Nghiên cứu mối tương quan giữa đặ điểm hình thái với đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của học sinh trường THCS Phù Lỗ - Sóc Sơn - Hà Nội - Pdf 28

MỞ ĐÀU
1.1. Lí do chon đề tài
Tuổi dậy thì là giai đoạn phát triển quan trọng của một con người, nó xuất hiện những biểu hiện
rất đặc trưng về mặt tâm sinh lý. Đó là giai đoạn từ tuổi thơ đang dần ttở thành người lớn vói sự
trưởng thành cả về thể chất và tâm hồn sâu sắc. Trong thòi kỳ này trẻ bắt đầu có những băn khoăn,
suy nghĩ về sự biến đổi của cơ thể, những khác biệt giới tính giữa nam và nữ.
Khi một đứa trẻ bình thường đến tuổi dậy thì, những nhận thức của nó tương xứng với sự phát
triển tính dục của cơ thể. Ngược lại, những đứa trẻ mắc chứng dậy thì sớm có nhu cầu về tính dục
nhưng lại ở một cá nhân chưa phát triển về nhận thức, do vậy nhu cầu của chúng hoàn toàn mang
tính bản năng. Thực tế trong những năm gàn dây, đã có nhiều công trình nghiên cứu các chỉ số hình
thái và sinh lý của trẻ em Việt Nam, chủ yếu là trên đối tượng học sinh. Kết quả các nghiên cứu đã
cho ra một phổ thông tín khá đa dạng về các lĩnh vực tâm lý - giáo dục, sinh lý trí tuệ, thể lực,
Dậy thì sớm được cho là có liên quan đến một số bệnh như: ung thư vú, bệnh lý tim mạch. Dậy thì
sớm là một trong những nguyên nhân khiến trẻ yêu sớm, nhận thức về tình yêu lệch lạc, ữẻ không
được trang bị đầy đủ về kiến thức giói tính, làm gia tăng nguy cơ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên.
Nếu dậy thì sớm do những nguyên nhân thực thể, có thể dẫn đến tử vong, nên cần phát hiện sớm và
điều tri kịp thời, nếu vô căn không được điều tri sẽ dễ dẫn đến chiều cao thấp ở tuổi trưởng thành.
Trẻ dậy thì cần có sự chăm sóc đặc biệt, kiểm ữa kịp thòi nhằm giải tỏa gánh nặng tâm lý cho trẻ và
cho cha mẹ, cải thiện chiều cao cơ thể và tránh nảy sinh những hậu quả nghiêm ữọng Để tìm hiểu
thực trạng, hình thái và các giá trí sinh lý chức năng một số hệ cơ quan trong cơ thể ngưòi ở học
sinh THCS, nhằm thực hiện tốt việc đổi mới giáo dục hiện nay chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên
cứu mối tương quan
giữa đặc điểm hình thái với đặc Mần sinh dục phụ thứ cấp của học sình trung học cơ sở
Phù Lỗ - Sóc Sơn - Hà Nội”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu các chỉ số hình thái của học sinh trường trung học cơ sở Phù Lỗ - Sóc Sơn - Hà Nội.
- Tìm hiểu các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp của học sinh trung học cơ sở Phù Lỗ - Sóc Sơn - Hà
Nội.
- Tìm mối tương quan giữa các đặc điểm hình thái để xây dựng cơ sở tăng cường sự chăm sóc về thể
chất cho các em.
1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nó tác động nhanh và tức thời ở ngay thế hệ con cháu.
+ Yếu tố ngoại cảnh nói chung trong đó bao gồm cả điều kiện sinh hoạt tinh thần và yật
chất, khí hậu, ánh sáng, sự thích nghi vói môi trường ảnh hưởng ở mức độ lớn tới tốc độ phát
triển cũng như CCĐ cuối cùng ở người lớn. Tuy nhiên yếu tố ngoại cảnh tác động từ từ, chậm
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 2 Lớp K35B
chạp, cần phải liên tục.
- Cân nặng: Cũng như CCĐ, cân nặng là số đo thường được sử dụng trong tất cả các nghiên cứu cơ
bản về hình thái người. Mặc dù vậy, độ chính xác của chỉ số này không cao lắm do nó dễ thay đổi
tuỳ thuộc vào thời điểm nghiên cứu (buổi sáng cân nhẹ hơn buổi chiều, sau khi lao động nặng hay
tập thể dục cân nặng giảm .)• Tuy nhiên cân nặng của mỗi người nói nên mức độ và tỉ lệ giữa sự
hấp thụ các chất và tiêu hao năng lượng. Cân nặng của 1 người gồm 2 phần:
+ Phần cố định chiếm 1/3 tổng số cân nặng gồm xương, da, tạng, thần kinh.
+Phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số cân nặng trong đó 3/4 là khối lượng của cơ và 1/4 là mỡ và
nước. Điều này cho thấy tăng cân là tăng phần thay đổi trong đó khối luợng của cơ chiếm 3/4 vì vậy
tăng cân nói nên phần nào mức độ tăng thể lực cơ thể.
- Vòng ngực trung bình (VNTB): là một trong những kích thước quan trọng do nó phối hợp vói CCĐ
và cân nặng để đánh giá thể lực của con nguòi. Tuy nhiên đây cũng là kích thước dễ thay đổi, người
ta nhận thấy đo nhiều lần trên cùng một người các kết quả có thể chênh lệch 2-3 cm. VNTB lớn thì
thể lực tốt, do nó liên quan đến khả năng hô hấp của con người.
1.1.2. Cơ sở lý luận về tuổi dậy thì
1.1.2.1. Dậy thì nam
Dậy thì là một thời kỳ có những biến động lớn về thể chất, tâm lý và đặc biệt là hoạt động
chức năng của hệ thống sinh sản. Ở ữẻ nam, mốc để đánh dấu tuổi dậy thì bắt đầu đó là thể tích tinh
hoàn tăng trên 4 ml, còn mốc để đánh dấu thòi điểm dậy thì chính thức là lần xuất tinh đầu tiên. Tuy
nhiên, rất khó xác định chính xác thời điểm xuất tinh lần đầu tiên vì các em ít để ý (do thường là
mộng tinh). Tuổi dậy thì hoàn toàn của nam khoảng 15-16 tuổi (đối với trẻ em Việt Nam).
- Những biến đổi trong thời kỳ dậy thì:
Vào thời kỳ này, dưới tác dụng của hormon sinh dục nam (testosteron) phối hợp cùng các
hormon tăng trưởng khác, cơ thể trẻ nam phát triển nhanh, đặc biệt khối lượng cơ tăng nhanh. Từ

