Nghiên cứu mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch vành - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐINH HIẾU NHÂN

NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN
GIỮA TỔN THƯƠNG XƠ VỮA TRÊN
ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀ ĐỘNG MẠCH VÀNH
Chuyên ngành : BỆNH HỌC NỘI KHOA
Mã số : 3.01.31
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – Năm 2009

- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

1.
Đinh Hiếu Nhân (2001). Khảo sát động mạch cảnh trên bệnh nhân xơ vữa động mạch bằng siêu
âm. Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 5 (1), tr. 29- 32.
2. Đinh Hiếu Nhân (2006). Tương quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và động mạch vành
trên bệnh nhân tăng huyết áp. Thời sự tim mạch học – Tháng 5(99), tr. 14 - 17.
3. Đinh Hiếu Nhân (2006). Tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch

2. Tính cấp thiết của đề tài.
Nghiên cứu giúp đánh giá mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động
mạch vành và động mạch cảnh, từ đó xét đến khả năng áp dụng trong thực tế lâm
sàng ở nước ta nhằm tránh bỏ sót, phát hiện sớm và xử trí kòp thời tổn thương xơ
vữa động mạch cảnh trên nhóm bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
3. Đóng góp mới của luận án.
- Tỉ lệ xuất hiện và mức độ nặng của tổn thương xơ vữa động mạch cảnh trên
nhóm bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
- Mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động mạch
vành.
4. Bố cục của luận án. Luận án gồm 113 trang , có 4 chương : Tổng quan 34 trang,
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 7 trang, Kết quả 20 trang, Bàn luận 20 trang.
Có 43 bảng, 3 biểu đồ, 11 hình và 136 tài liệu tham khảo ( tiếng Việt 6, tiếng Anh
130).
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.

2
1.1. Xơ vữa động mạch. Xơ vữa động mạch là bệnh lý của cả hệ thống động mạch
tồn thân bao gồm cả hai q trình tái sinh và thoái hoá ảnh hưởng khởi đầu ở lớp
nội mạc và sau đó ảnh hưởng lên lớp trung mạc của thành động mạch.
Xơ vữa động mạch liên quan đến nhiều q trình liên quan chặt chẽ với nhau bao
gồm rối loạn về chuyển hóa lipid, hoạt hóa tiểu cầu, huyết khối, rối loạn chức năng
lớp nội mạc động mạch, hiện t
ượng viêm, tác động oxi hóa, hoạt hóa tế bào cơ trơn,
tái cấu trúc và yếu tố di truyền v. v… Mặc dù tổn thương xơ vữa động mạch đã được
biết đến từ nhiều thế kỷ, biểu hiện hậu quả trên lâm sàng của bệnh chủ yếu ở các
động mạch có kích thước trung bình, các động mạch lớn như động mạch chủ và
động mạch chậu có thể bò ảnh hưởng và di chứng thường gặp là phình động mạch
và các biến chứng của phình động mạch. Tổn thương xơ vữa sớm nhất của bệnh có
thể tìm thấy ở trẻ nhỏ và trẻ con ở dạng tổn thương được gọi là vệt mỡ , trong khi

