nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––
ĐẶNG VĂN NGHIỆP
NGHIÊN CỨU MỐI TƢƠNG QUAN
GIỮA ĐỘ DÀY MỠ LƢNG VỚI CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ
SINH DỤC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI NGOẠI
NUÔI TẠI MỘT SỐ TRẠI CHĂN NUÔI TẬP TRUNG
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN L
L
U
U


K
H
H
O
O
A
AH
H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
ĐẶNG VĂN NGHIỆP NGHIÊN CỨU MỐI TƢƠNG QUAN
GIỮA ĐỘ DÀY MỠ LƢNG VỚI CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ
SINH DỤC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI NGOẠI
NUÔI TẠI MỘT SỐ TRẠI CHĂN NUÔI TẬP TRUNG
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN L
L
U
U


N
NV
V
Ă
Ă
N

H


C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I


P
P


Lời cảm ơn

Sau một thời gian tham gia học tập tại trƣờng, đồng thời tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý
sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi
tập trung ở tỉnh Thái Nguyên”, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn của mình.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã đƣợc sự quan tâm
giúp đỡ nhiệt tình của nhà trƣờng, của Khoa sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú
y - trƣờng Đại học Nông Lâm cùng các thầy cô, các cơ quan, gia đình và bạn
bè đồng nghiệp.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu
đó đã giúp tôi hoàn thành chƣơng trình học tập thuận lợi. Đặc biệt, tôi xin cảm
ơn thầy giáo TS. Nguyễn Đức Hùng, Thầy giáo PGS.TS. Trần Văn Phùng đã tận
tình hƣớng dẫn, chỉ bảo giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài để hoàn
thành bản luận văn này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn chân
thành tới Ban giám hiệu nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hƣớng dẫn và toàn thể các thầy
cô giáo, bạn bè, gia đình giúp tôi hoàn thành bản luận văn này.

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2010
Tác giả Đặng Văn Nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC



Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1. Cơ cấu đàn nái nuôi tại trại chăn nuôi Hùng Chi và Trung tâm chăn
nuôi Thắng Lợi 39
3.2. Kết quả theo dõi độ dày mỡ lƣng của đàn nái sinh sản 41
3.3. Kết quả đo độ dày mỡ lƣng của lợn nái sinh sản theo lứa đẻ 44
3.4. Ảnh hƣởng của độ dầy mỡ lƣng đến hoạt động sinh lý sinh dục của
lợn nái sinh sản 47
3.4.1. Ảnh hƣởng của độ dày mỡ lƣng đến thời gian động dục trở lại
sau đẻ của lợn nái 47
3.4.2. Ảnh hƣởng của độ dày mỡ lƣng tới tỷ lệ phối giống thụ thai của
lợn nái 49
3.5. Ảnh hƣởng của độ dày mỡ lƣng đến khả năng sản xuất của lợn nái
sinh sản 51
3.5.1. Ảnh hƣởng của độ dày mỡ lƣng đến số lợn con 51
3.5.2. Ảnh hƣởng của độ dày mỡ lƣng đến khối lƣợng lợn con 53
3.6. Tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng và một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục
của lợn nái 55
3.7. Tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng và số lƣợng lợn con đẻ ra/lứa của
lợn nái sinh sản 58
3.8. Mối tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng và các chỉ tiêu về khối lƣợng
lợn con 60
3.9. Kết quả theo dõi nguyên nhân ảnh hƣởng đến độ dày mỡ lƣng lợn
nái hậu bị và nái sinh sản 61
3.10. Giải pháp để cải thiện khả năng sản xuất của lợn nái trong các cơ sở
chăn nuôi tập trung tại Thái Nguyên 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3.10.1. Ảnh hƣởng của việc can thiệp bằng chế độ dinh dƣỡng đến độ

