DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
BQGT : Bình quân giá trị
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNTT : Công nghệ thông tin
CP : Cổ phần
DN : Doanh nghiệp
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DT : Doanh thu
LN : Lợi nhuận
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
KHCN : Khoa học công nghệ
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
NSLĐ : Năng suất lao động
THCS : Trung học cơ sở
SXKD : Sản xuất kinh doanh
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các khâu trung gian trong hệ thống Marketing nông sản………….……….12
Bảng 3.1. Bảng cơ cấu sử dụng đất đai tại xã Phú Lộc năm 2011
Error: Reference source not found
Bảng 3.2 Tình hình chăn nuôi tại xã Phú Lộc năm 2011
Error: Reference source not found
Bảng 3.3 Cơ cấu lao động tại xã Phú Lộc năm 2011
Error: Reference source not found
Bảng 4.1 Các loại hình kinh doanh của đại lý trên địa bàn xã
Error: Reference source not found
Bảng 4.2 Giới tính và tuổi của chủ các đại lý
Error: Reference source not found
Bảng 4.3 Quy mô lao động của các đại lý
Bảng 4.18 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đại lý vừa thu mua vừa buôn bán
vật tư
Error: Reference source not found2
iii
MỤC LỤC
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐẠI LÝ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ 28
4.1.1 THÔNG TIN VỀ CHỦ CÁC ĐẠI LÝ 28
4.1.1.1. LOẠI HÌNH KINH DOANH CỦA CÁC ĐẠI LÝ 28
5.2.1 ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 47
5.2.2. ĐỐI VỚI CÁC ĐẠI LÝ 47
iv
PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, vào tháng 12/1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản
Việt Nam đã thông qua đường lối đổi mới và mở rộng nền kinh tế. Đất nước ta từ
một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành nghề sản xuất
trong nước cũng đã có những bước phát triển tích cực nhất là trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực thực phẩm đã trở thành
một nước có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu trên thế giới như cà
phê, gạo, tiêu, điều…
Để có được những thành quả như trên phải kể đến sự nỗ lực của Chính phủ
trong việc cải cách và ban hành những chính sách phát triển môt cách phù hợp. Bên
cạnh đó là những chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất và kinh doanh các mặt
hàng nông sản như các đại lý thu mua, những doanh nghiệp chế biến, những doanh
nghiệp xuất khẩu… trong đó đặc biệt là những đại lý thu mua nông sản.
Các đại lý thu mua nông sản hay còn được gọi là các hộ thu mua hay các
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các đại lý thu mua cà phê tại xã Phú Lộc. Các đại lý ở
đây thực chất là những hộ kinh doanh mua bán cà phê vừa và nhỏ.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nội dung
Những vấn đề về hiệu quả sản xuất kinh doanh của đại lý.
Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
các đại lý.
Một số đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
các đại lý thu mua.
Không gian: xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh ĐăkLăk
Thời gian:
Thời gian số liệu pháp sinh trong 3 năm từ 2009 - 2011
Thời gian thực tập: từ ngày 20/03/2012 đến 15/06/2012.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Lý luận về phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
a. Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh
Sản xuất kinh doanh là việc sử dụng nguồn nhân lực để biến đổi những nguồn vật
chất và tài chính thành của cải và dịch vụ. Những của cải và dịch vụ này phải phù hợp
với nhu cầu của thị trường. Sự kết hợp các nhân tố sản xuất phải thực hiện trong những
điều kiện có hiệu quả nhât.[1] Sau đó thực hiện một hay một số công đoạn từ sản xuất
đến tiêu thụ hoặc cung ứng trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.[3]
b. Khái niệm về phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và
các kết quả kinh doanh thành các bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó, bằng các phương
pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng
phát triển của các hiện tượng nghiên cứu.[4]
hoạt động của cả hệ thống không bình thường. Trong trường hợp này, đòi hỏi người
quản lý trên cơ sở phát hiện được tình hình cần phải đề ra các biện pháp loại trừ
"điểm nóng" đó, điều chỉnh và khôi phục lại sự hoạt động của bộ phận đó, đảm bảo
cho cả hệ thống trở lại hoạt động bình thường.
e. Đặc điểm của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khác với hoạt động tự túc tự cấp phi kinh doanh, động cơ và mục đích của hoạt
động kinh doanh là sản xuất sản phẩm vật chất hay dịch vụ không phải để tự tiêu dùng
mà để phục vụ cho nhu cầu của người khác nhằm thu lợi nhuận.
