Đặc điểm ngôn ngữ phỏng vấn báo in (trên tư liệu khảo sát báo Thanh niên từ năm 2013 đến nay - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Theo Lênin, “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, nó
tạo ra cơ sở vật chất cho tất cả các phương tiện giao tiếp khác. Bằng sự tồn
tại và chức năng của mình, ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại chức năng của xã
hội loài người” [42; 151]. Vì thế từ những thập niên cuối thế kỉ XX, ngôn
ngữ không chỉ được nghiên cứu thuần túy như một hệ thống mà được xem xét
dưới nhiều hình thức khác nhau của hoạt động giao tiếp. Khi tiếp cận theo
hướng này các nhà nghiên cứu đã dần dần nhìn thấy tầm quan trọng của văn
hóa giao tiếp, ứng xử ngôn ngữ. Đồng thời, việc nghiên cứu không chỉ đem
lại những thành tựu mang tính lí luận sâu sắc mà còn mang ý nghĩa thực tiễn
to lớn trong việc sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ ở những lĩnh vực khác nhau
của đời sống.
Phỏng vấn là thể loại báo chí quan trọng đồng thời cũng là một phương
pháp thu thập thông tin phổ biến nhất và được các nhà báo sử dụng thường
xuyên nhất. Nhiều nhà nghiên cứu, cũng như nhà báo đều cho rằng phỏng vấn
chiếm từ 80 - 90 phần trăm công việc của một nhà báo. Trong quá trình phỏng
vấn, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng. Hoạt động phỏng vấn thực chất là
hoạt động đối thoại giữa phóng viên với người được phỏng vấn (có thể là một,
hai hay ba người). Mặt khác, thông qua hoạt động phỏng vấn, phong cách,
văn hóa giao tiếp, nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong đối thoại được thể hiện rõ
hơn bao giờ hết. Công chúng nói chung và độc giả báo in nói riêng luôn xem
ngôn ngữ trên báo chí, truyền hình mang tính chuẩn mực cao.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, phỏng vấn mới chỉ được các nhà nghiên
cứu quan tâm ở hoạt động nghiệp vụ (quy trình, cách thức thực hiện phỏng
vấn…). Xét riêng ở khía cạnh ngôn ngữ báo chí, phỏng vấn gần đây mới
được các nhà nghiên cứu quan tâm khai thác ở khía cạnh ngôn ngữ phỏng
vấn trên truyền hình, ngôn ngữ phỏng vấn phát thanh, riêng lĩnh vực báo in
1




“Logic and conversation” ông đã nghiên cứu nguyên lí cộng tác hội thoại,
tương tác hội thoại, lôgic với hội thoại cũng như phân chia các phương diện
liên kết hội thoại. Chính những lí thuyết này cùng với những nghiên cứu về
hội thoại của các tác giả khác đã đặt cơ sở lí thuyết cho những nghiên cứu về
hội thoại của các nhà Việt ngữ học.
Ở Việt Nam, có thể kể đến Đỗ Hữu Châu với Đại cương ngôn ngữ
học.Tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, 2001; Cơ sở ngữ dụng học, NXB
Đại học Sư phạm, 2003; Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học, Tập 1, NXB
Giáo dục, 1998; Cao Xuân Hạo với Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Tập 1, NXB
Khoa học Xã hội; Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB Giáo
dục, 1999; Giáo trình Ngữ dụng học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;
Nguyễn Thị Quy với Vị từ hành động và các tham tố của nó, NXB Khoa học
Xã hội, 1995 v.v... và một số tác giả khác như Hoàng Phê, Nguyễn Thiện
Giáp, Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông đã công bố những công trình có liên quan
trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại. Các công trình đã đề cập một
cách hệ thống các vấn đề có tính chất cập nhật của lí thuyết hội thoại: sự quy
chiếu và chỉ xuất khi nói, lập luận, quy tắc hội thoại, ý nghĩa tường minh,
nghĩa hàm ẩn và nghĩa tình thái.
Nhìn chung, các công trình trên đã xây dựng nền tảng lí luận cơ bản,
vững chắc về lí thuyết hội thoại: vận động hội thoại, các quy tắc hội thoại,
thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại, ngữ pháp hội thoại, ngữ nghĩa
hội thoại... Trên cơ sở những tri thức nền đó, các nhà ngôn ngữ học về sau
có thể liên hệ, mở rộng, áp dụng nghiên cứu lí thuyết hội thoại trong thực
tiễn đời sống và báo chí
Đối với báo in, báo in chính thức ra đời từ giữa thế kỉ XVI. Là một loại
hình báo chí ra đời sớm, có lịch sử phát triển lâu đời so với phát thanh và
truyền hình nhưng hiện nay những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo in
lại khá nhỏ bé.
3