Bảng 3.8. Mối tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng và một số chỉ tiêu sinh
lý sinh dục của lợn nái hậu bị 56
Bảng 3.9. Mối tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng và một số chỉ tiêu sản
xuất của lợn nái 58
Bảng 3.10. Tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng lợn mẹ và khối lƣợng lợn con 60
Bảng 3.11. Ảnh hƣởng của can thiệp bằng dinh dƣỡng đến độ dày mỡ lƣng 64
Bảng 3.12. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của các nhóm lợn nái đƣợc
can thiệp bằng chế độ dinh dƣỡng 65
Bảng 3.13. Số lƣợng lợn con/lứa của các nhóm lợn nái đƣợc can thiệp
bằng chế độ dinh dƣỡng 66
Bảng 3.14. Khối lƣợng lợn con của các nhóm lợn nái đƣợc can thiệp
bằng chế độ dinh dƣỡng 67 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã từ lâu, chăn nuôi là ngành cung cấp thực phẩm chủ yếu phục vụ đời
sống con ngƣời. Cùng với nhu cầu thực phẩm của con ngƣời ngày càng cao,
chăn nuôi cũng đạt nhiều thành tựu nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Trong ngành
chăn nuôi, nghề nuôi lợn chiếm vị trí rất quan trọng. Theo thống kê của FAO
(2008), tổng sản lƣợng thịt trên toàn thế giới là 232,1 triệu tấn, trong đó thịt
lợn là 103 triệu tấn, chiếm gần 44%; thịt bò là 52,9 triệu tấn, chiếm 22,79%,
thịt gà là 48,6 triệu tấn, chiếm 20,93%. Ở nƣớc ta, nghề chăn nuôi lợn đã có
từ lâu đời, ngày càng phát triển, và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng trên
hầu hết các lĩnh vực nhƣ: chọn tạo giống, dinh dƣỡng, kỹ thuật chăn nuôi, quy
trình vệ sinh và thú y… Do vậy, năng suất và chất lƣợng sản phẩm chăn nuôi
lợn không ngừng đƣợc nâng cao. Số lƣợng đầu lợn tăng với tốc độ ngày càng
nhanh. Theo số liệu của Cục thống kê (năm 2007), tổng đàn lợn ở Việt Nam
năm 2005 đạt 27,434 triệu con, năm 2006 đạt 26,85 triệu con, đã sớm đạt và
vƣợt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đạt 25 triệu con.

tỉnh Thái Nguyên”.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá ảnh hƣởng của độ dày mỡ lƣng tới khả năng sinh sản của
lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định mối tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng với các chỉ tiêu sinh
sản của nái ngoại.
- Đề xuất các giải pháp chăm sóc nuôi dƣỡng hợp lý để nâng cao khả
năng sinh sản của đàn nái ngoại.
Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi hiểu đầy đủ về mối tƣơng quan
giữa độ dày mỡ lƣng đến năng suất sinh sản của lợn nái.
- Góp phần cải thiện và nâng cao sức sinh sản của nái ngoại nuôi tại
địa phƣơng.
- Nghiên cứu mối tƣơng quan giữa độ dày mỡ lƣng và các chỉ tiêu sinh
sản của nái ngoại.

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Tính trạng số lƣợng và sự di truyền tính trạng số lƣợng
Tính trạng số lƣợng là những tính trạng mà sự sai khác giữa các cá thể
là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại. Tính trạng số
lƣợng còn đƣợc coi là tính trạng đo lƣờng vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc
vào đo lƣờng. Hầu hết những tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là
những tính trạng số lƣợng và phần lớn những sự thay đổi trong quá trình tiến
hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lƣợng.
Đề giải thích hiện tƣợng di truyền các tính trạng số lƣợng. Nilson và
Ehle (1908) (đƣợc Trần Đình Miên trích dẫn, 1975) [11] đã đƣa ra giả thuyết

giống. Chúng ta biết rằng, bố mẹ chỉ truyền cho con các gen của chúng chứ
không phải truyền đạt kiểu gen cho đời sau. Kiểu gen phải đƣợc sáng tạo mới
ở mỗi thế hệ. Giá trị gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con gọi là “hiệu ứng
trung bình” của các gen.
Hiệu ứng trung bình của một gen là sai lệch trung bình của cá thể so
với trung bình của quần thể mà nó đã nhận đƣợc gen đó từ một bố hoặc mẹ
nào đó, còn gen kia nhận đƣợc từ bố hoặc mẹ khác trong quần thể. Tổng các
hiệu ứng trung bình của các gen mà nó đang mang đƣợc gọi là giá trị cộng
gộp hoặc giá trị giống của cá thể.
Giá trị giống của cá thể có thể đƣợc biểu thị bằng đơn vị tuyệt đối,
nhƣng để tiện lợi chúng thƣờng để dƣới dạng sai lệch so với trung bình quần
thể và dùng chữ A để biểu thị. Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu
gen, vì nó cố định và có thể di truyền đƣợc.