Hoạt động kinh doanh phải hạch toán được chi phí sản xuất, kết quả sản xuất và
hạch toán được lãi (lỗ) trong kinh doanh.
Sản phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể cân, đong, đo đếm được, đó
là sản phẩm hàng hoá để trao đổi trên thị trường. Người chủ sản xuất phải chịu
trách nhiệm đối với sản phẩm của mình sản xuất ra.
Hoạt động kinh doanh phải luôn luôn nắm được các thông tin về sản phẩm của
doanh nghiệp trên thị trường như các thông tin về số lượng, chất lượng, giá cả
sản phẩm, thông tin về xu hướng tiêu dùng của khách hàng, thông tin về kỹ thuật công
nghệ để chế biến sản phẩm, về chính sách kinh tế tài chính, pháp luật Nhà nước có liên
4
quan đến sản phẩm của doanh nghiệp.
Hoạt động kinh doanh luôn thúc đẩy mở rộng sản xuất và tiêu dùng xã hội, tạo
điều kiện cho tích luỹ vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, phát triển khoa
học kỹ thuật, mở rộng quan hệ giao lưu hàng hoá, tạo ra sự phân công lao động xã hội
và cân bằng cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế.
f. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các nhân tố chủ quan.
Con người là nhân tố quyết định cho mọi hoạt động trong doanh
nghiệp. Trong thời đại ngày nay, hàm lượng chất xám sản phẩm ngày càng cao thì
trình độ chuyên môn của người lao động có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả hoạt
động của doanh nghiệp, nhất là các cán bộ quản lý. Họ là những lao động gián
tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại rất quan trọng bởi họ là những người điều hành và
Môi trường vĩ mô: Bao gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên, về dân số và lao
động, xu hướng phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các chính sách của nhà
nước và các yếu tố khác có liên quan.
* Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng quyết định đối với việc hình thành
và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời các yếu tố này cũng góp phần
quyết định năng suất sản xuất, khoa học công nghệ, khả năng thích ứng của doanh
nghiệp. Nó có thể trở thành cơ hội hay nguy cơ đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế của nhà nước…Chúng không chỉ
ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới môi trường
vi mô của doanh nghiệp. Trong thời đại nền kinh tế mở cửa, tư do cạnh tranh như
hiện nay đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có vị thế nhất định đảm bảo chống lại
những tác động tiêu cực từ môi trường, mặt khác các yếu tố kinh tế tương đối rộng
nên các doanh nghiệp cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực
tiếp nhất đến doanh nghiệp từ đó có các giải pháp hạn chế những tác động xấu.
* Yếu tố chính trị, pháp luật
Nhà nước có thể chế chính trị, hệ thống luật pháp rõ ràng, đúng đắn và ổn
định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước
hoạt động SXKD và thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài. Hiện nay, các doanh
6
nghiệp hoạt động SXKD theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhà
nước đóng vai trò điều hành quản lý nền kinh tế thông qua các công cụ vĩ mô như:
pháp luật, chính sách thuế, tài chính…cơ chế chính sách của nhà nước có vai trò
quyết định trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và ngành lâm nghiệp nói riêng.
* Yếu tố công nghệ
Khoa học- công nghệ là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Đối với các nước đang phát triển giá cả và chất lượng có ý
nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay công cụ cạnh
nhiên trên phương diện xã hội thì cạnh tranh sẽ có lợi cho người tiêu dùng và thúc
đẩy xã hội phát triển. Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm nắm
được các điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để từ đó xác định chiến lược nhằm tạo
được thế vững mạnh trên thị trường.