phương thức thể hiện lời nói trên song của Đài truyền hình Việt Nam,(1994,
4


Khóa luận tốt nghiệp, Khoa báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền [14].
Ba công trình nghiên cứu cả ba tác giả đều đề cập đến ngôn ngữ báo chí của
truyền hình, và đưa ra các phát ngôn khi tham gia phỏng vấn trên truyền hình.
Nhìn chung, các công trình kể trên đều thiên về nghiên cứu ngôn
ngữ truyền hình. Trong khi đó, ngôn ngữ báo in nói chung cũng như
ngôn ngữ phỏng vấn trên báo in lại ít được quan tâm. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn trên báo in cần thiết phải được đặt ra
nhằm hướng tới xác lập những quy chuẩn về ngôn ngữ phỏng vấn cho
các nhà báo khi tác nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các hành động ngôn ngữ thỏa
mãn và không thỏa mãn tính lịch sự trong phỏng vấn trên báo in. Cụ thể ở đây
chúng tôi chọn khảo sát các cuộc phỏng vấn trên báo Thanh niên từ năm 2013
đến nay, bao gồm: phỏng vấn trong các chương trình, chuyên mục, chuyên đề,
các buổi giao lưu tọa đàm, hay gặp gỡ người nổi tiếng…
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thống kê, thu thập và phân loại: thông qua các số liệu
thu được từ việc thống kê trên tư liệu của báo Thanh niên mà chúng tôi có thể
đưa ra những con số chính xác, mang tính khách quan và ứng dụng thiết thực
hơn cho đề tài nghiên cứu.
5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp: dựa vào những số liệu đã
được thống kê để phân tích những biểu hiện của phỏng vấn báo chí chung mà
chúng tôi khái quát những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ phỏng vấn trên báo
in nói riêng.

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Phỏng vấn và phỏng vấn báo chí
1.1.1. Khái niệm phỏng vấn
6


Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phỏng vấn (interview).
Trong cuốn sách “Phỏng vấn trong báo viết” của Trường Đại học Báo chí
Lille (ESJ), Cộng hòa Pháp do Hội nhà báo Việt Nam dịch và xuất bản năm
2002 có viết: Mọi bước thu thập thông tin trong báo chí đều là một dạng
phỏng vấn. Phỏng vấn là một thể loại báo cơ bản bởi nó tồn tại:
- Như một thực hành chuyên nghiệp;
(Phóng viên gặp một con người cụ thể, để đặt những câu hỏi và sau
đó đăng nội dung của cuộc gặp gỡ đó, cô đong hơn, dưới dạng câu hỏi và
câu trả lời)
- Như một thực hành văn bản:
(Tất cả phóng sự, điều tra, câu hỏi, nhân chứng đều được tạo nên từ
một loạt tiểu phóng sự [52; 9].
Nhà báo Phan Quang trong Lời giới thiệu cho cuốn sách Phỏng vấn
trong báo viết cho rằng: phỏng vấn là sự tiếp xúc giữa người với người, là sự
truyền thông giữa người với người - trong trường hợp này là giữa người
được phỏng vấn và nhà báo nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thông tin của
người thứ ba - là độc giả - về chủ đề nào đó [52; 6].
Còn tác giả Đinh Văn Hường quan niệm Phỏng vấn báo chí là một
trong những thể loại thuộc nhóm các thể loại báo chí thông tấn, trong đó
trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm người về vấn
đề mà xã hội quan tâm, có ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định, được đăng và
phát trên các phương tiện thông tin đại chúng [42; 57].
Trong khi đó cuốn sách Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Hội