vong do bệnh lý tim mạch không do tai biến mạch máu não trong 5 năm là 10 -
15%. Nguy cơ này cao gấp 5 – 10 lần khi so sánh với dân số chung.
Các nhà nghiên cứu người Nhật qua nghiên cứu tử thiết ở những bệnh nhân
tử vong tuổi từ 1 tháng tuổi đến 39 tuổi từ năm 1978 – 1982 đã phát hiện thấy tổn
thương xơ vữa ở động mạch chủ 2320 trường hợp, ở động mạch vành là 1620
trường hợp và ở động mạch não là 344 trường hợp. Như vậy xu hướng xuất hiện
tổn thương xơ vữa động mạch trên người Nhật trẻ tuổi nhiều nhất là ở động mạch
chủ . Trong nghiên cứu tìm mối tương quan giữa các vò trí tổn thương xơ vữa trên
các động mạch chủ, động mạch cảnh và động mạch đùi ở nhóm bệnh nhân có
bệnh lý động mạch vành, nhiều tác giả người Israel cũng đã phát hiện thấy tỉ lệ
xuất hiện tổn thương xơ vữa xuất hiện rất cao trên những động mạch này khi so với
nhóm bệnh nhân không có bệnh lý động mạch vành.
Trong thời gian gần đây có rất nhiều nghiên cứu về hình ảnh học được thực
hiện cho thấy tần suất xuất hiện tổn thương xơ vữa động mạch rất khác nhau trên
những vò trí và động mạch khác nhau. Điều này đã mỡ ra một hướng nghiên cứu
mới nhằm khảo sát mối tương quan giữa các tổn thương xơ vữa động mạch ở các vò
trí và các động mạch khác nhau trong cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự
tương quan giữa xơ vữa động mạch cảnh và động mạch ngoại biên nhưng hầu hết
các nghiên cứu đều nhắm vào tìm sự tương quan giữa tổn thương xơ vữa động
mạch cảnh và động mạch vành và đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng:
- Có sự tương quan giữa bệnh lý xơ vữa động mạch vành và động mạch cảnh.
- Trên những bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành, tần suất xuất hiện xơ
vữa động mạch cảnh và động mạch ngoại biên cao.
- Các phương pháp khảo sát không xâm trong đánh giá bệnh lý động mạch
cảnh và động mạch ngoại biên có giá trò cao trong dự đoán bệnh lý động
mạch vành cũng như dự đoán biến cố xảy ra trong tương lai của bệnh lý
động mạch vành.
Trong đó mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và
động mạch vành được quan tâm đến nhiều nhất do vò trí thuận lợi cho việc khảo
sát cũng như kỹ thuật siêu âm phát triển cao giúp phát hiện tổn thương xơ vữa của

2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thiết kế theo nghiên cứu cắt ngang, tiềân cứu, mô tả. Tất cả
bệnh nhân đều được tiến hành theo các bước sau:
2.2.1.1. Bước 1: Bệnh nhân được hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, đo điện tâm đồ, các
xét nghiệm mỡ trong máu, đường máu và các xét nghiệm thường qui khác.
2.2.1.2. Bước 2: Tiến hành siêu âm Duplex động mạch cảnh ghi nhận các dữ liệu
về vò trí tổn thương, loại tổn thương và mức độ gây hẹp đường kính lòng mạch trên
hệ thống động mạch cảnh đoạn ngoài sọ 2 bên phải và trái. Không khảo sát động
mạch cảnh ngoài 2 bên.
2.2.1.3. Bước 3: Ghi nhận kết quả chụp động mạch vành số hoá, chú ý đến mức độ
hẹp nặng của tổn thương xơ vữa động mạch vành. 2.2.2. Phương tiện nghiên cứu :
- Máy siêu âm Duplex ALOKA SSG 4000 với đầu dò 7.5 MHz.

2.3. Xử lý số liệu.

5
- Các kết quả ghi nhận đều được xử lý thông kê bằng chương trình thống kê Y
học Epi Info 2002 và SPSS v.14. Các kết quả xử lý nhận được có ý nghóa thống
kê khi giá trò p < 0,05.

Chương 3: KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu.
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu.

Đặc
điểm

15/47
(31,9%)
Rối loạn
lipid
máu
96/106
(90,56%)
74
(69,81%)
22
(20,75%
)
Bệnh lý
động
mạch
vành
106/106
(100%)
84
(79,2%)
22
(22,8%)
Hội
chứng
chuyển
hố
22/106
(20,75%)
15/22
(68,2%)

huyết
áp
Rối loạn
lipid
máu
Hội
chứng
chuyển
hoá
Dân số
nghiên
cứu
0 1/24
(4,2%
)
8/47
(17%)
15/96
(15,6%)
3
(13,6%)
16/106
(15,1%
)
20 1/24
(4,2%
)
1/96
(1%)
1 (4,5%) 1/106

(
2,1%)
1/96
(1%)
1/106
(0,9%)
70 1/24
(4,2%
)
2/47
(4,3%
)
3/96
(3,1%)
2 (9,1%) 3/106
(2,8%)
80 2/24
(8,3%
8/47
(17%)
11/96
(11,5%)
2 (9,1%) 12/106
(11,3%
Không có tổn
thương
(
16/106 # 15
,
1%

1/106
(0,9%)
100 9/24
(37,5
%)
7/47
(14,9
%)
30/96
(31,3%)
6
(27,3%)
35/106
(33%)

Mức độ tổn thương trên động mạch vành thay đổi từ không bị hẹp cho đến tắc
hoàn toàn động mạch vành, tập trung nhiều nhất ở nhóm bệnh nhân có tổn thương xơ
vữa gây hẹp > 70% đường kính lòng mạch (có 80/106 trường hợp chiếm 75,47%).
3.3. KẾT QUẢ TỔN THƯƠNG XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH CẢNH PHÁT HIỆN
BẰNG SIÊU ÂM DUPLEX.