Đối với nhân tố khách quan, không một doanh nghiệp nào có thể loại bỏ
hay thay đổỉ được, nhưng doanh nghiệp có thể tận dụng các nhân tố có ảnh hưởng
tích cực hoặc không hạn chế các nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề này là tuỳ thuộc vào khả năng lãnh
đạo của các nhà quản lý ở từng doanh nghiệp.
g. Sự cần thiết của việc phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Sự cần thiết khách quan phải phân tích hoạt động kinh doanh được thể hiện
trong quá trình phát triển lịch sử của nó gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng
hoá. Thật vậy, sự biểu hiện bước đầu của công tác hạch toán và phân tích hoạt động
kinh doanh đó là việc người Ai Cập, Babilon trong nền văn minh cổ đại xưa đã
dùng đất nung và bia đá để ghi khắc những tài liệu, ghi chép về trao đổi hàng hoá,
kê khai trọng lượng hàng hoá so sánh các thu chi cùng với sự phát triển của nền sản
xuất hàng hoá, những yêu cầu buổi đầu của công tác quản lý, phân tích hoạt động
kinh doanh được kết hợp công tác kế toán, thống kê.
Chủ nghĩa tư bản ra đời, sản xuất hàng hoá phát triển nhanh, quy mô lớn phân
tích hoạt động kinh doanh có những yêu cầu lớn hơn nhằm phục vụ đắc lực cho
công tác quản lý.
Khi chủ nghĩa đế quốc ra đời, sự tích luỹ tư bản dẫn đến sự tích tụ sản xuất,
8
các công ty cổ phần và các công ty xuyên quốc gia ra đời, sản xuất phát triển cực kỳ
nhanh chóng về cả quy mô lẫn hiệu quả. Để chiến thắng trong cạnh tranh và quản lý
tốt hoạt động sản xuất của công ty đề ra phương án kinh doanh có hiệu quả các nhà
tư bản phải thường xuyên phân tích hoạt động trên cơ sở nhiều luồng, nhiều loại
thông tin. Với yêu cầu này, công tác hạch toán không đáp ứng được, đòi hỏi phải có
một môn khoa học phân tích kinh tế độc lập với nội dung, phương pháp nghiên cứu
phong phú. Phân tích hoạt động kinh doanh tách rời khỏi hạch toán và thống kê dựa
b. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh
doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước,
hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống,
dịch vụ. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến
phân phối tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động kinh doanh cá thể mang tính tự chủ
cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động. Thành phần kinh tế này rất
nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù
hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế.
Hộ kinh doanh cá thể có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông
thôn và thành thị, do đó nó có khả năng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. Những ưu thế của hộ kinh doanh cá thể là:
Hộ kinh doanh cá thể có một tiềm năng to lớn về trí tuệ,
sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Nhờ đó họ có thể phát huy
được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh
doanh thích hợp với nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến.
Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những
bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ. Điều này cho phép
phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho
nhu cầu xã hội và xuất khẩu. Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước
còn thiếu vốn như hiện nay. Thực tế những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc đã biết
vận dụng đúng đắn tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh
tế.
10
Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp
thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn. Do đó, nếu có các chính sách kinh
tế hợp lý sẽ mở đường cho các hộ cá thể gia đình có khả năng bỏ vốn vào sản
xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất góp phần
hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước.
2.1.3 Lý luận liên quan đến đại lý thu mua cà phê.
2.1.3.1 Các đối tác trung gian trong hệ thống Marketing nông sản
Các khâu trung gian trong hệ thống Marketing nông sản bao gồm các khâu như
người sản xuất, thu mua, chế biến… được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Các khâu trung gian trong hệ thống Marketing nông sản
Các khâu trong chuỗi Tác nhân Hoạt động
Các yếu tố đầu vào Các nhà cung cấp đầu tư
đầu vào
• Giống
• Phân bón
• Thuốc BVTV
• Lao động nghèo
Sản xuất Nông dân, Tổ hợp tác,
Hợp tác xã.