Thứ hai, phỏng vấn được xem như một thể loại báo chí độc lập,là đối
tượng nghiên cứu của lý luận và khoa học báo chí, đồng thời là một phương
thức phổ biến, hiệu quả trong hoạt động thực tiễn báo chí”.
Sau đó, tác giả đưa ra quan niệm về phỏng vấn: “Phỏng vấn là một
phương pháp thu thập thông tin xã hội học thông qua việc tác động tâm lí xã
hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở
mục tiêu của đề tài nghiên cứu” [41; 27-28].
8


Như vậy, có thể nhận thấy mặc dù cách định nghĩa, cách quan niệm
có thể khác nhau, nhưng nhìn chung nội hàm về khái niệm phỏng vấn của
các tác giả nêu trên cơ bản là giống nhau. Chúng tôi cũng đồng tình với các
tác giả và cho rằng phỏng vấn là: “Một trong những thể loại thuộc nhóm
thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà
báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hội đang quan tâm, có
ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định được đăng, phát trên các phương tiện
thông tin đại chúng” [41; 57].
Mặt khác, nguồn thông tin trong phỏng vấn là tất cả các câu trả lời của
người được phỏng vấn thể hiện quan điểm, ý thức, trình độ của người được
trả lời và toàn bộ hành vi của họ. Phỏng vấn là một thể loại được xếp vào
nhóm báo chí thông tấn, chúng phản ánh, thông báo kịp thời các sự kiện vấn
đề vừa xảy ra, đang xảy ra và sắp xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
1.1.2. Phân loại các thể loại phỏng vấn của báo in
Có rất nhiều cách phân loại và tên gọi hình thức phỏng vấn dựa trên các
tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào số lượng nhân chứng tham gia trả lời, các tác
giả chia thành phỏng vấn một người, phỏng vấn nhiều người.
Căn cứ vào số lượng câu hỏi và dung lượng bài báo cũng như hình thức
phản ánh tư liệu, tác giả Trần Quang Trọng trong“Kỹ năng viết tin” phân chia
phỏng vấn thành phỏng vấn ngắn, phỏng vấn cổ điển (hỏi – đáp) và phỏng

Trung Quốc ngang ngược đặt giàn khoan tại vùng biển Việt Nam: Kiên trì,
kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam”.
VietNamnet: Vì sao đến nay hai nước chưa sử dụng điện đàm đường
dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao nhất? Việt Nam đã tiếp xúc với các nước để
trao đổi về vấn đề này chưa? Trong tình huống xấu nhất, Việt Nam có tính tới
kịch bản cắt đứt quan hệ ngoại giao hay sử dụng các hành động tương tự để
đáp trả thái độ bất hợp tác của Trung Quốc?
Thanh niên: Ông Dương Khiết Trì đã trả lời trong cuộc điện đàm với
Phó thủ tướng Phạm Bình Minh như thế nào? Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
10


(PVN) sẽ chuẩn bị ứng phó thế nào nếu như Trung Quốc đưa giàn khoan ra
các vị trí mà tập đoàn đang tiến hành khai thác?
AP: Các công có thể khẳng định hiện tại vẫn chưa có người chết trong
hoạt động vừa rồi? Các clip chiếu cho thấy tàu Trung Quốc chủ động đâm
vào tàu Việt Nam? Liệu tàu Việt Nam có đâm vào tàu Trung Quốc để bảo vệ
tàu thuyền của mình hay các hoạt động này chỉ có tàu Trung Quốc tiến hành?
NHK: Hiện nay phía Trung Quốc đã thực sự khoan thăm dò dưới đáy
biển của Việt Nam hay chưa?
Tuổi Trẻ: Đây có phải lần đầu tiên Trung Quốc đưa toàn bộ giàn
khoan vào hoạt động tại them lục địa Việt Nam? Các hoạt động của Trung
Quốc có hệ quả gì với tuyên bố ứng xử các bên về biển Đông và việc tiến tới
quy tắc về ứng xử COC?
Hãng thông tấn Đức: Việt Nam có theo gương Philpines tiến hành các
thủ tục kiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế không?
(Theo TN số 128 thứ 5, ngày 8/5/2014)
• Phỏng vấn điều tra: được tiến hành với mục đích nghiên cứu sâu
hơn một sự kiện hay một vấn đề nào đó. Đối tượng điều tra có thể phức tạp và
mâu thuẫn.

