Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 28

Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ
TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ
(KHẢO SÁT QUA TẬP NGÀY MAI CỦA NHỮNG NGÀY MAI )
***
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tính độc đáo của mỗi loại hình nghệ thuật trước hết là do tính chất
các phương tiện vật chất mà chủ thể sáng tạo dùng để xây dựng hình tượng loại hình đó
quy định. Về mặt này, lẽ tự nhiên, văn học là nghệ thuật ngôn từ, yếu tố vật chất mang
tính hình tượng của nó là lời nói của con người mà cơ sở là ngôn ngữ của một dân tộc
nhất định.
Ngôn ngữ là một hiện tượng rất sinh động và lí thú. Nhà văn là người tổ
chức ngôn từ tạo nên hình tượng nghệ thuật, chỉnh thể tác phẩm, tạo cho mình một dấu
ấn riêng, một phong cách riêng. Cho nên xác định giá trị của tác phẩm, phong cách của
tác giả thông qua tìm hiểu đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ là một hướng đi đã được
khẳng định và do đó ngôn ngữ tác phẩm đã trở thành một đới tượng được đặc biệt quan
tâm nghiên cứu bởi những đặc trưng mang tính thể loại của nó. Do vậy, việc nghiên
cứu tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ là một cách quan trọng để tiếp cận tác phẩm văn học
và qua đó nhận định được tính sáng tạo, tài năng của tác giả.
1.2. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn hiện đại thuộc thế hệ 7X. Thành quả của
chị trên con đường văn chương đã liên tiếp được khẳng định qua các giải thưởng: Giải
nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II – năm 2000, giải B – Hội nhà văn
Việt Nam- năm 2001; Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ - Ủy ban toàn quốc liện hiệp
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
1
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam- năm 2000; Một trong “Mười gương mặt trẻ tiêu
biểu năm 2003” do Trung ương Đoàn trao tặng. Năm 2005 chị gây xôn xao giới văn
nghệ, bạn đọc với tác phẩm “Cánh đồng bất tận”, sau này được giới báo chí Hàn Quốc

cây bút khác: “Một cái bệnh của những người viết trẻ bây giờ là mặc cảm (hay đua đòi)
phải dùng một bút pháp mới, mô tả xã hội tân thời (thường được xem đồng nghĩa với
lối sống thị thành), đôi khi phải làm ra vẻ biết nhiều, học rộng. Nguyễn Ngọc Tư không
cần “làm dáng” kểu ấy. Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ. Cái lạ ở cô
là tài khui mở nhũng sinh hoạt thân thuộc trước mắt ”
Tháng 10/2007, tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của nhà văn trẻ Nguyễn
Ngọc Tư dã được chuyển ngữ và phát hành tại Hàn Quốc. Ông Seo Jae-Young, đại
diện nhà xuất bản Asia tại Seoul, trong khi trao đổi với phóng viên Việt Nam, có
những lời đánh giá rất cao về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư. “Từ tác phẩm này, chúng
ta thấy rằng dòng văn học hiện đại của Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn, trước
và sau Nguyễn Ngọc Tư. Qua tiểu thuyết của cô, người ta có thể cảm nhận được sư
thay đổi về nhận thức và cuộc sống. Tác phẩm của Tư có thể khiến cho các tác phẩm
văn học khác tại Việt Nam trở nên lỗi thời. Và các cây viết mới kiểu Nguyễn Ngọc Tư
“sẽ xuất hiện”. “Người ta cho rằng không gì giúp chúng ta hiểu rõ hơn về xã hội là văn
chương. Và tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đã làm được điều đó”. “Chính nội dung
của câu chuyện đã hoàn toàn cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối”.
