LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị thực tập.
Tác giả luận văn
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển Việt Nam
CN Chi nhánh
DN Doanh nghiệp
KTXH Kinh tế - Xã hội
NHTM Ngân hàng thương mại
NK Nhập khẩu
TMCP Thương mại cổ phần
XK Xuất khẩu
XNK Xuất nhập khẩu
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tên bảng Trang
Bảng 2.1:Tổng tài sản của BIDV Ba Đình 40
Bảng 2.2. Tình hình huy động vốn của BIDV Ba Đình 41
Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của BIDV Ba Đình 45
Bảng 2.4. Cơ cấu cán bộ tín dụng XNK theo trình độ 53
Bảng 2.5. Doanh số cho vay xuất nhập khẩu của BIDV Ba Đình 56
Bảng 2.6. Cơ cấu doanh số cho vay tài trợ XNK của BIDV Ba Đình
theo nhóm khách hàng
57
Bảng 2.7: Thực trạng về đảm bảo tiền vay trong hoạt động tài trợ XNK
của BIDV Ba Đình
chứng minh được vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc dân. Dưới tác
động của các thành tựu khoa học - công nghệ cùng với chính sách của nhiều quốc
gia, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng được mở rộng, ngày càng đa dạng, phong
phú. Kèm theo đó, tính phức tạp và sự cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng trở
nên gay gắt.
Để một doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động thuận lợi trong môi trường
cạnh tranh đó thì vấn đề vốn, tài chính là một vấn đề quan trọng. Hoạt động ngoại
thương ngày càng được mở rộng thì nhu cầu về tài chính trong thương mại xuyên
lục địa ngày càng trở nên cấp thiết.
Điều đó đòi hỏi một mặt phải có nhiều chính sách tài trợ cho các doanh
nghiệp Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu để có thể cạnh tranh được với
các doanh nghiệp nước ngoài, mặt khác không vi phạm các qui ước quốc tế khi
Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Hoạt động xuất nhập khẩu càng phát triển thì các hình thức thanh toán cũng
đa dạng và tất yếu dẫn tới sự đa dạng của các hình thức tài chính tài trợ xuất nhập
khẩu. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cùng với các dịch vụ Ngân hàng quốc tế
khác ra đời đã đáp ứng yêu cầu đa dạng của các doanh nghiệp về phát triển kinh
doanh, chống đỡ rủi ro, nâng cao hiệu quả và tăng cường khả năng cạnh tranh
trong hoạt động thương mại quốc tế.
6
Trải qua nhiều năm đổi mới, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân
hàng thương mại (NHTM) Việt Nam nói chung, của ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV) nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ cả về
quy mô, cũng như chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, hoạt
động tài trợ xuất nhập khẩu của (BIDV) vẫn còn những hạn chế nhất định. Quy
trình thẩm định cho vay của BIDV còn phức tạp, quy chế và các hình thức cho vay
của BIDV chưa đa dạng, chưa đáp ứng được đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt
động kinh doanh Xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Mặt khác trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứng trước sự
cạnh tranh khốc liệt từ các ngân hàng nước ngoài. Sức ép nâng cao năng lực cạnh
Phương pháp thống kê:
Tiến hành thực hiện các phương pháp phân tổ thống kê, phân tích thống kê;
tổng hợp đánh giá kết quả điều tra, số liệu của các tài liệu liên quan.
Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm so sánh việc triển khai hoạt động
tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV Ba Đình qua các năm cũng như so với các Ngân
hàng khác cùng địa bàn.
8
+ So sánh bằng số liệu tuyệt đối: để thấy được sự biến động về khối lượng
và quy mô của các hạng mục qua các thời kỳ.
+ So sánh bằng số liệu tương đối: Để thấy được tốc độ phát triển về mặt quy
mô qua các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau.
Phương pháp đồ thị, biểu đồ:
Bằng hình ảnh, tính chất của đồ thị, biểu đồ ta thấy được sự biến động, cơ
cấu, vai trò của các khoản mục và từ đó phân tích mối quan hệ, mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố tới các chỉ tiêu phân tích.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là hoạt động tài trợ Xuất nhập khẩu của
Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển chi nhánh Ba Đình.
-Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tài trợ Xuất nhập
khẩu của Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển chi nhánh Ba Đình
+ Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động tài trợ Xuất nhập
khẩu của Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển chi nhánh Ba Đình từ 2011-2013.
5. Cấu trúc luận văn:
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, thì nội dung của
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về hoạt động tài trợ xuất nhập
khẩu của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng về hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của chi
gia.