• Làm đất
• Gieo rau
• Chăm sóc
• Thu hoạch
Thu gom Người thu gom (hộ, doanh
nghiệp thu gom)
• Thu gom
• Vận chuyển
Sơ chế, chế biến Người chế biến
• Làm sạch
• Đóng gói
Thương mại Người bán sỉ
Người bán lẻ
• Bán sỉ
• Bán lẻ
Trước năm 1975, cây cà phê là cây của nhà giàu, chỉ có các đồn điền của tư
sản, Tây thực dân cùng tướng lĩnh Sài Gòn và một số hộ dân các vùng Công giáo
làm kinh tế vườn là chủ yếu. Diện tích cà phê Robusta trồng tập trung tại Buôn Ma
Thuột, một ít trồng tại vùng Cư Kuin, Đak Mil và Buôn Hồ…thuộc địa bàn tỉnh
Đăk Lăk. Tỉnh Lâm Đồng chỉ tập trung trồng cà phê Arabica tại các vùng như Di
Linh, Bảo Lộc. Phần lớn nông hộ sau vụ hái.
Sau năm 1975, chính quyền cách mạng thực hiện chủ trương “cải tạo nông,
công thương nghiệp XHCN “, Toàn bộ vườn cà phê có diện tích từ 5 ha trở lên phải
tập trung vào Nông trường Quốc doanh, số diện tích nhỏ còn lại thì vào Hợp tác xã
Nông nghiệp, tổng diện tích cà phê toàn vùng thuộc Đăk Lăk có khoản 54.000 ha,
sản lượng hàng năm đạt khoảng gần 70.00 tấn cà phê nhân. Năm 1986, tỉnh Đăk
Lăk chủ trương phát triển mạnh diện tích cây cà phê, coi là cây mũi nhọn trong
13
chiến lược phát triển kinh tế của địa phương, từ cơ sở đó mới có đà để phát triển cây
cà phê trong nông hộ tại hầu hết các huyện thị.
Thứ hai vì thiếu vốn nhưng để tiếp tục sản xuất nên người nông dân phải đi
vay để duy trì sản xuất.
Phần lớn người nông dân chỉ có mảnh vườn, lô rẫy, thường thì không biết và
không quen với các định chế và giấy tờ. Muốn vay Ngân hàng thì phải đi làm thủ
tục xin vay, lập dự án vay, báo cáo hiệu quả vốn vay và khả năng trả nợ, các thế
chấp và cam kết trả nợ… phải mời cán bộ Ngân hàng đến thẩm định vườn cây, tài
sản thế chấp…và phải nhờ cán bộ làm hộ với mức “trà phí”, không bao giờ có một
thông số nhất định để áp dụng. Vay khó là thế nhưng vẫn phải vay! Đến ngày 31/12
hàng năm là phải bán tống bán tháo để trả nợ, xui rủi gặp mưa kéo dài thì phải vay
nóng để trả nợ. Vay khó là thế, nhưng đâu phải ai cũng vay được. Vì Ngân hàng
cũng là một doanh nghiệp, họ phải tính làm sao cho chi phí thấp nhất (giảm nhân sự
khảo sát, lập thủ tục, quản lý khách vay, đôn đốc thu nợ…) và đạt hiệu quả cao
nhất. Họ cho một doanh nghiệp vay tiền tỷ thì rất đơn giản, nhưng cũng với tiến tỷ
đó nếu cho nông dân vay thì ít chi cũng phải làm thủ tục cho 100 hộ (100 bộ hồ sơ).
Đây là vấn đề nan giải, chính là một trong những nguyên nhân mà các chính sách
b. Cạnh tranh thiếu tính minh bạch
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ
nước ngoài (DN FDI) đã chiếm lĩnh 50% tổng sản lượng cà phê của Việt Nam,
tương đương 600.000 tấn/năm. Con số này cho thấy, các DN FDI đang thống lĩnh
thị trường nguyên liệu cà phê xuất khẩu tại Việt Nam.