đứng trước bạn khác giới, hay tư lự và ít nghịch ngợm hơn, ý tứ hơn trong cách cư xử, v.v.
- Hoạt động của tuyển sinh dục:
Chức năng sinh giao tử của buồng trứng bắt đầu hoạt động. Hàng tháng, dưới tác dụng của
hormon tuyến yên, các nang trứng nguyên thủy phát triển, có khả năng tiến tới chín và phóng noãn.
Như vậy từ thời kỳ này, các em gái bắt đầu có khả năng sinh con. Tuy nhiên, vì chức năng của các
cơ quan thuộc hệ thống sinh sản chưa phát triển thành thục nên chưa đủ khả năng mang thai, nuôi
con YÌ vậy cần tư vấn cho các em cách ứng xử trong quan hệ với bạn khác giới, cách phòng tránh
thai, phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.
Chức năng nội tiết của buồng trứng thể hiện là buồng trứng bắt đầu tiết hormon sinh dục
estrogen và progesteron. Dưới tác dụng của 2 hormon này, chuyển hóa của cơ thể tăng, cơ thể phát
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 4 Lớp K35B
triển nhanh, các cơ quan sinh dục như tử cung, vòi trứng, âm đạo, âm hộ, tuyến vú phát triển về
kích thước và chức năng.
Một dấu hiệu đặc biệt quan ữọng đánh dấu em gái đã dậy thì chính thức đó là xuất hiện kinh
nguyệt hàng tháng. Tất cả những biến đổi về cơ thể, tâm lý và hoạt động của hệ thống sinh sản đều
do tác dụng của các hormon hướng sinh dục của tuyến yên và các hormon của buồng trứng. Các
dấu hiệu dậy thì ở nữ thường thể hiện rõ rệt hơn ở nam giới.
- Thời gian xuất hiện dậy thì: Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm mà là một khoảng thời gian
có thể thay đổi theo từng cá thể, thường kéo dài 3-4 năm. Thòi điểm bắt đầu dậy thì ở nữ thường
được đánh dấu bằng biểu hiện tuyến vú bắt đầu phát triển. Ở Việt Nam, thòi điểm này thường vào
lúc 8-10 tuổi. Thòi điểm dậy thì chính thức được đánh dấu bằng lần có kinh đầu tiên, ở người Việt
Nam vào khoảng 13-14 tuổi.
- Cơ chế dậy thì:
Ở nữ, vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng đều có khả năng bài tiết hoóc môn, nhưng
ữong thực tế các tuyến này không hoạt động cho tói tuổi dậy thì vì chúng thiếu những tín hiệu kích
thích phù hợp từ vùng limbic. Thời gian dậy thì chính là khoảng thòi gian trưởng thành hay “chín”
của vùng limbic.
- Chu kỳ kinh nguyệt:
Chu kỳ kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng dẫn tói sự chảy máu có chu kỳ ở