1.1.2. Vai trò của hoạt động tài trợ XNK
Có thể nói sự ra đời của hoạt động tài trợ XNK là một yêu cầu khách quan,
gắn liền với các quan hệ ngoại thương giữa các nước với nhau. Hoạt động tài trợ
XNK có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngoại thương cũng
như đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Đối với ngân hàng
- Hoạt động tài trợ XNK của Ngân hàng thương mại là hình thức tài trợ thương mại,
kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ, đối tượng tài trợ là những DN
XNK trực tiếp hoặc uỷ thác. Giá trị tài trợ thường ở mức vừa và lớn. Tài trợ của
Ngân hàng trong lĩnh vực XNK là hình thức cho vay mang lại hiệu quả cao, an
toàn, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tài trợ XNK nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý các
nguồn thu thanh toán. Nguồn thu để người NK hay XK trả các khoản tài trợ được
các Ngân hàng quản lý hết sức chặt chẽ, tránh được tình trạng xoay vốn trong thời
gian vốn tạm thời của DN nhàn rỗi, dễ xảy ra rủi ro
- Hiệu quả Ngân hàngtrong tài trợ XNK thể hiện qua lãi suất. Có nhiều loại lãi suất
của Ngân hàng trong quá trình tài trợ. Tiền thu lãi thường cao vì giá trị tài trợ ở
mức vừa và lớn. Ngoài ra, thông qua tài trợ XNK, Ngân hàng được hưởng các lợi
ích khác như: phí thực hiện bộ chứng từ NK – XK, chiết khấu, mua bán ngoại tệ,
tăng nguồn cung ứng ngoại tệ, ngân hàng tăng cường, mở rộng được mối quan hệ
với các DN và Ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín Ngân hàng trên trường quốc
tế,
Đối với DN
12
- NH cho các DN vay để NK máy móc, thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ
thuật, dây chuyền sản xuất chế biến hàng XK với công nghệ tiên tiến nhằm nâng
cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm, tạo khả năng cạnh tranh
với hàng ngoại nhập và kinh doanh có lãi.
- Tài trợ XNK của Ngân hàng giúp DN thực hiện được những thương vụ lớn: có
của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục góp phần tăng tính năng động
của nền kinh tế, ổn định thị trường.
- Tài trợ XNK của Ngân hàng tạo điều kiện cho DN phát triển, tăng hiệu qủa sản
xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế phát triển: thông qua tài trợ
XNK của Ngân hàng, DN có điều kiện thay đổi dây chuyền công nghệ, máy móc
thiết bị nhằm tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Sự phát triển của
DN nói riêng sẽ tác động đến nền kinh tế nói chung.
1.1.3. Các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu
1.1.3.1.Hình thức tài trợ xuất khẩu
Hiện nay để tài trợ xuất khẩu các ngân hàng thương mại thường cho vay
bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ để thu mua hàng xuất khẩu. Tài trợ xuất khẩu
hiện nay được áp dụng cụ thể dưới các hình thức sau:
• Cho vay thông thường
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản
tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết hạn, người vay phải trả
đầy đủ cả gốc và lãi. Đây là hình thức tài trợ truyền thống, về kỹ thuật và phương
pháp cho vay giống như các dạng tín dụng nội địa tương ứng thông thường khác.
Nó bao gồm các phương thức như cho vay một lần, cho vay theo hạn mức tín dụng
14
và cho vay theo hợp đồng tín dụng tuần hoàn. Đối với các nhà xuất khẩu hình thức
tài trợ này ngoài việc được sử dụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến
xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động nó còn được sử dụng để trang trải các chi
phí phát sinh trong quá trình sản xuất như: phí thuê tàu, thuế xuất khẩu
• Tài trợ trên cơ sở hối phiếu.
Hối phiếu là chứng từ có giá với 3 chức năng: chức năng bảo đảm, chức
năng thanh toán và chức năng tài chính.
Tín dụng chiết khấu hối phiếu là tín dụng của NH cấp cho khách hàng dưới
hình thức mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán. Tín dụng chiết khấu này
tạo điều kiện thuận lợi cho nhà XK trong việc tái đầu tư với khoản tín dụng cung
ứng đã cấp cho nhà NK (bán chịu cho nhà NK).
thanh toán, thì NH nhà XK sẽ giữ lại số tiền bằng khoản cho nhà XK vay cộng với
lãi vay, số còn lại trả cho nhà XK.