Đồng thời chúng tôi đã điểm qua những bài viết khác trên các báo, trang
Wed, Blog trong và ngoài nước như: “Cánh đồng bất tận –một hiện tượng văn hoc
đang gây nhiều tranh luận” của nhà văn Hoàng Khởi Phong
( “Những vụ án đình đám trong làng văn” của Hà Nguyễn
(Netnam); “Bão rùng rùng ngoài kia mà maí ấm vẫn bình yên” của Thúy Nga ( Tuổi
trẻ); “Nguyễn Ngọc Tư: Đang có đốt lửa lại” của Hạnh Đỗ (Tiền Phong)
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
3
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
Chúng tôi nhận thấy đó chỉ mới là những bài phỏng vấn, nhận định, đánh
giá ngắn gọn, chung chung về Nguyễn Ngọc Tư, chưa có những công trình nghiên cứu
chuyên sâu. Sinh viên Nguyễn Ngọc Mơ - ĐHSP Đồng Tháp có bài nghiên cứu khoa
học: “Lớp từ địa phương trong truyện ngắn cánh đồng bất tận”. Tuy nhiên, bài nghiên
cứu này chỉ giới hạn ở lớp từ địa phương của một tác phẩm “Cánh đồng bất tận” và đó

Việc nghiên cứu truyện ngắn nói chung và truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói
riêng đã được tiến hành, nhưng việc nghiên cứu ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
thực tế chưa có tác giả nào quan tâm. Đây vẫn là một vấn đề mới mẽ cần tìm hiểu. Đề
tài bước đầu tìm hiểu sự đóng góp của tác giả ở phương diện sử dụng các lớp từ ngữ
trong tạp văn và khẳng định sự đa dạng về phong cách cacủ thể loại tạp văn trong thời
kì mới.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm có 3 chương
Chương I: Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài
Chương II: Các lớp từ ngữ đặc sắc được sử dụng trong tạp văn Nguyễn Ngọc

Chương III: Vai trò ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc

Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
5
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
PHẦN NỘI DUNG
Chương 2: Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài
1.1. Ngôn ngữ nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ tạp văn
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Thật khó để tìm ra một cách diễn đạt duy nhất về khái niệm ngôn ngữ nghệ
thuật. Nhưng chúng ta có thể hiểu: Ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ được dùng để
biểu đạt nội dung hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Bản thân ngôn ngữ
nghệ thuật mang trong mình tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và đó chỉ là ngôn ngữ nghệ
thuật khi có khả năng tạo nên dấu ấn riêng cho tác giả.
Cũng giống như âm thanh trong âm nhạc, màu sắc trong hội hoạ, ngôn ngữ nghệ
thuật được xem là chất liệu xây dựng hình tượng. Bản thân loại chất liệu này là tổng
hoà của những kí hiệu hai mặt - ngữ âm và ngữ nghĩa. Với tài năng sáng tạo, nhà văn,
nhà thơ hướng sự chú ý vào tổ chức văn bản, tìm mọi cách cho hai mặt ngữ âm và ngữ
nghĩa của kí hiệu ngôn ngữ hoà phối với nhau cùng phát huy tác dụng đối với cấu trúc

là yếu tố thứ nhất cuả văn học”, “ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên những
hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ trhuật” [11; Tr 48]. mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học là một phương tiện biểu hiện, mỗi yếu tố đó nhất thiết tham gia vào việc
bộc lộ nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm
-Xét về chức năng xã hội:
Lời nói sinh hoạt hằng ngày thường có những thuộc tính như: tính diễn cảm,
tính tạo hình và đôi khi cả tính hình tượng. Song vấn đề đó là mối tương quan giữa các
chức năng. Chức năng có tính chất quyết định vẫn là chức năng giao tiếp. Những
phẩm chất thẩm mĩ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ thuộc thứ yếu.
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
7
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
Ví dụ, lời trong ngôn ngữ trần thuật bình thường của một người đã đọc Truyện
Kiều:“Mùa thu, thúc Sinh trở lại Lâm Tri, đi cả ngày lẫn đêm”.
Còn trong ngôn ngữ của văn nghệ thuật, chức năng thẩm mĩ xuất hiện ở bình
diện thứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai.