tác giả ở các nước khác nhau. Từ các dẫn liệu thu thập được, các tác giả nhận định rằng sự phát
triển và tốc độ tăng trưởng các chỉ số diễn ra không đều qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳ tốc
độ tăng trưởng chậm, có thời kỳ tăng trưởng nhanh. Trong quá trình phát triển của trẻ có hai giai
đoạn “nhảy vọt”, đó là giai đoạn từ 5 đến 7 tuổi y à giai đoạn tuổi dậy thì (11-15 tuổi).
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy có sự khác biệt về các chỉ số hình thái của trẻ sống ở các
vùng, miền khác nhau, cũng như có sự khác biệt theo tốc độ phát triển các chỉ số hình thái giữa các
trẻ nam và trẻ nữ. Cụ thể là các trẻ sống ở thành phố có các chỉ số hình thái tốt hơn so vói các ữẻ
sống ở nông thôn. Ở lứa tuổi 7-10, tốc độ tăng CCĐ của các ữẻ nữ nhanh hơn so vói ở các trẻ nam,
nhưng từ 11 tuổi trở đi tốc độ tăng chỉ số này ở các trẻ nam lại nhanh hơn so với ở các trẻ nữ.
Một nhận xét nữa của các nhà nghiên cứu là sự phát triển các chỉ số hình thái của trẻ ở các
lứa tuổi khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, chế độ dinh dưỡng và hàng loạt các
yếu tố thuộc môi trường sống.
Theo Jacques R. Ducharme và Maguelone G. Forest (1982), dậy thì là qua thời kì ữẻ em để
trở thành người lớn, đây là giai đoạn biệt hóa giới tính lớn nhất, biến đổi cơ quan sinh dục, phát
triển đặc tính sinh dục phụ, thay đổi kích thước cũng như hình thái cơ thể. Tăng trưởng và phát triển
(trong đó có dậy thì) là sản phẩm của mối tương tác phức tạp và liên tục của dinh dưỡng, môi
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 6 Lớp K35B
trường sống và yếu tố di truyền.
Nhiều tác giả trên thế giới đã phân chia quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em thành
các thời kì khác nhau. Bunak v.v (1965) phân chia các thời kì phát triển của trẻ em dựa vào các dấu
hiệu hình thái và nhân chủng. Gundobin N.p. và Arshavski I.A. chia ra các thòi kì phát triển dựa
vào bậc học của học sinh, v.v. Theo đó, các tác giả cũng chưa hoàn toàn thống nhất về cách phân
chia các giai đoạn phát triển của trẻ em.
I.2.I.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Việc nghiên cứu tầm vóc, thể lực của học sinh ở nước ta đã bắt đầu được tiến hành từ những
năm 60 của thế kỷ trước.
Sau hai Hội nghị về hằng số sinh học năm 1967 và 1972, một tập thể các tác giả do Nguyễn
Tấn Gi Trọng chủ biên đã biên soạn cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) [1]. Trong
công trình này, các tác giả đã tập họp đầy đủ nhất về các chỉ tiêu nhân trắc ở trẻ em và người lớn.