dung là khắc họa tính cách, là tiếp điểm tiếp giáp giữa thông tin báo chí và
chính luận nghệ thuật. Do mục đích của người phỏng vấn là khắc họa được
một cá tính, một chân dung nên có thể đưa ra nhiều câu hỏi nhỏ. Thường
hỏi trực tiếp, hoặc có những câu hỏi phụ, câu hỏi gián tiếp nhằm làm nổi
bật nên vấn đề chính cần nêu.
Ví dụ: Cuộc phỏng vấn giữa phóng viên Nguyên Nga với ông Đỗ Hòa chuyên gia tư vấn chiến lược, thành viên Hội đồng Cố vấn Tạp chí Kinh
doanh Harvard thuộc Đại học Harvard, Mỹ.
+ Theo ông những “miếng ngon” nào doanh nghiệp (DN) nội cần nỗ
lực giành lại thị phần?

12


+ Tầm nhìn vĩ mô dài hạn trong lĩnh vực nông nghiệp cụ thể là thế nào
thưa ông?
+ Vậy để giảm cạnh tranh với DN ngoại, lấy được thị phần trong khả
năng, DN Việt cần chuẩn bị những gì, thưa ông?
+ Trước làn sóng DN nội mất dần những “miếng ngon” trên thương
trường, ông có cảnh báo gì?
(Theo TN số 128 thứ 5, ngày 8/5/2014)
1.2. Giao tiếp hội thoại
1.2.1. Hành động ngôn từ
Hành động ngôn từ, hành động nói, hành vi ngôn ngữ hay hành động
ngôn ngữ là các cách gọi khác nhau trong tiếng Việt của cùng một thuật ngữ
“speech act” trong tiếng Anh. Thuật ngữ này do J. Austin và J. Searle khởi
xướng và đề xuất vào những thập niên 60 của thế kỉ XX. Theo hai ông, ngôn
ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả sự việc, sự kiện đơn
thuần mà nó được dùng để thể hiện hành động. Các hành động được thực hiện
bằng lời là hành động ngôn từ. Nói cách khác, hành động ngôn từ là hành
động mà người ta làm thông qua ngôn ngữ, ví dụ: hứa, tuyên bố, xin lỗi,

người nói và người nghe. Ví dụ, trong hành động khuyên trạng thái tâm lí của
người nói là mong muốn người nghe thực hiện hành động.
4. Nội dung mệnh đề: hành động ngôn từ phải tương thích về nội dung
chính yếu của mệnh đề. Ví dụ, trong hành động yêu cầu thì điều kiện nội
dung mẹnh đề là một hành động tương lai của người nghe.
Dựa trên các tiêu chí cơ bản trên, J. Searle đưa ra năm phạm trù cơ bản
của hành động ở lời như sau [5; 126]:
Tuyên bố (declarative): là hành động ngôn từ làm thay đổi sự việc
qua các phát ngôn. Chẳng hạn, khi vị trưởng phòng nói trước cuộc họp Tôi
xin từ chức trưởng phòng từ hôm nay thì cũng đồng nghĩa người nói từ thời
điểm nói không còn đảm đương chức vụ đó nữa. Các động từ thường được
dùng để tuyên bố là: chỉ định, kết tội, tuyên bố, gọi là, xem là, từ chức,
khai trừ, bổ nhiệm...
Tái hiện (representative): là hành động thể hiện cái mà người nói
tin là có một sự kiện hay không. Hành động này thể hiện ở những câu mà
người nói phải chịu trách nhiệm về giá trị chân lí của mệnh đề được biểu
14


đạt. Ví dụ: Tôi khẳng định anh ta làm việc đó. Các động từ thường được
dùng để biểu hiện là: quả quyết, khẳng định, phỏng đoán, thông báo, giả
định, giải thích, từ chối...
Điều khiển (directive): là hành động mà người nói sử dụng để khiến
người nghe làm một việc gì đó. Ví dụ: Tôi khuyên anh nên về nhà ngay.
Nhóm cầu khiến có thể gồm các động từ như: đề nghị, yêu cầu, cho phép, ra
lệnh, khuyên, cấm đoán, mời...
Cam kết (commissive): là hành động người nói dùng để cam kết một
hành động tương lai nào đó. Ví dụ: Tôi thề sẽ lấy bằng được cô ấy. Thuộc
nhóm này có các động từ như: hứa, cho, biếu, thề, cam đoan, cảnh báo...
Biểu cảm (expressive): là hành động thể hiện một trạng thái tâm lí của