1
0Biểu đồ 3.2. Tổn thương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện bằng siêu
âm.

Bảng 3.3. Vị trí tổn thương động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện trên siêu âm
Duplex.

39 30 9
Động mạch cảnh
trong phải
7 4 3
Động mạch cảnh
trong trái
8 5 3
0,515

Vị trí tổn thương xơ vữa trên hệ thống động mạch cảnh bên phải và trái không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.4. Đặc điểm về loại tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
phát hiện bằng siêu âm.

Tổng cộng Nam Nữ
Tổn thương loại 1 13 9 4
Tổn thương loại 2 51 43 8
Tổn thương loại 3 22 17 5

Bảng 3.5. Mức độ nặng của tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
phát hiện bằng siêu âm Duplex trên các
nhóm bệnh nhân.
Mức
độ
hẹp
(%)
Đái
tháo
đường
Tăng

)
65/96
(67,7%)
14
(63,6%
)
71/10
6
(6,7%
)
30 1/24
(
4,2%)
3/47
( 6,4%)
6/96
(6,3%)
2
(9,1%)
6/106
(5,7%
)
50 3/24
(
12,5%
)
2/47
( 4,3%)
5/96
(5,2%)

Nhóm bệnh nhân Có Không
Đái tháo đường 22/24 (91,7%) 2/24 (8,3%)
Tăng huyết áp 39/47 (83%) 8/47 (17%)
Rối loạn lipid máu 78/96 (81,3%) 18/96 (18,8%)
Hội chứng chuyển hoá 20/22 (90,9%) 2/22 (9,1%)
Dân số nghiên cứu 86/106 (81,1%) 20/106 (18,9%)

3.4. Mối tương quan giữa tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh và động
mạch vành.
Bảng 3.7. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
chụp động mạch vành số hoá trên dân số nghiên cứu. Tỉ số chênh = 6,5

Phép kiểm Chi
bình phương = 11,9312
P = 0.0005
Giá trị tiên đoán
dương = 90,7%

Độ nhạy = 86,7%
Nhận xét: Kết quả của bảng trên cho thấy rằng đối với những bệnh nhân có tổn
thương trên động mạch vành được phát hiện bằng siêu âm ở nhóm dân số nghiên cứu
có nguy cơ bị tổn thương trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ cao với giá trị tiên đoán
dương tính là 90,7%, độ nhạy là 86.7% và tỉ số chênh là 6,5 lần (p = 0,0005).
Bảng 3.8. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
kết quả chụp động mạch vành số hoá trong nhóm bệnh nhân có đái tháo đường.
)

thương
Không tổn
thương
8 12
Có tổn thương 8 78
Tổng cộng 16 90

Tổn thương xơ vữa động

10

Tổn thương xơ
vữa động mạch
cảnh
Không có
tổn
thương
Có tổn
thương
Tổng cộng
Không có tổn
thương
0 2 2
Có tổn thương 1 21 22
Tổng cộng 1 23 24

Tỉ số chênh = Không tính được.
Giá trị tiên đoán dương = 95,5%.
Độ nhạy = 91,3%

mạch vành

Tổn thương xơ vữa động mạch vành
Tổn thương xơ
vữa
động mạch cảnh
Không có tổn thương Có tổn thươngTổng cộng
Không có tổn
thương
8 10 18
Có tổn thương 7 71 78
Tổng cộng 15 81
96

Tổn thương xơ vữa động mạch vành
Tổn thương xơ vữa động mạch cảnh
Không có tổn
thương
Có tổn thương Tổng cộng
Không có tổn thương 4 4 8
Có tổn thương 4 35 39
Tổng cộng 8 39 47

11
Bảng 3.11. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có đối chiếu với
kết quả chụp động mạch vành số hoá trong nhóm bệnh nhân có hội chứng chuyển
hoá.