Ví dụ:
“Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.
Vẫn cùng một nội dung như ví dụ trên, nhưng dòng thơ trong Truyện Kiều tạm
để thông tin: hành trình ngày đêm vào mùa thu cho người đọc tự nhận biết, cái điều
đầu tiên mà Nguyễn Du đem đến cho người đọc là tính bác học của ngôn ngữ, trau
chuốt, giàu ước lệ, bóng bẩy, hình tượng, tức giá trị thẩm mĩ được nâng tầm trước tiên.
Bản thân khái niệm chức năng thẩm mĩ ở đây cũng đựơc đổ đầy bằng một nội
dung đặc trưng khác về chất: chức năng nghệ thuật – hình tượng. Chức năng thẩm mĩ
của ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học là ở chổ tín hiệu ngôn ngữ là yếu tố tạo thành
của hình tượng. Nếu không thấy rõ sự khác nhau giữa các chức năng nghệ thuật – hình
tượng này với các phẩm chất thẩm mĩ, nếu khôngthấy mối tương quan giữa các chức
năng thì dễ đi đến chỗ coi ngôn ngữ văn chương là một phong cách chức năng, đối lập
với ba phong cách gọt giũa còn lại (phong cách khoa học, phong cách chính luận và

trong phong cách tác phẩm.
-Xét về sự có mặt của các loại phương tiện ngôn ngữ:
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn ngữ
văn hoá và rộng hơn nữa là của ngôn ngữ toàn dân. Ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại dựa
vào chuẩn mực của ngôn ngữ hiện đại. Song trong những thể loại văn học có tính lịch
sử, nó vượt ra ngoài khuôn khổ của chuẩn và sử dụng cả những phương tiện ngôn ngữ
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
9
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
đã cũ, trước hết là những phương tiện từ vựng, những từ cổ, những từ lịch sử của nó,
tức từ này là những từ tiềm năng hoặc những từ ngẫu hợp. Ngôn ngữ nghệ thuật trong
những phạm vi nhất định, sử dụng cả những ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ văn hoá như
những từ địa phương, những từ của tiếng lóng, những từ tục. Ngôn ngữ nghệ thụât hiểu
theo một nghĩa nào đó là giàu hơn ngôn ngữ toàn dân.
-Xét về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc
Giá trị của ngôn ngữ nghệ thuật không phải chỉ xác định ở tầm bao quát rộng
lớn của những phương tiện ngôn ngữ toàn dân mà nó sử dụng. Có một cái quan trọng
hơn thế, đó là tính chất mẫu mực của ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ ở đây trở thành
một hiện tượng nghệ thuật do sự hoàn thiện của nó, sự hoàn thiện đạt được nhờ tài
năng và lao động bền bỉ của bao nhà văn ưu tú trong suốt hàng ngàn thế kỉ. Khác với
ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ nghệ thuật mang màu sắc riêng của mỗi tác giả, phản ánh
nét độc đáo không lặp lại của mỗi nhà văn. Các nhà văn lớn bao giờ cũng có một bút
pháp riêng, một phong cách riêng, một ngôn ngữ riêng, làm thành hệ thống thứ hai so
với hệ thống thứ nhất của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nghệ thuật xứng đáng giữ vai trò trung
tâm của ngôn ngữ dân tộc .