Không ai có thể phủ nhận, để có vùng chuyên canh cà phê hơn nửa triệu ha
như ngày nay, Việt Nam đã phải đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng xây dựng hạ tầng
giao thông, thủy lợi, nghiên cứu khoa học… Hơn thế, với vị thế “đá trên sân nhà”,
lẽ ra các DN cà phê trong nước phải thắng thế, chí ít là sức cạnh tranh với các DN
FDI. Nhưng thực tế ngược lại, các DN cà phê trong nước ngày càng lép vế để cho
các DN FDI hưởng lợi.
15
Sở KH&ĐT tỉnh Đắk Lắk còn cho biết, ngoài việc thành lập các doanh nghiệp,
hợp tác xã mang danh nghĩa Việt Nam để lách Nghị định 23, nhiều doanh nghiệp
FDI còn công khai việc trực tiếp thu mua cà phê của nông dân, nhưng cơ quan chức
năng rất khó xử lý, vì Nghị định 23 nghiêm cấm doanh nghiệp FDI mua cà phê trực
tiếp của nông dân, song Luật Đầu tư thì không cấm việc này.
Hơn nữa, khi độc quyền thu mua cà phê, DN FDI sẽ tự định đoạt giá cả, làm
cho các doanh nghiệp kinh doanh cà phê Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn [14]
c. Các doanh nghiệp trong nước chưa có sự liên kết để cùng giúp nhau phát
triển trên thị trường.
Chuyện kinh doanh cà phê ở Việt Nam đang bị buôn – bán kiểu không bạn,
không phường, đặc biệt là các DN nội[15]. Biểu hiện là các DN trong nước chưa
thực sự liên kết với nhau mạnh mẽ để hợp sức cả về vốn và phương thức tổ chức
thu mua nguyên liệu. Các DN chủ yếu làm đơn lẻ nên dễ “mất sức” trong cuộc đua
cạnh tranh với DN FDI. Và, khả năng lấy lòng tin của DN trong nước với nông dân
trồng cà phê không cao nên bà con tích trữ hàng chủ yếu theo kho cá nhân, thay vì
dựa vào kho của DN. Điều này còn dễ dẫn đến chất lượng nguyên liệu giảm sút, dễ
bị ép giá.
Không những thế, nông dân sẽ bán hàng cho ai trả giá cao, nên các DN FDI
Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hóa theo
hợp đồng
Hợp đồng nông sản mang lại lợi ích cho cả hai bên nhưng cũng có những vấn đề mà
các bên cần giải quyết. Cụ thể, đối với nông dân, lợi ích chính là được hỗ trợ đầu
vào và các dịch vụ sản xuất, tiếp cận tín dụng, tiến bộ kỹ thuật, ổn định thị trường
đầu ra, giá cả được bảo đảm, thông qua thực hiện hợp đồng, nông dân nâng cao
được ý thức trong sản xuất hàng hóa, an toàn vệ sinh thực phẩm
Tuy nhiên, nông dân tham gia hợp đồng cũng phải đối mặt với các vấn đề như bị
chèn ép về số lượng thu mua và quy cách của sản phẩm, bị khống chế độc quyền,
phụ thuộc vào nguồn vốn và các dịch vụ
Đối với doanh nghiệp, hợp đồng giúp họ chủ động nguyên liệu chất lượng cao và ổn
định. Thậm chí họ còn có điều kiện giám sát chất lượng ngay từ đầu vào, giảm thiểu
rủi ro trong kinh doanh, giảm giá thành sản xuất thông qua đẩy mạnh chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật. Song họ cũng gặp phải những khó khăn đáng kể như sử dụng đầu
vào không đúng mục đích, nông dân bất hợp tác
17
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
- Xã Phú Lộc thành lập năm 1978 theo Quyết định của Hội Đồng Bộ Trưởng
( nay là Chính Phủ) trên cơ sở di dân của huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên Huế đi
xây dựng kinh tế mới theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước. Lúc mới thành lập
xã Phú Lộc thuộc huyện Krông Buk, đến năm 1987 huyện Krông Buk được chia
tách thành 2 huyện Krông Buk và Krông Năng. Xã Phú Lộc thuộc huyện Krông
Năng - tỉnh Đắc Lăk.