0,335
(p=0,0001)
Tăng huyết
áp
0,397 (0,006)
Đái tháo
đường
0,165 (0,91)
Rối loạn
lipid máu
0,383
(p=0,0001)
Hội chứng
chuyển hoá
0,796
(p=0,0001)

Bảng 3.13. Hệ số tương quan Spearman giữa loại tổn thương xơ vữa động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ và tổn thương xơ vữa động mạch vành.
Loại tổn
thương
Dân số nghiên cứu
Hệ số P
Loại 1 0,146 0,416
Loại 2 0,407
0,0001 Tổn thương xơ vữa động
mạch cảnh

5
0,12 0,66
7
0,21
9
0,19
8
0,295
Loại
2
0,40
0
0,02
8
0,77
5
0,00
3
0,43
6
0,000
1
Loại
3
0,44
4
0,06
5
1 0,00
01

Nhóm rối
loạn lipid
máu

Hệ
số
P Hệ
số
P Hệ
số
P Hệ
số
P
XV-P 0,250
0,01
0,355
0,014
0,5
0,018
0,283
0,005
XV-T 0,273
0,005
0,297
0,043
0,417 0,054 0,394
0,0001
RCCA 0,203 0,37 0,236 0,11 0,169 0,451 0,213
0,036
Nhóm nghiên cứu Hệ số

chênh
P Tỉ số
chênh
P
Dân
số
nghiê
n cứu
27-87
11,2
GTTĐ
D =
92,8%
Độ
nhạy
=
88,9%
0,000
1
≥ 40
9,15
GTTĐ
D
=92,4
%
Độ
nhạy

chiếm tỉ lệ cao trong khảo sát này. Trong các nhóm yếu tố nguy cơ tim mạch ghi
nhận được trên dân số nghiên cứu, qua nghiên cứu cho thấy yếu tố rối loạn lipid máu
là yếu tố xảy ra nhiều nhất với tỉ lệ 90,56%. Số trường hợp có tăng huy
ết áp và đái
tháo đường chiếm lần lượt 44,34% và 22,06%, và cũng ghi nhận được có 22 trường
hợp chiếm 20,75% có hội chứng chuyển hoá (Bảng 3.1).
4.2. Kết quả chụp động mạch vành số hoá trên dân số nghiên cứu.
Trong 106 trường hợp khảo sát có 90 trường hợp phát hiện tổn thương xơ vữa
động mạch vành trên kết quả chụp động mạch số hoá chiếm tỉ lệ 84,9%. Mức độ tổn
th
ương trên động mạch vành tập trung nhiều nhất ở nhóm bệnh nhân có tổn thương
xơ vữa gây hẹp > 70% đường kính lòng mạch (có 80/106 trường hợp chiếm 75,47%).
Có 16 trường hợp không phát hiện tổn thương xơ vữa trên chụp động mạch vành số
hoá mặc dù lâm sàng có biểu hiện đau thắt ngực và có các yếu tố nguy cơ tim mạch
đi kèm (Bảng 3.2). Điều này có thể xảy ra do có nhiều nguyên nhân gây đau ngực có
tính chấ
t gần giống với đau thắt ngực cũng như biểu hiện trên điện tâm đồ của bệnh
tim thiếu máu cục bộ cũng không có dấu hiệu đặc hiệu cao cho bệnh, mặt khác có thể
xem chụp động mạch vành số hoá là một xét nghiệm giúp chẩn đoán loại trừ hẳn
bệnh lý động mạch vành trên bệnh nhân đau ngực kèm với nguy cơ cao bệnh lý tim
mạch trong những tr
ường hợp cần thiết.
4.3. Kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ trên dân số nghiên
cứu.
Theo kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.2 ghi nhận được 81,1% các trường hợp có
tổn thương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện được bằng siêu âm
Duplex. Tổn thương xơ vữa được phát hiện ở tất cả các vị trí của h
ệ thống động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ không có sự khác biệt giữa số lượng tổn thương bên phải và bên
trái, nhưng vị trí tổn thương phát hiện nhiều nhất vẫn là ở động mạch cảnh chung và