5
“D” (Dominance deviation) là sai lệch trội, là tác động giữa các cặp
alen ở trong cùng một locus. Khi xem xét một locus duy nhất, sự khác nhau
giữa giá trị kiểu gen G và giá trị gen A của một kiểu gen nào đó chính là sự
sai lệch trội (D), do đó:
G = A + D
Sai lệch trội đƣợc sản sinh từ các tác động qua lại giữa các cặp alen ở
trong cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử. Nếu không có tính
trội thì giá trị kiểu gen và giá trị cộng gộp là trùng hợp với nhau.
Có thể hình dung sai lệch trội của các cặp gen nhƣ sau: Giả sử locus A
có cặp gen tƣơng ứng là A
1
và A
2
với hiệu ứng trung bình của các gen là a
1

AB

Trong đó: I
AB
là sai lệch của giá trị kiểu gen so với tổng giá trị cộng gộp
lại. Sai lệch I đƣợc gọi là sai lệch tƣơng tác hoặc sai lệch át gen. Loại sai lệch
này thƣờng thấy trong di truyền học số lƣợng.
Về mặt lý thuyết có nhiều tƣơng tác át gen khác nhau. Đầu tiên là loại
tƣơng tác át gen tuỳ theo số lƣợng nhân tố (locus) tham gia. Khi có sự tƣơng
tác giữa 2 locus thì gọi là tƣơng tác át gen 2 nhân tố, khi có sự tƣơng tác giữa
3 locus thì gọi là tƣơng tác át gen 3 nhân tố… Những tƣơng tác nhƣ vậy gọi là
tƣơng tác át gen tuỳ theo số lƣợng nhân tố (locus) tham gia.

6
D và I không cố định, không di truyền, nó phụ thuộc vào sự tƣơng tác
giữa các gen nên nó là cơ sở di truyền về lai giống.
* Ảnh hưởng của môi trường
Có 2 loại môi trƣờng chính, đó là sai lệch môi trƣờng chung và sai lệch
môi trƣờng riêng.
Sai lệch môi trƣờng biểu diễn bằng công thức:
E = E
g
+ E
S

Trong đó:
- E
g
(General environmental deviation): là sai lệch môi trƣờng chung,
các sai lệch do các nhân tố môi trƣờng tác động đến toàn bộ cá thể trong một

di truyền theo nghĩa hẹp.Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị phần
phƣơng sai của giá trị kiểu hình của cá thể, đƣợc quyết định bởi các phƣơng
sai giá trị kiểu gen.
h
2
G
= V
G
/ V
P
Trong đó: V
P
là phƣơng sai giá trị kiểu hình.
V
G
là phƣơng sai giá trị kiểu gen.
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị giá trị kiểu hình đƣợc quyết
định bởi các gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con.
h
2
G
= V
A
+ V
P.
Năng suất sinh sản phụ thuộc vào nhiều chỉ tiêu, nhƣng xét về mặt di
truyền chọn giống, ngƣời ta chỉ quan tâm một số tính trạng năng suất sinh sản
nhất định (Holness, 1991) [33]. Vandersteen (1986) [45] cho rằng, các tính trạng
năng suất sinh sản chủ yếu ở lợn nái bao gồm: tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ
thai, số con còn sống trong ổ, thời gian từ khi cai sữa tới động dục trở lại.

Ƣu thế lai là hiện tƣợng sinh vật học biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ
của những cơ thể do lai tạo các con giống gốc không cùng huyết thống. Ƣu
thế lai có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối
lƣợng cơ thể, sự tăng cƣờng trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống đỡ
bệnh tật tốt hơn, rút ngắn thời gian nuôi… Mặt khác, ƣu thế lai hiểu theo từng
tính trạng, có tính trạng phát triển, có tính trạng giữ nguyên, thậm chí có tính
trạng giảm sút so với giống gốc (Trần Huê Viên, 2001) [21].