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn
1.1.2.1. Khái niệm tạp văn
Tạp văn là một thể loại thuộc tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghị
luận đồng thời cũng giàu ý nghĩa văn học. Tạp văn với tư cách là một thể văn chỉ chính
thức ra đời vào khoảng thời cách mạng Ngũ Tứ (1917-19240), là những bài luận văn

một lí do: đảm bảo đặc trưng ngắn, gọn. Nếu ngôn ngữ tác phẩm tự sự trung đại
mang tính ước lệ, qui thức thì ngôn ngữ tạp văn hiện đại gần gũi với ngôn ngữ đời
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
11
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
thường. Đặc điểm này đòi hỏi nhà văn phải xử lí một cáh tài tình. Ngôn ngữ tự nhiên
khi đi vào tác phẩm phải được “lột xác” để nó là một tín hiệu của hệ thống mã ngôn
ngữ nghệ thuật Dù là tự nhiên, sần sùi, thô ráp, hay mượt mà, bóng bẩy thì ngôn ngữ
nghệ thuật bao giờ cũng mang tính thẩm mĩ. Chính bởi đặc điểm này mà ta dễ dàng
nhận thấy các nhà văn đã sử dụng mọi lớp từ ngữ tồn tại trong xã hội vào trong sáng
tác, như: lớp từ tình thái, từ ngoại lai, lớp từ địa phương, lớp từ tôn giáo, thành ngữ, tục
ngữ…
Đặc điểm câu văn trong tạp văn hiện đại phải nói là có những bước đột phá so
với câu văn trong tác phẩm tự sự trung đại. Những dấu hiệu đầu tiên chúng ta nhận
thấy là việc tỉnh lược các thành phần câu, tạo nên dòng chảy ngôn từ, dòng chảy của
cuộc sống, dòng chảy của tâm trạng. Dưới ngòi bút của nhà văn hình thức câu biến hoá
theo cách cảm nhận và ý đồ thể hiện cuộc sống của nhà văn.
b. Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn về nội dung ngữ nghĩa.
Văn học Việt Nam thế kỷ XX trong tiến trình hiện đại hoá đã dẫn đến sự ra đời
của thể loại tạp văn. Trong bước phát triển định hình những đặc trưng ngôn ngữ thể
loại, bên cạnh đặc điểm về mặt hình thức ta phải nói đến đặc điểm về phương diện ngữ
nghĩa. Ngôn ngữ tạp văn hiện đại xét về ngữ nghĩa, có những đặc điểm sau:
-Bởi có hình thức ngắn cho nên ngôn ngữ tạp văn phải hàm súc hàm ẩn, đa
nghĩa, vận dụng tối đa các biện pháp tu từ có tác dụng tăng tầng nghĩa cho ngôn từ, làm
đậm đặc thêm quá trình mã hoá tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ tạp văn có ý
nghĩa ngầm sâu. Ngôn ngữ có nhiều tầng ý nghĩa. Khi gấp cuốn sách lại mọi suy tưởng
hầu như mơí bắt đầu, ngôn ngữ tạp văn có sức chứa ngữ nghĩa lớn lao.
- Mọi yếu tố trong một tạp văn, rất khác với tiểu thuyết có dung lượng lớn,
không được phép lơ là nhiệm vụ thể hiện chủ đề. Mọi yếu tố nằm ngoài chủ đề đều
được gạn lọc.

Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
ca dao… Quả thực, sở trường và sở thích diễn đạt của nhà văn, nhà thơ rất khác nhau,
rất đa dạng. Sở thích và sở trường ấy thể hiện đều đặn trong các tác phẩm của nhà văn,
nhà thơ đến một mức rõ ràng nào đấy thì tạo thành nét độc đáo của họ trong diễn đạt,
làm nên dấu ấn riêng của tác giả.