độ dày của lớp nội trung mạc động mạch cảnh nghĩa là chỉ khảo sát tổn thương xơ
vữa xả
y ra sớm, trong khi đó nghiên cứu này khảo sát tất cả các loại tổn thương xơ
vữa từ nhẹ đến nặng điều đó có thể làm gia tăng tỉ số chênh trong nghiên cứu.
Tổn thương xơ vữa trên động mạch vành có vai trò quan trọng trong tiên đoán
cho bệnh lý ở động mạch cảnh khi mà hệ số tương quan giữa sự xuất hiện tổn thương
xơ vữa ở 2 h
ệ thống mạch máu khảo sát là 0,355 (p=0,0001) (Bảng 3.12). Kết quả
cũng phù hợp với nhận xét của các tác giả Jacek Nowak và Tage Nilsson nhận thấy
qua nghiên cứu của mình những bệnh nhân có tổn thương xơ vữa động mạch cảnh
đoạn ngoài sọ có mối tương quan cao với tổn thương xơ vữa động mạch vành với hệ
số tương quan Spearman = 0,332 (p=0,001).
Như vậy tổn thương xơ vữa trên 2 hệ
thống động mạch có mối tương quan chặt
với nhau trong quá trình diễn tiến của xơ vữa động mạch, việc nhận biết tổn thương
xơ vữa trên một hệ thống động mạch là yếu tố quan trọng cho dự đoán tổn thương xơ
vữa đã xuất hiện trên hệ thống động mạch khác và ngược lại. Điều này rất có ích trên
thực t
ế lâm sàng trong tầm soát sớm bệnh lý động mạch vành cũng như bệnh lý động
mạch cảnh trên những đối tượng bệnh nhân có nguy cơ bệnh lý tim mạch và thời
điểm nên tiến hành khảo sát nhằm có kế hoạch dự phòng và điều trị sớm tránh những
biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng có thể xảy ra.
4.5. Mối tương quan giữa vị trí tổn thương xơ vữa trên
động mạch cảnh và tổn
thương xơ vữa động mạch vành.
Khi khảo sát đến mối tương quan giữa vị trí của tổn thương xơ vữa động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ với tổn thương xơ vữa động mạch vành trên dân số nghiên cứu,
nghiên cứu cho thấy tổn thương xơ vữa động mạch vành có khả năng tiên đoán cho
sự xuất hi
ện của xơ vữa động mạch trên hệ thống động mạch cảnh bên trái và hệ

mạch chi dưới là những vị trí có khả năng nhiều nhất .
Những tổn thương xơ vữa xuất hiện trên động mạch cảnh loại 2 và loại 3 có mối
tương quan có ý nghĩa thống kê sự xuấ
t hiện của tổn thương xơ vữa trên động mạch
vành ở nhóm dân số nghiên cứu với hệ số tương quan Spearman lần lượt là 0,407
(p=0,0001) và 0,362 (p=0,018) (Bảng 3.13). Theo kết quả nghiên cứu về bệnh lý tim
mạch ở Anh được thực hiện trên bệnh nhân ở 2 tỉnh khác nhau đã cho rằng những tổn
thương mảng xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện bằng siêu âm có
giá tr
ị hơn là độ dày lớp nội trung mạc trong dự đoán tổn thương xơ vữa động mạch
vành và nên bắt đầu kế hoạch điều chỉnh, theo dõi các yếu tố nguy cơ tim mạch khi
phát hiện tổn thương mảng xơ vữa trên động mạch cảnh.
4.7. Mối tương quan giữa mức độ hẹp nặng của tổn thương xơ vữa trên động
mạch c
ảnh và mức độ hẹp nặng của tổn thương xơ vữa trên động mạch vành.
Khi xét đến mối tương quan giữa mức độ hẹp nặng hay nhẹ của tổn thương xơ
vữa trên 2 hệ thống động mạch khảo sát trong dân số nghiên cứu, nghiên cứu cũng
tìm được mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nặng của tổn thương với
hệ
số tương quan Pearson = 0,315 và p = 0,001(bảng 3.15). Kết quả này cũng phù
hợp với nghiên cứu Rotterdam khi cho rằng sự tiến triển nặng lên của bề dày lớp nội
trung mạc động mạch cảnh ở bất kỳ vị trí nào cũng có giá trị tiên đoán cao cho nhồi
máu cơ tim diễn ra trong tương lai .
Như vậy, mức độ nặng và loại tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh đoạn
ngoài sọ được phát hiện có mối tương quan chặt với sự xuất hiện của tổn thương xơ
vữa động mạch vành. Điều này rất hữu ích cho thực hành lâm sàng nhằm tránh bỏ sót
chẩn đoán tổn thương động mạch cảnh khi đã phát hiện ra bệnh lý xơ vữa động mạch
vành và giúp đề ra được kế hoạch điều trị và theo dõi lâu dài ở những bệnh nhân có
nguy c
ơ bệnh lý tim mạch. Khi đã phát hiện tổn thương xơ vữa trên một hệ thống