9
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [13], ƣu thế lai là hiện tƣợng liên quan
tới sự phát triển mạnh mẽ ở đời sau nhƣ: sức để kháng tốt hơn, sức sản suất
cao hơn bố mẹ.
Trong nhiều trƣờng hợp, ƣu thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình cộng
của hai giống gốc. Để tạo ra ƣu thế lai ngƣời ta phải cho con vật giao phối
không cận huyết nhằm tăng mức độ dị hợp tử, bằng cách lai giữa các dòng,
giữa các giống. Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ƣu thế lai còn phụ thuộc vào
nguồn gốc di truyền của bố mẹ, tính trạng cần xem xét, công thức lai và điều
kiện nuôi dƣỡng. Nếu gọi ƣu thế lai là H, ta có công thức:
t1 bm
bm
X -X
H%=
X
x 100
Trong đó: -
1t
X
: Bình quân giá trị tính trạng đời sau
-
bm

xa thì ƣu thế lai càng cao, ngƣợc lại bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng gần
nhau thì ƣu thế lai càng thấp.
- Tính trạng xem xét: Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì ƣu thế
lai cao, ngƣợc lại các tính trạng có hệ số di truyền cao thì ƣu thế lai thấp.
- Công thức giao phối: Ƣu thế lai còn phụ thuộc việc dùng con vật nào
làm bố và con vật nào làm mẹ.
- Điều kiện nuôi dƣỡng chăm sóc: Trong điều kiện nuôi dƣỡng chăm
sóc kém thì ƣu thế lai có đƣợc sẽ thấp, ngƣợc lại trong điều kiện nuôi dƣỡng
tốt thì ƣu thế lai có đƣợc sẽ cao.
1.1.5. Hoạt động sinh lý sinh dục của lợn cái
Sinh sản là quá trình sinh lý quan trọng và cơ bản nhất của gia súc trong
việc duy trì nòi giống, là một quá trình mà ở đó có con đực và con cái đã
thành thục về tính dục, con đực sản sinh ra tinh trùng và con cái sản sinh ra
trứng. Tinh trùng và trứng đƣợc thụ tinh với nhau khoảng 1/3 phía trên ống
dẫn trứng, hình thành hợp tử, sau đó di chuyển và phát triển thành phôi, thai
trong tử cung con cái.

11
Sự thành thục về tính dục đƣợc thể hiện qua sự phát triển các bộ phận
sinh dục phụ, hoàn thiện các chức năng sinh sản và xuất hiện các biểu hiện
sinh dục đầu tiên nhƣ động dục. Đối với lợn cái ngoại, tuổi thành thục ở tính
dục ở lúc 6 - 8 tháng tuổi và phụ thuộc vào phẩm giống, điều kiện nuôi
dƣỡng, chăm sóc, khí hậu thời tiết. Tuổi sử dụng lợn cái và nhân giống là
khác nhau, phạm vi biến động từ 135 - 250 ngày tuổi (Hughes S.P.E. và CS,
1980 [39], Etienne M., Legault C., 1974 [37]; Self H.L., 1995) [40].
Theo Nguyễn Tấn Anh, (1995) [1], tuổi thành thục và khả năng điều
hoà chu kỳ động dục của lợn hậu bị chịu ảnh hƣởng của các yếu tố giống, loại
hình, nuôi dƣỡng và mùa vụ trong năm. Trong thời kỳ thành thục về tính dục,
lợn cái hậu bị đƣợc nuôi nhốt hoặc thả, nếu đƣợc tiếp xúc thƣờng xuyên với
lợn đực thì chúng sẽ thành thục ở tuổi sớm hơn so với lợn cái hậu bị không

thần kinh thể dịch (Schmitten và CS, 1989) [41]

Kích thích ngoại cảnh
(Âm thanh, hình ảnh, mùi con đực, ánh sáng )
VỎ NÃO
Dƣới đồi
(Hypothalamus)
Tuyến yên
GnRH
(LRF và
FRF)
Prolactin
FSH
LH


biến đổi theo, tử cung hé mở, âm đạo xung huyết có màu đỏ, dịch nhờn tiết ra
đặc, keo dính; sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh, tạo điều kiện cho sự
làm tổ của hợp tử sau này.
Tuỳ theo giống lợn mà thời gian trứng rụng dài hay ngắn, trung bình 6 -
8 giờ (ở lợn cái hậu bị thì có thể là 10 giờ), ở lợn trƣởng thành số trứng rụng
trong một chu kỳ động dục từ 15 - 25 trứng. Tuy nhiên, số trứng rụng nhiều
hay ít còn phụ thuộc vào giống, tuổi và nồng độ FSH có trong máu và chế độ
nuôi dƣỡng.
Khi trứng rụng đƣợc thụ tinh sẽ tạo thành hợp tử, hợp tử làm tổ ở sừng
tử cung và phát triển thành bào thai. Đồng thời ở vị trí trứng rụng sẽ hình
thành thể vàng. Thể vàng sau khi hình thành, bắt đầu sản sinh ra Progesteron
và Progesteron có tác dụng ngƣợc âm tính đến vùng dƣới đồi, tuyến yên làm
ngừng tiết GnRH và FSH, LH, làm dừng các biểu hiện động dục. Nếu lợn cái

