu Đậu đang nỗ lực, cố gắng hết sức mình để khôi phục và phát triển làng
gốm cổ Chu Đâu, từng bước đưa các sản phẩm gốm quay trở lại thị trường, đưa sản
phẩm gốm tinh hoa mang nhiều giá trị nhân văn đến tay người tiêu dùng.
2.2.3 Bài học kinh nghiệm
Tình hình SXKD gốm của các hộ SXKD Phù Lãng một vài năm gần đây đã
có những bước phát triển vượt bậc, tuy nhiên vẫn tồn tại những vấn đề cần được

NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Sự hình thành và phát triển của làng nghề gốm Phù Lãng
Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) cách
thành phố Bắc Ninh khoảng 25km và cách sông Lục đầu khoảng 4km. Phù Lãng
nằm bên bờ sông Cầu và có nhiều bến đò ngang suốt ngày chở khách qua lại. Địa
danh Phù Lãng có thể có vào cuối thời Trần đầu thời Lê. Vào thời kỳ này, Phù Lãng
có 5 thôn nhưng chỉ có 2 thôn sản xuất gốm là thôn Phù Lãng và thôn Thủ Công.
Phù Lãng được biết đến là một làng sản xuất gốm truyền thống có khoảng từ 800
năm nay, từ cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14.
Trong kháng chiến chủ yếu sản xuất gốm cổ truyền phục vụ dân cư đồng
bằng, trung du Bắc Bộ, gồm có những sản phẩm gốm dân dụng như chum, vại,
niêu…Đến năm 1960 tách ra một thôn Thủ Công riêng chuyên sản xuất gốm được
nhà nước bao tiêu sản phẩm. Từ năm 1980- 1995 sản xuất thịnh hành, phát triển
nhanh, các hộ gia đình tham gia sản xuất mạnh mẽ, số lượng tăng dần, có thời điểm
lên đến 400 hộ tham gia sản xuất gốm. Đến năm 2000 có nhiều sinh viên Mỹ Thuật
đem gốm Mỹ thuật, gốm thủ công mỹ nghệ về làng, phát triển sản xuất và đến hiện
nay thì loại gốm này được sản xuất nhiều, phát triển khá mạnh. Đến ngày nay, cả
làng còn có 250 hộ sản xuất gốm, trong đó Phù Lãng là 150 hộ, Thủ Công là 100 hộ
với 2 doanh nghiệp sản xuất gốm, 1 hợp tác xã và hơn 15 xưởng lớn nhỏ sản xuất.
Nguyên liệu để tạo ra những sản phẩm của nghề gốm Phù Lãng là đất sét có
màu hồng nhạt thường được lấy ở làng thống Vát, Cung Kiệm (xã Việt Thống) Bắc
Giang, sau khi mua, đất được chở về Phù Lãng bằng thuyền lớn. Qua nhiều công đoạn,
đất sét được luyện dẻo mịn rồi tạo hình trên bàn xoay bằng bàn tay của thợ thủ công.
Sản phẩm chính của gốm Phù Lãng xưa là chum vại, ấm đất, chậu cảnh, tiểu
sành… Ngày nay với những bàn tay tài hoa và nhiệt huyết nghề gốm, muốn khôi
phục và gìn giữ truyền thống của làng nghề các nghệ nhân thế hệ mới như nghệ
nhân Vũ Hữu Nhung - với cái tên quen gọi Gốm Nhung, nghệ nhân Thiều với tên
19
quen thuộc Gốm Thiều đã và đang thổi hồn vào cho đất, sáng tạo và phát triển