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Địa bàn xã Phú Lộc nằm ở vị trí cách Trung tâm huyện 3km về phía Đông
Bắc. Hướng Bắc giáp xã Dlyêza, hướng Tây giáp xã EaTóh, hướng Nam giáp thị
trấn Krông Năng và xã EaHồ, hướng Đông giáp xã Tam Giang và xã EaTam. Diện
với diện tích đất tự nhiên của xã.
Đặc điểm: Đất có tầng canh tác mịn, dày thành phần cơ giới trung bình thịt
nặng, độ phì cao. Loại cây trồng phù hợp là lúa nước và các loại cây họ đậu.
* Tài nguyên nước
- Tài nguyên nước trên địa bàn xã khá phong phú, chảy qua địa bàn có sông
Krông Năng, bắt nguồn từ dãy núi ChuTun có độ cao 1.200m sông chảy theo hướng
Bắc Nam đến Huyện EaKar tổng chiều dài sông chảy qua xã 12Km, lòng sông rộng
8 – 12m. Đây là con sông lớn có nước quanh năm rất thuận lợi cho việc tuới tiêu và
sinh hoạt ngoài ra còn có các suối nhỏ và các đập như đập Thanh niên, đập 86…đã
bổ sung nguồn nước tuới cho diện tích cây trồng và nguồn nước sinh hoạt, sản xuất
của người dân trong vùng.
- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn xã bao gồm: Hồ, ao, sông, suối
diện tích đang sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản sản: 32,5 ha.
* Tài nguyên rừng
- Diện tích rừng ở xã không còn, thảm thực vật trên địa bàn xã chủ yếu là cây
công nghiệp dài ngày, để đảm bảo mạch nước ngầm, bảo vệ môi trường tránh tình
trạng rửa trôi, bạc màu đất, cần có kế hoạch trồng các đai rừng phòng hộ theo các
trục đường, đường lô.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
19
3.1.2.1 Lĩnh vực kinh tế
Sản xuất nông nghiệp
Bảng 3.1. Bảng cơ cấu sử dụng đất đai tại xã Phú Lộc năm 2011
Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỉ lệ (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 3.317,00 100,00
1. Đất nông nghiệp 2.867,05 86,44
1.1 Đất trồng cây hàng năm 244,37 8,52
1.2 Đất trồng cây lâu năm 2.618,88 91,34
1.3 Đất MNNTS 3,80 1,14
2. Đất phi nông nghiệp 419,71 12,65
1.1 Trâu
1
1.2 Bò
127
1.3 Heo
6.600
1.4 Dê
190
2 Đàn gia cầm
26.700
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của xã Phú Lộc
Giao thông thủy lợi
Giao thông
Về tình hình giao thông nông thôn. Toàn xã có 43,1km đường liên xã,
55,49km đường liên thôn, 41,21km đường liên xóm và 4,5km đường nội đồng. Với
đặt thù đất đỏ ba zan, phần lớn đường giao thông là đường đất nên giao thông mùa
mưa hết sức lầy lội, phức tạp, khó khăn ảnh hưởng lớn tới việc đi lại và vận chuyển
hàng hóa phục vụ nhân dân, nhất là việc đi lại học tập của con em các thôn vùng
sâu, vùng xa của xã
Thuỷ lợi
Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh.
Hiện tại xã có 04 hồ chứa nước trong đó: có 2 hồ quy mô nhỏ do xã quản lý và
hồ chứa nhỏ do nhân dân huy động đóng góp xây dựng.
Nhiều sông suối tự nhiên chiều dài hơn 20 km, là nguồn cung cấp nước tưới
cho các loại cây trống hàng năm. Đầu năm 2011 xã đã thành lập tổ quản lý thuỷ
nông và đi vào hoạt động, nhiệm vụ của tổ là quản lý 2 hồ đập trên địa bàn nhằm
đảm bảo nước tưới cho 80ha lúa nước và 1500ha cà phê. Hiện nay tổ thuỷ nông đã
hoạt động ổn định
Về công tác phòng chống bão lụt hàng năm đều được chính quyền quan tâm
nên hạn chế mức sạt lở .