khoa Hà Nội chủ trì dự án “Điều tra cơ bản các chỉ tiêu sinh học người Việt Nam thập kỷ 1990”.
Trần Văn Dần và cộng sự [4] đã nghiên cứu trên học sinh trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội, Vĩnh
Phú, Thái Bình ữong những năm 1990-1995. So với “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975), thì
sự phát triển về CCĐ của trẻ em 6-16 tuổi trong nghiên cứu này tốt hơn và có ý nghĩa thống kê, đặc
biệt là trẻ em ở thành phố và thị xã. Sự gia tăng về cân nặng chỉ thấy rõ ở ttẻ em Hà Nội, còn khu
vực nông thôn chưa có sự thay đổi đáng kể.
Năm 1991, trong cuốn sách chuyên đề “Mấy vấn đề y sinh học về phụ nữ nông thôn Việt
Nam”, các tác giả Hà Thị Phương Tiến, Trịnh Hữu Vách, Lê Gia Vinh [18] đã đưa ra một số nhận
định về tầm vóc, thể lực của phụ nữ nông thôn Việt Nam đương đại thông qua kết quả nghiên cứu
trên 3.972 phụ nữ thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp tại 6 tỉnh trong cả nước, cho thấy tầm vóc,
thể lực phụ nữ nông thôn không khác mấy so với các nghiên cứu trước đây.
Năm 1992, bằng phương pháp nghiên cứu cắt dọc trên học sinh phổ thông Hà Nội, Thẩm
Thị Hoàng Điệp [6] đã công bố những kết luận rất đáng chú ý ữong luận án phó tiến sĩ sinh học:
“Đặc điểm hình thái và thể lực học sinh trường PTCS Hà Nội”.
Năm 1993, ttong đợt điều tra cơ bản về y tế và sinh đẻ của cư dân xã Thắng Lợi (Hà Tây),
Nguyễn Hữu Cường và Đào Huy Khuê [4] đã nghiên cứu trên 615 người tuổi từ 18 đến 65 đã rút ra
kết luận về sự cải thiện tầm vóc, thể lực theo thời gian và cho rằng sự tăng trưởng tầm vóc, thể lực
theo lớp tuổi cũng tương đương như các nghiên cứu từ những năm 1975.
Năm 1993, trong khuôn khổ đề tài “Đặc điểm sinh thể con người Việt Nam”, Trịnh Văn
Minh và cộng sự đã nghiên cứu tầm vóc, thể lực và tình trạng dinh dưỡng của 1.309 người tuổi từ
18 đến 60 cư trú tại ngoại thành Hà Nội. Tuy nhiên, cách phân lớp tuổi của các tác giả có hơi khác
nên đã gặp khó khăn khi tiến hành so sánh, đánh giá vói các nghiên cứu trước.
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 8 Lớp K35B
Năm 1995, trong khuôn khổ công trình nghiên cứu cấp Bộ và điều tra cơ bản ngưòi Việt
Nam, Nguyễn Quang Quyền và cộng sự đã tiến hành đề tài “Hằng số hình thái đánh giá thể lực
người Việt Nam khu vực phía Nam”, trong đó các tác giả đã nghiên cứu một cách hệ thống và toàn
diện về tầm vóc, thể lực của 20.000 người tại 4 địa điểm là thành phố Hồ Chí Minh, cần Thơ, Tây
Nguyên và Huế.
1.2.2. Các nghiên cứu về sinh lí sinh sản, sinh dục