14
có chửa, chu kỳ động dục trong thời gian có chửa bị gián đoạn. Nếu lợn cái
không có chửa, thể vàng sẽ tồn tại đến ngày thứ 17-18 của chu kỳ, sau đó tiêu
biến đi làm cho tác động ngƣợc âm tính của progesteron lên vùng dƣới đồi,
tuyến yên bị cắt đứt và lợn lại chuẩn bị bƣớc vào chu kỳ động dục mới.
* Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là khoảng thời gian tính từ lần động dục trƣớc cho
đến lần động dục sau. Thông thƣờng, lợn cái sau khi thành thục về tính thì bắt
đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thƣờng biểu hiện không rõ ràng sau
đó 15 - 16 ngày lợn động dục trở lại. Lần động dục này có biểu hiện rõ ràng
hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ. Chu kỳ động dục của lợn nái
bình quân là 21 ngày, dao động từ 17 - 21 ngày. Thời gian động dục phụ
thuộc vào các giống lợn. Các giống lợn nội thì thời gian động dục kéo dài từ 3
- 4 ngày, lợn lai từ 4 - 5 ngày và lợn ngoại từ 3 - 7 ngày, (Nguyễn Khánh
Quắc và CS, 1995) [15].
Lê Xuân Cƣơng và CS (1986) [2] cho biết, chu kỳ động dục của lợn nái

cm, có màu vàng đục. Lúc này nếu có lợn đực đến gần, con cái sẽ sẵn sàng
cho giao phối. Khi lợn đực đến gần hoặc ngƣời chăn nuôi đặt tay lên mông thì
lợn đứng yên, lƣng võng xuống, 2 chân sau chụm lại, đuôi đƣa sang một bên,
hai mép âm hộ có những co rút nhẹ, hé mở thỉnh thoảng đái dắt. Biểu hiện
nhƣ vậy gọi là phản xạ “mê ì” của lợn cái, là dấu hiệu đặc trƣng để nhận biết
thời điểm phối giống thích hợp (Nguyễn Đức Hùng và CS, 2003) [8].
+ Giai đoạn sau động dục (kéo dài từ ngày 3 - 4 tiếp theo): ở giai đoạn
này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn nái
không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn.

16
+ Giai đoạn yên tĩnh: Là giai đoạn bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng
rụng và không đƣợc thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến (Khoảng 14 - 15 ngày
kể từ lúc trứng rụng). Đây là giai đoạn dài nhất trong chu kỳ sinh dục của lợn.
Lợn không có biểu hiện về hành vi sinh dục, là giai đoạn lợn trở về trạng thái
nghỉ ngơi, yên tĩnh hoàn toàn, chuẩn bị cho kỳ động dục tiếp theo (Trần Văn
Phùng và CS, 2004) [14].
1.1.6. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Để đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái ngƣời ta thƣờng theo dõi các
chỉ tiêu sau:
- Tuổi động dục lần đầu: là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn cái
hậu bị động dục lần đầu.
- Tuổi phối giống lần đầu: là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn
cái hậu bị đƣợc phối giống lần đầu. Thông thƣờng ở lần động dục lần đầu tiên
ngƣời ta chƣa cho phối giống vì thời kỳ này thể vóc chƣa phát triển hoàn
chỉnh. Ngƣời ta thƣờng phối giống lợn nái vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ ba.
- Tuổi đẻ lứa đầu: Là thời gian từ sơ sinh đến khi con nái đẻ lứa đầu tiên.
- Số lợn con sơ sinh còn sống: Là tổng số lợn còn sống sau khi lợn mẹ
đẻ xong.
- Số con để lại nuôi: Là số con để lại sau khi đã loại đi những con nhỏ

con cai sữa/nái/năm là những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sức sản
xuất lợn nái. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhƣ: Giống,
phƣơng pháp nhân giống, tuổi, khối lƣợng phối giống đầu tiên, thứ tự các lứa
đẻ, kỹ thuật phối giống, dinh dƣỡng và mùa vụ phối giống

Trích đoạn TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC Phƣơng pháp nghiên cứu Tài liệu tiếng Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status