1.2. Nguyễn Ngọc Tư –tác giả tác phẩm
Mọi hoạt động của văn học, từ hoạt động tiếp nhận, thuonbg773 thức, đến
nghiên cứu, phê bình… chỉ thực sự bắt đầu khi tác phẩm của nhà văn ra đời. Cho
nên nhà văn là người khởi đầu của nhiều hoạt động văn chương, giữ vao trò đặt biệt
quan trọng trong đời sống văn học. Tim hiểu về tác giả, chúng tôi xét các bình diện,
khía cạnh sau:
-Về lịch sử và quá trình sáng tác của tác giả
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976. Quê quán Xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi,
tỉnh Cà Mau. Hiện chị vẫn sống và làm việc tại vùng Đất Mũi - Cà Mau. Cho đến
nay chị đã có hơn 7 năm gia nhập làng viết với 10 tập truyện và tản văn: Ngọn đèn
không tắt (tập truyện – Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2000); Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi –
Nxb Trẻ, 2001) ; Biển người mênh mông (tập truyện –Nxb Kim Đồng, Tp. HCM,
2003); Giao Thừa (tập truyện –Nxb Trẻ, 2003); Nước chảy mây trôi (tập truyện và
kí – Nxb Văn Nghệ, Tp.HCM, 2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện –
Nxb Văn Nghệ, Sài Gòn, 2005); Cánh đồng bất tận (Tập truyện –Nxb Văn Hoá, Sài
Gòn, 2005); Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp văn –Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2006); Sống
chậm thời @ (Tản văn, Nxb Trẻ, Tp. HCM, 2006); Ngày mai của những ngày
mai…(tạp văn, Nxb Phụ Nữ, H, 2007). Năm 2000, tập truyện đầu tay Ngọn đèn
không tắt của chị được giải Sáng tác văn học tuổi 20 lần II của Hội nhà văn Tp
HCM. Năm 2003 tập truyện Giao thừa của cô được một giải thưởng của Hội văn
học -Nghệ thuật Việt nam. Năm 2006, Cánh đồng bất tận lại được giải thưởng của
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
14
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
Hội nhà văn Việt Nam. Ngoài ra chị là một khuôn mặt quen thuộc trên các tạp chí

Nguyễn Ngọc Tư có sự yêu thương trân trọng, viết về người nông dân một cách
vô điều kiện. Nghĩa là, chị không mang họ ra khỏi đồng ruộng, đem họ đi rửa sạch
bùn, không tách họ ra khỏi chữ “quê” mà biến chính những yếu tố đó thánh điều kiện
để trang văn của chị ám ảnh người đọc mãi không thôi. Trong cách chọn lựa tình tiết,
cốt truyện, Nguyễn Ngọc Tư đã trung thành với cái tình tự quê hương chị. Chỉ những
người sống và lớn lên ở một địa phương , thật sự mến yêu họ hàng, làng xóm của mình
mới thể hiện tình tự với quê hương mình được như thế. Người đọc không bao giờ quên
“bàn chân bị nước ăn đến tận xương” trong Lí con sáo sang sông, không bao giờ quên
những câu chư “mắc cười muốn chết”, “Hai nhớ trường học quá à, cưng” (Cánh đồng
bất tận)…
Truyện Ngọc Tư thườg mang một nỗi buồn. Chị còn trẻ, chị nhìn đời bằng đôi
mắt trong sáng, trung thực. Qua trang văn, ta thấy rằng chị không phải là chứng nhân
cho những vụ việc hung hăng, thô bạo – trong văn của chị không có kẻ sát nhân, khủng
bố, kẻ cướp tài sản, tội lớn nhất chỉ là tội ngoại tình- chị chỉ là nhân chứng cho những
mảnh đời bình dị, đơn giản, rất thường. Nhưng chị trung thực và nhạy cảm, chị nhìn,
chị thấy, chị nghe, chị biết, chị hiểu, để rồi chị buồn.