phản xạ). Trong hệ thống điều hoà chức năng sinh dục, sinh sản, tuyến yên đóng vai ữò bộ phận
khuyếch đại “phát động”, Hypothalamus đóng vai trò “điều khiển”; còn tuyến sinh dục là yếu tố
‘"bị điều khiển” hay cơ quan đích. Trong vòng điều hoà ngược, Hypothalamus trở thành yếu tố “bị
điều khiển” còn tuyến sinh dục trở thành yếu tố “điều khiển”.
Hai kích dục tố của tuyến yên là FSH và LH có vai trò trong việc phát triển trứng, sinh tinh
trùng và kích thích sản xuất các hormon Steroid của các tuyến sinh dục. Bản chất và tác dụng của
các hormon tuyến sinh dục đực và cái đã được nói đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học trên thế giới.
I.2.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Vào những năm 60 và nửa đầu thập kỷ 70, nhiều tác giả Việt Nam đã nghiên cứu về tuổi có
kinh lần đầu; chu kỳ kinh nguyệt của công nhân, nông dân, học sinh nông thôn và thành thị. Những
kết quả này đã được thống kê trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975).
Vào năm 1965, Nguyễn Huy Cận và cộng sự đã nghiên cứu về tuổi thấy kinh nguyệt lần đầu
của người Việt Nam, cho kết quả là 16,5 tuổi.
Năm 1970, Vũ Thục Nga đã nghiên cứu kích dục tố tuyến yên toàn phần trong vòng kinh
bình thường của phụ nữ Việt Nam.
Năm 1971, Nguyễn Thế Phương đã nghiên cứu sự biệt hoá sinh dục của vùng
Hypothalamus, kết quả là đã phân lập được những chất tiếp nhận đặc hiệu với hormon sinh dục tại
Hypothalamus.
Theo Hằng số sinh học người Việt Nam (1975), tuổi dậy thì hoàn toàn ở các em gái khoảng
13-14 tuổi, ở các em trai khoảng 14-16 tuổi [1].
Từ năm 1976 đến 1980, Đinh Kỷ, Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt và cs [11], [12] đã
nghiên cứu những biến đổi của cơ thể ở lứa tuổi dậy thì trên 2.780 học sinh từ 8 đến 18 tuổi thuộc
thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và vùng nông thôn tỉnh Thái Bình. Nghiên cứu sử dụng
phương pháp quan sát lâm sàng kết hợp với điều tra phiếu. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm : thời điểm
mọc lông mu, lông nách ở cả 2 giói, riêng nữ có thêm phát triển tuyến vú và tuổi có kinh lần đầu
tiên.
Từ năm 1982 đến 1988, Nguyễn Thu Nhạn, Cao Quốc Việt, Nguyễn Nguyệt Nga và cộng sự
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 10 Lớp K35B

2.2. Địa điểm và thòi gian nghiên cứu
Địa điểm: Trường THCS Phù Lỗ - Sóc Sơn - Hà Nội.
Trung tâm Nhân học và Phát triển trí tuệ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Thời gian: tháng 09/2012 đến tháng 04/2013
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Đe thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Phương pháp này nhằm tổng họp các tài liệu, hệ thống lại các kiến thức có liên quan đến đề tài
nghiên cứu, hình thành cơ sở lí luận, xác định các nhiệm vụ, lựa chọn các phương pháp và các chỉ
tiêu làm cơ sở đánh giá kết quả nghiên cứu trong khi thực hiện đề tài cũng làm cơ sở cho việc
phỏng vấn và thực nghiệm.
2.3.2. Phương pháp Шеи tra:
- Sử dụng các phiếu điều tra xã hội nhằm khảo sát một số đặc điểm hình thái của học sinh trung học
cơ sở, các đặc điểm sinh dục phụ của học sinh nam và học sinh nữ.
2.3.3. Phương pháp chọn lọc đối tượng nghiên cứu:
- Các đối tượng nghiên cứu chọn theo phương pháp điều tra ngang - điều tra nghiên cứu trên hàng
loạt các em học sinh.
2.4.4. Dùng kỹ thuật mô tả và quan sát trực tiếp xác định các dấu hiệu sinh dục thứ cấp như:
Lông ở hố nách, lông trên mu, mức độ phát triển tuyến vú theo các giai đoạn phát triển của
lông mu (pubis, kí hiệu là P), lông nách (axillaris, kí hiệu là A), tuyến vú (mammae, kí hiệu là Ma).
+ 4 giai đoạn phát triển của lông nách:
AO: Chưa có lông.
Al: Có lông rồi nhưng là lông tơ, thưa.
A2: Lông sẫm màu, rậm hơn, nhưng còn nhìn thấy phần da dưới chân
lông.
A3: Lông sẫm màu, rậm, phủ kín, không còn nhìn thấy chân lông, đạt mức của người trưởng
thành.
+ 5 giai đoạn phát triển của lông mu:
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN

chính là trung bình cộng của thì hít vào hết sức và thở ra hết sức.
2.3.6. Phương pháp thống kê toán học:
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 13 Lớp K35B
Phương pháp này dùng để xử lí các số liệu thu được theo các công thức toán học thống kê
vói sự hỗ trợ của chương trình MS - Excel.
2.3.6.I. Số trung bình cộng (X ):
Trung bình cộng là tỉ số giữa tổng lượng trị số các cá thể vói tổng số các cá thể của đối
tượng quan sát, được tính theo công thức:
Trong đó: - ỵ: là kíhiệu tổng.
- X : là giá tri trung bình.
- X ị : là giá tri quan sát thứ i.
■> r 9
- n: là tông sô cá thê được quan sát.
2.3.6.2. Độ lệch chuẩn (SD):
Độ lệch chuẩn nói lên mức độ phân tán hay tập trung của các trị số X ị
xung quanh giá tri trung bình, được tính theo công thức:
Trường đai hoc sư vham Hà Nôi 2 Khoa sinh - KTNN
Lìm Thị Nhẫn 14 Lớp K35B
n
Trong đó: SD là độ lệch chuẩn.
Xi - X độ lệch của từng giá ữị so vói giá tri trung bình, n số cá thể ở
mẫu nghiên cứu.
Ệ ị x i -
x f
Ệ ( x i -
x f
Độ lệch chuẩn: SD
1
(n >

x
2
p (1-
2)
Nam (1) Nữ (2)
N
X ± S D
(cm)
Tăng N
X ± S D
(cm)
Tăng
1
2
5
4
142,1+5,35
-
5
1
143,8 ± 5,2
-
-1,7
>0,0
5
1
3
4
9
146,5 ±

5
Tăng trung bình/ năm 4,7
3,1
Hình 3.1. Biểu đồ thể hiện chiểu cao đứng của học sinh theo tuổi và giới
tính
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chiều cao của cả học sinh nam và nữ đều
tăng dần theo tuổi với tốc độ tăng khá lớn. Nhìn chung, tốc độ tăng chiều cao trung bình
của học sinh nam lớn hơn của học sinh nữ và quá trình tăng chiều cao ở cả nam và nữ
đều có thời điểm tăng nhảy vọt. Tuy nhiên có thể chia làm hai giai đoạn có sự khác biệt
về giới. Đó là ở giai đoạn 12-1 3 tuổi chiều cao của nữ tăng nhanh hơn so với nam nên
chiều cao của nữ có giá tri lớn hơn so với nam. Còn ở giai đoạn 14-15 tuổi, tốc độ tăng
chiều cao của nam lại lớn hơn nữ nên chiều cao của nam có giá trị lớn hơn so với nữ. Sự
khác nhau về chiều cao giữa nam và nữ có liên quan mật thiết với hoạt động nội tiết đối
với phát triển cơ thể.
Tốc độ tăng chiều cao của học sinh không đồng đều, thời điểm tăng nhảy vọt của
học sinh nam là lúc 13-1 4 tuổi và ở nữ là lúc 12 - 13 tuổi. Tăng trưởng về chiều cao
đứng còn chịu ảnh hưởng của sự trưởng thành sinh dục. Điều này dẫn tới sự tăng nhảy
vọt về chiều cao của học sinh diễn ra ở giai đoạn dậy thì. Ở giai đoạn dậy thì, các
hormone sinh trưởng và các hormone sinh dục tiết ra mạnh nhất làm chiều dài xương
tăng nhanh, đặc biệt là sự dài ra của các xương ống. Tuổi dậy thì ở nữ thường đến sớm
hơn so với nam từ 1 - 2 năm kéo theo sự khác biệt về biến đổi hình thái giữa nam và nữ.
Bảng 3.2. Bảng so sánh chiều cao đứng của học sinh với các tác giả khác.
So với số liệu của Trần Thị Loan [13] và Đỗ Hồng Cường [12] thì chiều cao trung
bình của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi là tương đương. Còn so với số liệu
trong các công trình nghiên cứu khác như “HSSH” năm 1975 [1], Đào Huy Khuê [8],
chiều cao trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn. Điều này có thể giải thích
do chế độ dinh dưỡng của học
Giớ
i
rin A