Đây là một hình thức tài trợ rất phổ biến, vì một mặt do phương thức L/C
trong thanh toán là phương thức đảm bảo nhất, được sử dụng rộng rãi, mặt khác do
kỹ thuật nghiệp vụ không phức tạp nên dễ dàng áp dụng. Trong trường hợp L/C trả
chậm có xác nhận, thì nhà XK có thể nhận tiền bất cứ lúc nào vì đã có sự xác nhận
trả tiền của đại lý tín dụng hoặc bất cứ NH thứ 3 nào. Lúc này nhà XK nhận tiền
dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu L/C cho NH cấp tín
dụng.
16
- Cho vay chiết khấu hay ứng trước chứng từ hàng XK:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà XK sau khi giao hàng xong có thể thương
lượng với NH thực hiện chiết khấu chứng từ hay ứng trước tiền khi bộ chứng từ
được thanh toán. Chiết khấu bộ chứng từ là hình thức NH tài trợ cho nhà XK thông
qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ XK hoàn hảo được
xuất trình.
Có 2 hình thức chiết khấu:
- Chiết khấu miễn truy đòi: Có nghĩa là nhà XK bán đứt bộ chứng từ cho NH, nhận
tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả. Trách nhiệm thu tiền và quyền sử dụng số
tiền thu được hoàn toàn thuộc về NH. Hình thức này có nhiều rủi ro cho NH, vì
vậy, giá mua sẽ thấp hơn.
- Chiết khấu có truy đòi: Sau khi nhà XK chiết khấu bộ chứng từ cho NH thì họ vẫn
còn ràng buộc trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp NH không thu được tiền từ
phía nước ngoài. Vì rủi ro đối với NH thấp nên giá chiết khấu cao hơn trường hợp
trên.
- Tín dụng ứng trước khi bộ chứng từ chưa đến hạn thanh toán:
Đó là việc tạm ứng cho quyền hưởng thanh toán. Các giấy tờ có giá theo
lệnh là những vật thế chấp cho khoản tín dụng này do đó đòi hỏi chúng phải có
mệnh đề chuyển nhượng khống hoặc chuyển nhượng cho NH cấp tín dụng ứng
trước.
Factoring nhà XK sẽ nâng cao sức cạnh tranh nhờ vào khả năng cấp tín dụng ứng
trước cho người mua nước ngoài dưới dạng thanh toán ghi sổ.
• Tài trợ thông qua bảo lãnh.
Bảo lãnh là một hình thức tín dụng bằng chữ kí của NH để bảo lãnh tài trợ
cho khách hàng. Trong nghiệp vụ này, NH không thật sự phải xuất quĩ mà chỉ bảo
lãnh trả tiền khi khách hàng không trả được. Trong mua bán quốc tế, đôi khi nhà
XK không nắm chắc khả năng tài chính để thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà
NK, do vậy nhà XK sẽ yêu cầu nhà NK phải có một tổ chức thường là NH, đứng ra
bảo lãnh thanh toán. Ngược lại, do không biết rõ hoặc không tin tưởng nhau, nhà
NK có thể yêu cầu bên XK có NH đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực
hiện hợp đồng.
NH nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng để vay vốn nước ngoài dưới
hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài chính. Trách nhiệm của NH bảo
lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợp người xin
bảo lãnh không thực hiện đầy đủ một nghiệp vụ nào đó với đối tác nước ngoài.
Các hình thức bảo lãnh :
- Mở thư tín dụng trả chậm.
- Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu.
- Phát hành thư bảo lãnh.
- Lập giấy cam kết trả nợ nước ngoài.
• Forfeiting
Forfeiting là hoạt động mua lại các khoản nợ sẽ đến hạn thanh toán vào một
ngày tương lai, hình thành từ việc giao hàng hoá hay cung cứng dịch vụ mà phần
lớn là các giao dịch xuất nhập khẩu mà không truy đòi người bán nêu người chủ nợ
không thanh toán khi đến hạn. Có thể hiểu đơn giản rằng, forfeiting giống như một
19
hình thức mua hối phiếu trả chậm miễn truy đòi. Đây là nghiệp vụ bao thanh toán
cho những khoản phải thu cụ thể, riêng lẻ trong toàn bộ quá trình xuất nhập khẩu
dài hạn cho từng đối tượng cụ thể.