Chị để cho nhân vật mình khóc một cách tự nhiên, cần thiết phải khóc: “Mãi dì
Thấm không mở lời nói được, chỉ khóc là khóc, nức nở ồ ồ.” Mãi bao nhiêu năm trời,
nhẫn nại, chịu đựng, giờ đây thiên hạ mới biết giá trị của một người đến sau: “ …nhìn
cảnh mọi người xúc động, hỉ mũi rẹt rẹt nhưng không ai bước ra dỗ dì nín. Cho đến
khi ông Mười xuất hiện, ông bảo, “mấy chú làm ơn dừng lại một chút” rồi cầm cái
khăn rằn lau nước mắt cho dì Thấm, dì như trẻ con, lau khô nước mắt lại tràu ra. Ông
Mười vẫn nhẫn nại chậm chiếc khăn lên khuôn mặt chớm già của dì, không nói gì hết,
khuôn mặt bì sì của ông hơi dúm lại, dường như ông cũng đau lắm xót lắm”. Chính
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
16
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
nhờ cảnh tượng đau lòng ấy mà câu chuyện lại kết thúc có hậu, người chồng bao năm
trời hi sinh, được đền đáp an ủi xứng đáng: “cứ mỗi lần nhìn lứơt qua vẻ mặt đau đớn,
đẵm nước mắt của dì Thấm, họ lại nhớ tớim ột chiếc khăn, một bàn tay thô, một tấm

Đỗ Hoàng Diệu… Mỗi nhà văn đều có cá tính sáng tạo riêng và tâm huyết với nghề.
Tuy nhiên, khả năng gây tiếng vang và để lại dấu ân sâu đậm nhất trong lòng đọc giả,
đến giờ, chỉ có Nguyễn Ngọc Tư.
Tháng 10 năm 2007, tác phẩm Cánh đồng bất tận dã được chuyễn ngữ xong và
phát hành tại Hàn quốc. Nếu tác phẩm Xin lỗi ,em chỉ là con đĩ của Tào Đình và Rừng
Na –Uy của Haruki Murakami góp phần tiếp thị cho nền văn học hiện đại của Trung
Quốc và Nhật Bản, thì Cánh đồng bất tận góp phần khẳng định cái mới lạ, ấn tượng và
bước tiếng của văn học Việt Nam. Nội dung của câu chuyện đã thu hút đọc giả Hàn
Quốc, họ biết đến Việt Nam nhiều hơn là chiến tranh và những cô dâu thích xuất ngoại.
Cuộc sống triền sông nước Nam Bộ làm đọc giả nước ngoài háo hức, hân hoan tiếp
nhận. Một hình ảnh việt Nam: chợ nổi, sông nước mênh mông, con người thuần hậu,
chân chấc đã được thế giới thưởng thức.
Nhiều người nghĩ rằng, nói chung, văn chương miền Nam -một vùng đất mới –
không thể so đựơc với sự chỉn chu truyền thống của văn chương miền Trung, miền bắc.
Nguyễn Ngọc Tư sẽ làm những người đó phải nghĩ lại. Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư,
ta khám phá ra rằng nếu dùng đúng chỗ, trong tay một tác giả cẩn trông như chị,
phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng điệu dân dã miền Nam hoàn tòan có khả năng
cấu thành một nhánh văn chương đặc biệt, không giống, nhưng chuẩn mực không kém
những miền khác. Chúng ta mong sự trưởng thành của Nguyễn Ngọc Tư sẽ là sự
trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam. Ta mong chị sẽ tiếp tục là một người ghi chép
chân thật những chuyển biến của đời sống dân tộc. Nếu Ngọc Tư làm được điều đó thì
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
18
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
chúng ta thật sự cám ơn chị. Tài năng của chị là thiên phú, xứng đáng là một đặc sản
của miền Nam.
1.3. Tiểu kết chương 1
Ngôn ngữ tạp văn là một loại hình lí thú trong ngôn ngữ nghệ thuật, nó mang
những đặc diểm dễ dàng nhận diện ở mặt hình thức, ngữ nghĩa và vai trò trong việc
hình thành phong cách nhà văn.

c. Từ có khả năng vận dụng tự do để sáng tạo câu
Khả năng tự do này thể hiện ở chỗ từ có khả năng kết hợp với các từ khác tạo
nên câu. Thậm chí, một từ có khả năng đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác nhau
theo phương thức chuyển nghĩa của từ.
Chúng tôi dựa vào các đặc điểm trên để phân định đơn vị từ nhằm phục vụ cho
việc tìm hiểu tạp văn Nguyễn Ngọc Tư qua tập “Ngày mai của những ngày mai”.