ợp có hội
chứng chuyển hoá trên lâm sàng kèm với đau thắt ngực, hầu như chắc chắn đã có tổn
thương xơ vữa nặng trên động mạch vành. Theo kết qủa bảng 3.20 có đến 90,9% các
trường hợp có tổn thương động mạch cảnh đoạn ngoài sọ được phát hiện bằng siêu
âm Duplex và giá trị tiên đoán dương của tổn thương xơ vữa động mạch vành cho sự
xu
ất hiện của tổn thương xơ vữa trên động mạch cảnh là 100% các trường hợp (Bảng
3.11).
Đặc biệt khi khảo sát mối tương quan giữa loại tổn thương xơ vữa động mạch
cảnh đoạn ngoài sọ phát hiện trên siêu âm với tổn thương xơ vữa động mạch vành
qua nghiên cứu nhận thấy rằng những tổn thương xơ vữa loại 2 và loại 3 trên
động
mạch cảnh có mối tương quan không chỉ với sự xuất hiện của tổn thương xơ vữa
động mạch vành với hệ số tương quan Spearman lần lượt là 0,775 (p= 0,003) và 1
(p= 0,0001) (Bảng 3.14).
4.8.3. Nhóm bệnh nhân có rối loạn lipid máu.
Trong kết quả nghiên cứu tỉ lệ xuất hiện xơ vữa động mạch vành trên
nhóm bệnh nhân này là 84,4% (Bảng 3.2) và tỉ lệ xuất hiện tổn thương xơ vữa trên
động mạch cảnh đoạn ngoài sọ là 91,7% (Bảng 3.5). Trong đó tổn thương xơ vữa có
mức độ nặng gây hẹp động mạch vành từ 70% đường kính lòng mạch trở lên chiếm
73,96% các trường hợp có tổn thương động mạch vành và 31,3% các trường hợp có
tắc hoàn toàn động mạch vành (Bảng 3.16).
Khi đối chiếu kết quả siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ và kết
quả chụp
động mạch vành số hoá, kết quả nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có
tổn thương xơ vữa động mạch vành có khả năng xuất hiện tổn thương xơ vữa động

18
mạch cảnh tăng hơn 8,1143 lần khi so với nhóm bệnh nhân không có tổn thương xơ
vữa trên động mạch vành (p=0.001) và giá trị tiên đoán dương cho sự xuất hiện tổn

kết luận sau:
1. Tổn th
ương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ được phát hiện với tỉ lệ cao
(81,1%) trên thực tế lâm sàng ở bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành.
Tổn thương xơ vữa động mạch mức độ nặng (loại 2 và loại 3) trên hệ thống động
mạch cảnh đoạn ngoài sọ xuất hiện với tỉ lệ cao trên nhóm đối tượng nghiên cứu (
84,88% ).
2. T
ương quan giữa tổn thương xơ vữa động mạch cảnh và động mạch vành.
- Có sự tương quan với nhau mức trung bình giữa sự xuất hiện của tổn thương xơ
vữa trên hai hệ thống động mạch vành và động mạch cảnh ( tỉ số chênh = 6,5 , p=
0,0005 ; hệ số tương quan = 0,335 , p = 0,0001).

19
- Không có vị trí riêng biệt nào trên hệ thống động mạch cảnh đoạn ngoài sọ
có tương quan với tổn thương xơ vữa động mạch vành, ngoại trừ nơi chia đôi của
động mạch cảnh chung trái .
- Tổn thương xơ vữa mức độ nặng về phân loại trên siêu âm Duplex của tổn
thương trên động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có sự tương quan mức trung bình với sự

xuất hiện và mức độ hẹp nặng của tổn thương xơ vữa trên động mạch vành ( hệ số
tương quan = 0,332 , p = 0,001).
- Tổn thương xơ vữa nhẹ trên động mạch cảnh không có mối tương quan có ý
nghĩa thống kê với tổn thương xơ vữa động mạch vành.
Kiến nghị.
Nên tiến hành khảo sát siêu âm Duplex động mạch cảnh đoạn ngoài sọ một cách
thườ
ng qui ở nhóm bệnh nhân có chẩn đoán bệnh lý động mạch vành.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status