150
145
140
135
130
125
120
115
HSSH
Đ.H.Khu

T.T.Loan
Đ.H.Cưc
1
1
1
1
T
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh chiều cao đứng của học sinh nữ so cói các tác
giả khác
3.1.2. Cân nặng
Cân nặng là một thông số quan trọng liên quan đến nhiều kích thước khác nhau
nên thường dùng để đánh giá sự phát triển cơ thể. Đối với một cơ thể bình thường trong
giai đoạn tăng trưởng, cân nặng thường xuyên tăng lên nhưng không đồng đều. Cân nặng
phụ thuộc vào điều kiện KTXH và chịu tác động của chế độ ăn uống cũng như tình hình
sức khỏe và bệnh tật.
Cân nặng của học sinh nam tăng từ 32,5 + 5,1 kg (12 tuổi) đến 46,2 + 6,0 kg (15
tuổi), trung bình tăng 3,1 kg/năm; nữ tăng từ 34,2 + 4,8 kg (12 tuổi) đến 43,5 + 5,2 kg (15
tuổi), trung bình tăng 2,7 kg/năm.
Tốc độ tăng cân nặng theo tuổi ở học sinh nam và nữ không đều. Cân nặng của


ng
1
2
5
4
32,5 + 5,1
-
5
1
34,2 + 4,8
-
-1,7 >0,0
5
1
3
4
9
35,6 + 6,3 3,1 5
1
39,1+4,26 4,9 -3,5 >0,0
5
Hình 3.4. Đồ thị bỉm diễn cân nặng của học sình theo tuổi và giới tính Qua kết
quả nghiên cứu tôi nhận thấy, cân nặng của học sinh nam và nữ đều tăng dần theo
tuổi với tốc độ tăng khá lớn. Tốc độ tăng cân nặng của học sinh không đồng đều,
tăng nhanh nhất ở nam lúc 15 tuổi và ở nữ lúc 14 tuổi. Tốc độ tăng cân nặng trung
bình của học sinh nam cũng lớn hơn học sinh nữ nên cân nặng của nam thường lớn
hơn cân nặng của nữ.
Bảng 3.4. Cân nặng (kg) của học sinh theo nghiên cứu của các tác giả khác
1

Đào Huy
Khuê
(1991)
Tạ Thúy
Lan và cs
(1999)
Trân Thị
Loan
(2002)
Đô Hông
Cường
(2009)
L.T.Nhẫn
(2013)
Na
m
1
2
25,5
1
26,86 25,39 33,09 31,32 32,5
1
3
27,7
7
29,6 27,96 35,32 34,88 35,6
1
4
29,8
4

học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong các nghiên cứu khác.
1
3
28,1
9
32,85 32,21 36,23 37,22 39,1
1
4
30,7
6
35,36 36,45 41,75 40,13 40,06
1
5
34,1
6
38,83 38,46 42,9 42,11 43,5
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nam so với các tác giả khác
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện cân nặng của học sinh nữ so với các tác giả khác
3.1.3. Vòng ngực trung bình
Kết quả nghiên cứu vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính được trình
bày ở bảng 3.5.
Bảng 3.5. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo lứa tuổi và giới tính
Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy, từ 12 - 15 tuổi vòng ngực trung bình của học sinh
nam tăng từ 65,8 + 4,10 cm lên 74,6 + 4,16 cm, trung bình tăng 2,93 cm/năm. Vòng ngực
trung bình của học sinh nữ tăng từ 66,3 + 4,04 cm lúc 12 tuổi lên 76,02 ± 3,81 cm lúc 15
tuổi, trung bình tăng 3,24 cm/năm.
Tốc độ tăng vòng ngực trung bình theo tuổi của học sinh không đều. Vòng ngực
trung bình của nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn 14-1 5 tuổi còn ở nữ là giai đoạn 13-
14 tuổi. Như vậy, thòi kỳ tăng vòng ngực trung bình nhảy vọt của học sinh nam muộn
hơn học sinh nữ một năm.

-
-0,5
>0,0
5
13
4
9
67,9 ± 3,17 2,1
5
1
70,5+4,31 4,2 -2,6
<0,0
5
14
5
3
71,2 ±5,03 3,3
5
3
72,67 +
5,13
2,1
7
-
1,47
<0,0
5
15
5
1

(2000)
Đ.H.Cường
(2009)
L.T.Nhẫn
(2013)
Na
m
12 61.79 62.18 64.55 64.22 65,8
13 63.08 64.35 67.02 67.13 67,9
14 64.17 66.52 69.48 71.15 71,2
15 67.2 69.26 72.07 74.53 74,6
Nữ 12 59.92 60.62 61.68 65.89 66,3
13 61.15 62.81 64.52 70.03 70,5
14 62.66 64.39 69.79 73.16 72,67
15 64.75 66.43 72.04 74.22 76,02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status