Vùng ruộng có 4 cấp địa hình
20
tương đối thấp, cấp địa hình cao diện tích 12,5 ha; địa hình vàn 30,31 ha và địa hình
trũng là 337,5ha.
Phù Lãng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm hai
mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng mưa bình quân/ năm đạt
1450mm tập trung chủ yếu vào mùa mưa ( 80% lượng mưa cả năm) mưa lớn tập
trung gây nhiều khó khăn cho sản xuất cũng như đời sống của người dân. Số ngày
mưa trong năm là 185 ngày. Các tháng mưa nhiều là 7, 8, 9; tháng mưa ít trong năm
là tháng 12 và tháng 1.
Có thể thấy điều kiện thời tiết, khí hậu của làng nghề khá thuận lợi cho việc
phát triển sản xuất gốm của các hộ SXKD, đặc biệt trong khâu phơi sấy nhiên liệu
để đốt lò và sản phẩm trước khi đưa vào lò để nung… Tuy nhiên với số ngày mưa
trong năm, cũng như các tháng có độ ẩm cao trong năm các hộ SXKD gốm cần
phải có nhà xưởng chú ý tới việc bảo quản sản phẩm không để ảnh hưởng tới tiến
độ sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm gây thiệt hại cho hộ sản xuất.
3.1.4 Điều kiện kinh tế xã hội
Đất đai:
Phù Lãng là xã có nhiều loại đất khác nhau, được chia thành những khu vực
cơ bản như: khu vực đất đồi rừng, khu vực đất ven sông cầu và khu vực đất trong
đê. Toàn bộ diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 1007,79 ha.
Trong đó diện tích đất nông nghiệp năm 2009 là 619,98ha ( chiếm 61,52%)
thì đến năm 2011 giảm xuống còn 615,3ha chiếm 61,05%, bình quân 3 năm 2009-
2011 giảm 0,38%. Mặc dù vậy nhưng diện tích đất nông nghiệp bình quân / hộ vẫn
ở mức >3000m
2
/hộ.
Địa bàn xã do quỹ đất còn hạn chế nên việc chuyển đổi mục đích sử dụng
còn nhiều khó khăn. Về diện tích đất phi nông nghiệp, những năm vừa qua đã
chuyển đổi một phần từ diện tích đất nông nghiệp, tuy nhiên diện tích tăng không

2.1Đất thổ cư 128,58 12,76 128,45 12,75 126,89 12,59 98,79 99,90 99,34
2.2Đất chuyên dụng 132,69 13,17 138,57 13,75 140,54 13,95 101,42 104,43 102,92
2.3Đất phi nông nghiệp 83,46 8,28 82,03 8,14 81,99 8,14 99,95 98,29 99,12
3.Đất chưa sủ dụng 43,08 4,27 43,08 4,27 43,07 4,27 99,98 100,00 99,99
*Bình quân đất thổ cư 1 hộ(m
2
/hộ) 663,81 658,04 642,16
*Bình quân đất thổ cư 1 người( m
2
) 159,41 157,65 154,18
*Bình quân đất NN 1 hộ( m
2
/hộ) 3200,72 3154,00 3113,87
Nguồn: Thống kê UBND xã Phù Lãng
23
• Dân số và lao động
Dân số và lao động là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng của quá
trình sản xuất và kinh doanh của các hộ SXKD gốm.
Từ nguồn số liệu của thống kê UBND xã Phù Lãng ( Bảng 3.2) dân số Phù
Lãng có 8066 nhân khẩu với 1937 hộ gia đình. Năm 2011 là 8230 nhân khẩu với
1976 hộ. Tỷ lệ tăng tự nhiên của xã bình quân trong 3 năm 2009- 2011 là 1, 01%
đúng theo mục tiêu kinh tế xã hội mà UBND xã Phù Lãng đã đề ra.
Đây là xã có cơ cấu lao động trẻ là yếu tố thuận lợi đến tình hình sản xuất
kinh doanh của các hộ SXKD gốm Phù Lãng, nguồn lao động trẻ sẽ có những sự
tiến bộ nhanh hơn, tiếp thu học hỏi nhanh hơn.
24
Bảng 3.2. Tình hình dân số- lao động xã Phù Lãng 2009- 2011
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Tốc độ phát triển( %)
SL


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status