2.1.2. Từ trong ngôn ngữ và từ trong sử dụng
Tất cả các nhà ngiên cứu đều xác định từ là một đơn vị có sẵn của ngôn ngữ,
nhưng xung quanh vấn đề ngữ nghĩa từ vựng lại có nhiều ý kiến khác nhau. Quan niệm
của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” về ý nghĩa của từ
có sức thuyết phục bởi ông đã “thay tam giác nghĩa hình học phẳng bằng hình tháp
nghĩa hình học không gian” [3; Tr 101] với các quan hệ và các phương diện khác nhau
của từ: “Từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ
của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan hệ với nhân tố
người dung hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội…” [3; Tr 102]
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
20
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
Như vậy từ với tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ nó nằm trong từ điển ở dạng
tách rời có tính trừu tượng, nhưng khi tham gia hành chức, nhất là dùng để thể hiện
hình tượng nghệ thuật, nó có tính linh hoạt, thể hiện các nét nghĩa riêng đa dạng, mang
dấu ấn của nhà văn. Nhà văn đã cấp thêm những giá trị mới cho đơn vị từ vựng trong
quá trình sáng tạo nghệ thuật. Trong quá trình phát triển lịch sử văn học, quan niệm về
đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật có những thay đổi phù hợp với thời đại. Ngôn ngữ
văn học hiện đại, theo tác giả Đào Thản “Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưng
phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố
phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất
cho mục đích thẩm mĩ của mình. Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đối xử” đối với
các phương tiện thể hiện. Ở đây không có biện pháp nào đựơc đánh là tốt hay xấu, trội
hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể được dùng, quen dùng hơn trong những thời

xúc được dùng nhiều, có ấn tượng đặc biệt. Khảo sát trên một số truyện, chúng tôi thấy
lớp từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc có tần số xuất hiện như sau: 142 lượt/ Atép- km kí sự,
117 lượt/ Buồn buồn nói chuyện buốn chơi, 66 lượt/ Chi tiết, 86 lượt / Chân không, 97
lượt/ Người giàu cũng giấu, 59 lượt/ Những cây gòn lạc, 76 lượt/ Ngồi buồn nhớ ngoại
ta xưa, 127 lượt/ Đất cháy, 61 lượt/ Giữa bầy đàn, 162 lượt/ Ngày mai của những ngày
mai…
Từ chỉ tâm trạng, cảm xúc xuất hiện dày đặc trong từng bài viết của Nguyễn
Ngọc Tư. Chị trải lòng mình trên từng câu viết, trang văn với những: thắc thỏm, lo âu,
vui, cười, ngỡ ngàng, thất vọng, sợ… Nhưng điều quan trọng là tác giả đã sử dụng
chúng như một phương thức hữu hiệu để thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình. Lớp từ
này được sử dụng với tần số xuất hiện cao, số lượng nhiều nhằm đạt mục đích miêu tả,
khắc hoạ hình tượng nhân vật.
2.2.1.1. Lớp từ miêu tả quá trình diễn biến tâm trang, cảm xúc
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
22
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
Nếu vật chất là những thực thể luôn vận động thì thế giới tinh thần lại càng là
một phạm vi có những biển đổi khôn cùng. Đời sống nội tâm được miêu tả không phải
một thời điểm hay trạng thái tỉnh tại mà là một quá trình với những biến thái phức tạp.