báo lẫn đối tượng phỏng vấn phải tuân thủ các quy tắc khi tham gia hội thoại
nói chung để cuộc phỏng vấn thành công.
Các nhà ngữ dụng học cho rằng: khi tham gia hội thoại, để đạt được
mục đích giao tiếp, các nhân vật tham gia hội thoại phải tuân thủ một số
nguyên tắc nhất định, được gọi là nguyên tắc hội thoại.
- Nguyên tắc thương lượng:
Khi tham gia hội thoại, các nhân vật nhiều khi phải có câu mở đầu có
tính thăm dò nhằm đi đến một sự thoả thuận chung về đề tài, nội dung cuộc
thoại, về số lượng người tham gia tạođiều kiện cho cuộc thoại thành công.
Ví dụ:
[...] – Hay bây giờ em định thế này... Song anh có cho phép em
mới dám nói...
Rồi Dế Choắt loanh quanh, băn khoăn. Tôi phải bảo:
- Anh đã nghĩ thương em như thế thìhay là anh đào giúp cho em một
cái ngách sang bên nhà anh phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt
thì em chạy sang...
(Ngữ văn 8.T1, NXB Giáo dục, H., 2007, tr.109)
Trong ví dụ trên, việc thương lượng của Dế Choắt nhằm dò tìm thái độ
của Dế Mèn để còn liệu ứng xử cho phù hợp, tránh làm phật lòng Dế Mèn.
- Nguyên tắc luân phiên lượt lời
Sự luân phiên lượt lời trong một cuộc hội thoại được điều hành bởi một
hệ thống những quy tắc. Những quy tắc này quy định: trong cuộc thoại, mỗi
vai nói thực hiện một lượt lời liên tục luân phiên nhau, không dẫm đạp chồng
chéo lên nhau cũng như không đứt quãng quá dài. Các quy tắc này phải đảm
16


bảo “quyền được phát ngôn” của mỗi nhân vật tham gia vào cuộc thoại, giúp
cho cuộc thoại diễn ra cân bằng, tự nhiên.
Ví dụ:

- Sao anh lại bắt chim? - Thằng bé nhất hỏi.
- Vì chúng nó hót hay lắm.
- Không nên bắt, cứ để cho chúng muốn bay đi đâu thì bay.
17


- Được, mình sẽ không bắt nữa!
- Nhưng anh hãy bắt cho em một con đã.
- Em muốn chim gì?
- Chim gì hót vui vui ấy. Để nhốt vào lồng.
- Thế thì chim bạch yến nhé?
- Mèo nó bắt mất - Thằng thứ hai nói – Mà bố cũng chẳng cho nuôi.
Thằng anh lớn tán thành:
- Đúng đấy, bố chẳng cho nuôi đâu...
(Ngữ văn 9.T1, NXB Giáo dục, H, 2007, tr.229)
Trong cuộc thoại trên, các lượt lời đều xoay quanh trò chơi bắt chim
của các đứa bé hàng xóm.
• Về hình thức, trong cuộc thoại, thông thường giữa lời trao và lời đáp
của các nhân vật tham gia có thể có các phương tiện liên kết như: đại từ liên
kết (ấy, thế, vậy, đó...), quan hệ từ liên kết hoặc trợ từ (nhưng, và, vì...), dùng
phép tĩnh lược, phép lặp, từ tình thái (dạ, vâng...).
Chẳng hạn, trong ví dụ vừa trích dẫn ở trên, giữa các câu trao và câu
đáp của các nhân vật tham gia hội thoại đều có sự liên kết về mặt hình thức.
Các nhân vật đã sử dụng đại từ liên kết (thế), quan hệ từ liên kết (nhưng, vì),
phép lặp (lặp câu bố chẳng cho nuôi đâu). Chính nhờ vậy, cuộc thoại trên trở
nên trôi chảy, mạch lạc.
• Về hành động ngôn từ, lời trao và lời đáp có sự liên kết tương ứng
với nhau. Chẳng hạn, có câu hỏi thì phải có câu trả lời, câu đề nghị thì phải có
câu đáp ứng hoặc từ chối v.v...
Ví dụ:

- Vẫn như mọi khi.
- Cụ ở nhà có khoẻ không?
- Bình thường.
- Chắc khi chú Hà tôi đi học Hương đã nghỉ hè rồi?
- Không rõ lắm.
- Nghe nói thầy Chởi đi học ở Hà Nội?
- Tôi cũng không được biết.
(Thời xa vắng, Lê Lựu, NXB Văn học, H., 1998)
Trong cuộc thoại trên, mặc dù lời trao của người nói đã được đáp lại
nhưng lời đáp mang tính gượng ép, nhạt nhẽo, thiếu sự hưởng ứng. Vì vậy,
cuộc thoại đã thất bại.
Theo H.P.Grice, nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) gồm các
phương châm sau:
Phương châm về chất: nên nói những điều mình tin là đúng và có bằng
chứng xác thực.
Phương châm về lượng: khi tham gia hội thoại, cần nói cho có nội
dung, nội dung của lời nói phải đáp ứng cuộc thoại, không thiếu, không thừa.
Phương châm về cách thức: nên nói một cách rõ ràng, mạch lạc, ngắn
gọn, có trật tự, dễ hiểu, tránh nói mập mờ, tối nghĩa.
19


Phương châm về quan hệ: cần nói sao cho thích hợp với cuộc thoại,
tránh nói lạc đề.
Ví dụ:
Cô giáo viết lên bảng một câu ghép: “Mặc dù tên cướp rất hung hăng,
gian xảo nhưng cuối cùng hắn vẫn phải đưa hai tay vào còng số 8”. Rồi cô hỏi:
- Em nào cho cô biết chủ ngữ của câu trên ở đâu?
Hùng nhanh nhảu:
- Thưa cô, chủ ngữ đang ở trong nhà giam ạ.

này. Ông có cho rằng TQ sẽ lặp lại vụ giàn khoan Hải Dương - 981 hay
không?.
(Theo TN số 142 thứ 5, ngày 22/5/2014)
Câu hỏi đóng là: dạng câu hỏi thông qua các dữ kiện có trước mà
phóng viên muốn khẳng định lại vấn đề.
Ví dụ: Hệ quả lớn nhất của tình trạng chính sách thiếu ổn định đối với
DN là gì?
(Theo TN số 286 thứ 2, ngày 13/10/2014)
- Căn cứ vào vai trò, vị trí của câu hỏi: câu hỏi chính – câu hỏi phụ.
Câu hỏi chính là: câu hỏi từ trước đã được đặt ra, còn câu hỏi phụ là
câu hỏi mới phát sinh khi câu hỏi chính không phát huy được tác dụng, căn cứ
vào thái độ, bối cảnh mà câu hỏi bổ sung hoặc là khi xuất hiện chủ đề mới,
bước ngoặt mới của đề tài.
Ví dụ: Trong bối cảnh căng thẳng leo thang hiện nay ở biển Đông,
Việt Nam có những nhận định gì đối với cộng đồng quốc tế, có xem xét tham
gia liên minh an ninh không?
(Theo TN số 143 thứ 6, ngày 23/5/2014)
- Căn cứ vào phạm vi đề cập: câu hỏi chung - câu hỏi riêng. Câu hỏi
chung là câu hỏi có vấn đề chung. Câu hỏi riêng là câu hỏi có phạm vi về một
vấn đề cụ thể trong một đơn vị cụ thể.
Ví dụ: Khi nhắc đến Patricia Kaas, khán giả VN 20 năm trước luôn
nhớ nhiều đến chị. Còn Patricia Kaas nhớ gì nhất khi chia tay đất nước
chúng tôi?
(Theo TN số 133 thứ 3, ngày 13/3/2014)
21


- Căn cứ vào cách tiếp cận sự kiện vấn đề: câu hỏi trực tiếp – câu hỏi
gián tiếp.
Nhiều khi, câu hỏi thẳng không phát huy được tác dụng, cho nên xuất