1.1.3.2. Hình thức tài trợ nhập khẩu
phải gánh chịu mọi rủi ro một khi nhà NK không có khả năng thanh toán hoặc
không muốn thanh toán khi L/C đến hạn trả tiền, bởi vì L/C thể hiện sự đảm bảo
thanh toán của NH đối với người được hưởng. Vì vậy, khi nhà NK nộp đơn đề nghị
NH mở L/C thì NH phải chắc chắn rằng nhà NK có khả năng thanh toán khi L/C
tới hạn. Điều đó có nghĩa là tài khoản của khách hàng phải đủ số dư nhất định -
đây chính là mức ký quỹ NH quy định khi mở L/C. Mức ký quỹ cao hay thấp còn
phụ thuộc vào uy tín của khách hàng, độ rủi ro của thương vụ,
Khi đến hạn thanh toán L/C với phía đối tác mà nhà NK vẫn không đủ tiền
để thanh toán thì họ phải nhận nợ với NH và phải chịu lãi suất phạt lớn hơn lãi suất
cho vay thông thường. Trên cơ sở hợp đồng tín dụng khung đã được ký kết, NH sẽ
cho nhà NK vay để thanh toán. Ngày nhận nợ và tính lãi của khoản cho vay này là
ngày ngân hàng NK thanh toán cho NH phục vụ nhà XK (ngày đến hạn thanh toán
L/C). Thông thường, khoản cho vay này có thời hạn rất ngắn, không quá 30 ngày
kể từ ngày NH cho vay thanh toán bắt buộc.
Ngoài ra, cho vay thanh toán còn thể hiện trong trường hợp nhà NK xin NH
tài trợ cho lô hàng sẽ nhập. Trên cơ sở phân tích đánh giá kế hoạch và phương án
của khách hàng về việc kinh doanh lô hàng nói trên, NH sẽ ra quyết định tài trợ và
xác định mức NH chấp nhận tài trợ. Khi hàng hoá, bộ chứng từ về đến nơi, nhà NK
21
có thể nhận được sự tài trợ của NH thông qua hình thức cho vay thanh toán L/C
(L/C trả ngay) hoặc thay mặt nhà NK ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu (L/C
trả chậm).
• Cho vay trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ.
Hối phiếu tự nhận nợ là một dạng hối phiếu do người mua phát hành nhận
nợ đối với người bán. Thông qua hối phiếu này, NH cấp một khoản tín dụng đặc
biệt là tín dụng chiết khấu hối phiếu tự nhận nợ. Hình thức này phát triển khá rộng
rãi trong hoạt động ngoại thương. Nó phục vụ cho những điều kiện thanh toán đơn
giản.
Khoản tín dụng trên đây thực chất là tín dụng NK, nhưng trốn thuế hối
phiếu. Những nó vẫn được sử dụng khá phổ biến, vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho
nghĩa là NH chấp nhận một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên
bán khi hối phiếu đến hạn.
Đối với NH, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính là thời
điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán
khi hối phiếu đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, nếu đến hạn mà nhà NK đủ tiền thanh
toán thì NH không phải ứng tiền ra và như vậy khoản tín dụng này chỉ là sự đảm
bảo về tài chính.
1.2. Phát triển hoạt động tài trợ XNK của NHTM
1.2.1 Khái niệm
23
Phát triển hoạt động tài trợ XNK là quá trình phát triển quy mô, hình thức và
chất lượng tài trợ XNK trên cơ sở kiểm soát được rủi ro và đảm bảo được lợi
nhuận cho Ngân hàng.
Quy mô và hình thức tài trợ XNK phản ánh độ lớn của hoạt động tài trợ
XNK, thể hiện ở dư nợ tài trợ XNK, số lượng khách hàng, số sản phẩm phục vụ
cho hoạt động tài trợ
Chất lượng của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu được hiểu là sự đáp ứng
một cách tốt nhất yêu cầu của các bên liên quan. Đối với khách hàng – doanh
nghiệp, hoạt động này là chất lượng nếu có quy trình thủ tục gọn nhẹ, đảm bảo an
toàn và hạn chế rủi ro về vốn, giúp DN tận dụng được cơ hội kinh doanh. Đối với
Ngân hàng, hoạt động tài trợ XNK là chất lượng nếu tăng doang thu, tăng lợi
nhuận cho ngân hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng và sự
phát triển kinh tế xã hội nói chung. Nói cách khác, hoạt động tài trợ xuất nhập
khẩu có chất lượng phải đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của ba bên Ngân hàng,
các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu và của xã hội.
Như vậy, phát triển tài trợ XNK không chỉ đơn thuần là việc tăng trưởng quy
mô tài trợ XNK, thể hiện qua việc tăng trưởng dư nợ tài trợ, số lượng khách hàng
nhận tài trợ, hình thức và thu nhập từ tài trợ XNK mà còn bao gồm việc đảm bảo
chất lượng tài trợ.
1.2.2 Sự cần thiết phát triển hoạt động tài trợ XNK
một tốt hơn.
25