Ngôn ngữ trong tạp văn vẫn là một phong cách nhẹ nhàng, giản dị nhưng luôn xoáy
sâu và rẽ ngoặc vào những khúc quanh lớn nhỏ nhất của tâm hồn một cách tinh tế và
sâu sắc nhằm khơi gọi sự đồng cảm của người đọc
a.Mạch tâm trạng cảm xúc vận động từ quá khứ đến hiện tại
Chàng trai làm công trường xây dựng, nắng mưa, nhọc nhằn, khiến đôi tay, thân
xác chai sạn, nhưng trái tim lại tươi nguyên, non nớt. Trái tim ấy thổn thức không
nguôi với những rung động tình yêu: hy vọng, sụp đổ, tủi phận, oán hờn, nuôi hận
thù, toan tính và rồi lại đa mang, thương cảm vì cái nhân nghĩa tồn tại như bản chất
trong anh. Hận thù tan biến, còn lại trong anh nỗi buồn vu vơ trước cái được mất ở
đời.
Bằng thái độ trân trọng vô cùng với những người lao động bình dân, Nguyễn

ván cờ mà chàng trai bày ra không phải là thú vui tao nhã để chứng tỏ rằng anh cũng
có hồn, lịch sự hay vì nỗi ngó mong thầm kín như ngày nào, mà cái ván cờ ấy là bỉểu
tượng cho những toan tính, của tủi hờn thân phận, đau xót trong tình yêu đã hoá thành
thù hận. Cái thắng thua của thí pháo bắt xe, mã song, mã đội, pháo giăng, pháo thụt,
của tấn mã chiếu tướng… không quan trọng với anh. Cái anh muốn, tha thiết muốn
trong toan tính là anh trở thành một đối thủ giỏi, một bạn cờ không thể thiếu của ông
già, để ông phải ghiền, phải luỵ anh. Sự nghèo khổ, tủi thân, thất bại trong tình yêu
khiến anh khao khát chứng tỏ với ông sự hữu ích, sự cần thiết, ý nghĩa của việc anh tồn
tại trên đời này. “Có bữa, anh từ công trường về muộn, ông già thắt thẻo ra đón tận
đầu đường, nhác thấy anh, ông già thiệt thà kêu lên, tao ghiền mày quá trời, nhỏ. Anh
chỉ chờ có vậy. Anh cảm giác mình đã thắng một cán cờ lớn,. anh đã làm ông già
Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư _ Ngày mai của những ngày mai…
24
Khoá luận tốt nghiệp Trương Văn Tuấn
không thể sống thiếu anh.” Đôi lúc anh không biết tại sao mình lại kiên trì cho một kế
hoạch trả thù đến vậy. Cuộc tình tan vỡ đã để lại trong lòng anh một khoảng hẫng, và
mối hận với ông già là điều duy nhất để anh níu lấy, tựa vào mà đi qua trống rỗng.
Anh nghĩ tới cái ngày anh từ tốn buông từng con cờ lăn lông lốc trên đất, và rất chậm
rãi, ngạo mạn, ,anh lạnh lùng mỉa mai: “Tôi không thể chơi cờ với ông được, bởi tôi
nghèo, tôi không gốc gác, tôi thân sơ thất sở, tôi thấy không xứng…” , anh tưởng
tượng mặt ông đã tái dại đi. Và mỗi chiều phai, ngồi nhìn về phía dãy nhà người ta cất
cho thuê, ông già mỏi mòn, buồn bã. “Còn anh không cần ăn thấy gì cũng thấy no”
Đây là cái hay, cái chân thật trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư. Chị trân trọng
nhưng không lí tưởng hoá nhân vật. Chị để cho nhân vật mình vận động tâm lí theo
đúng lẽ tất yếu rất đời thường, dẫu rằng tâm lí ấy đi qua những cung bậc tiêu cực của
toan tính ,thù hận.
Nhưng cái thắng thua trong ván cờ mà anh dày công chiến đấu chưa được ngả
ngũ, thì một ngày kia, tâm trạng anh chợt biển đổi đột ngột khi bất ngờ hay tin ông già
ra đi trong một cơn đột quỵ. “Anh ngơ ngác. Những buổi chiều từ công trường về, anh
để nguyên bộ đồ lấm lem bùn đất, xi măng, đứng dán mắt rất lâu vào cánh cổng đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status