và thời gian thực hiện.
- Về đối tượng phỏng vấn: trên lý thuyết đối tượng phỏng vấn có thể
là bất kì ai, các nhà báo có thể lựa chọn đối tượng phỏng vấn sao cho phù hợp
với nội dung đề tài mà mình lựa chọn.
- Cuộc phỏng vấn của nhà báo với một nhân vật không chỉ đơn giản
là trao đổi thông tin mà còn hướng tới mục đích tạo nên một sản phẩm thông
tin có tính cấp thiết, mang ý nghĩa xã hội và dành cho sự công bố. Nhà báo
không hỏi cho mình, hỏi cho biết mà hỏi cho đối tượng thứ ba - công chúng.
Ở đây, nhà báo có vai trò chủ động, qua cách đặt câu hỏi mà hướng người trả
lời vào nội dung thông tin cần cung cấp cho độc giả. Vì thế chất lượng câu hỏi
có vai trò quyết định chất lượng một cuộc phỏng vấn.
- Về nội dung: thông tin trong bài phỏng vấn không phải do phóng
viên cung cấp mà do đối tác cung cấp. Vì thế, khi xuất bản nhà báo hay tòa
soạn không tự ý sửa chữa mà phải có sự đồng ý hợp tác của người được
phỏng vấn.
- Ngôn ngữ phỏng vấn giàu chất khẩu ngữ: câu hỏi và câu trả lời tự
nhiên, sinh động, cuốn hút người đọc. Nét đặc trưng ngôn ngữ của người
được trả lời thể hiện tinh tế qua cách diễn đạt và dùng từ trực tiếp và khách
quan. Người trả lời phỏng vấn có tên tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ rõ ràng và các
thông tin hữu ích khác. Bài viết dựng lại cuộc phỏng vấn qua lời đối thoại,
kèm đó là hình ảnh của người trả lời tạo sự trực tiếp, khách quan thuyết phục
bạn đọc.
- Tính độc quyền: Nhà báo có thể khai thác những ý kiến riêng tư
hoặc thế giới nội tâm của nhân vật được phỏng vấn.
- Chia sẻ trách nhiệm: Ngoài việc chịu trách nhiệm phát ngôn của
mình, người trả lời còn tham gia vào cả quá trình hình thành tác phẩm. Những
câu trả lời của họ là bộ phận tạo nên nội dung của bài phỏng vấn.
1.4. Văn hóa giao tiếp trong phỏng vấn trên báo in
1.4.1. Phép lịch sự của giao tiếp
23

lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa”.
24


Bên cạnh các nhà nghiên cứu nước ngoài về lịch sự thì các nhà nghiên
cứu về lịch sự trong nước cũng đưa ra các quan điểm như:
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn
mực là hai mặt của lịch sự nói chung. Bởi vì một cuộc thoại, tức mọi thực
hiện hành động ở lời đều phải thực hiện trong khuôn khổ quan hệ liên cá
nhân nào đấy”.
Tác giả Vũ Thị Thanh Hương chia lịch sự thành hai loại: lịch sự lễ độ
(thường gọi chung là lễ độ) và lịch sự chiến lược (lịch sự).Theo tác giả thì:
“Lịch sự chiến lược là cách ứng xử ngôn ngữ khéo léo, tế nhị nhằm tránh xúc
phạm thể diện, tránh áp đặt, cố gắng làm vừa lòng đối thoại để đạt được hiệu
quả cao nhất. Lịch sự lễ độ là hành động ngôn ngữ phù hợp với những chuẩn
mực giao tiếp xã hội nhằm mục đích tôn vinh các phẩm chất xã hội (thức bậc,
địa vị, tuổi tác…) của người đối thoại”.
Như vậy, các khái niệm trên đều có cùng quan điểm lịch sự là một quy
tắc quan trọng của giao tiếp. Nó có chức năng giữ gìn các mối quan hệ liên cá
nhân và làm cho các cuộc giao tiếp trở nên hài hòa thuận lợi hơn.
1.4.2. Các bình diện của lịch sự trong ngôn ngữ phỏng vấn hội thoại của
báo in
Nguyên tắc lịch sự được cụ thể hóa thành hai bình diện: lịch sự quy ước và
lịch sự chiến lược.
- Lịch sự quy ước
Văn hóa phương Đông là văn hóa luôn chủ trương duy trì sự ổn định, ít
xáo trộn. Sự ổn định ấy được đảm bảo bằng hệ thống tôn thức chặt chẽ từ cao
xuống thấp. Con người ngay từ khi sinh ra đã bị ràng buộc bởi số phận, bởi
địa vị và bổn phận hơn là sống với những giá trị của cá nhân. Vì thế mà, cộng
đồng văn hóa phương Đông luôn đề cao cái “Ta” chung và cái tôi cá nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status