Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
Đại học sư phạm Huế - Đại Học Phú YênĐề cương ôn tập học phần
Nguyễn Thanh Hải
Lớp ĐHSP Ngữ văn
KHÁI NIỆM THI PHÁP VĂN HỌC DÂN GIAN
1/.Khái niệm văn học dân gian?
Thi pháp Văn học Dân Gian - 1 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
Trả lời:
Theo lí thuyết Thi pháp học, khi nghiên cứu văn học dân gian là nghiên cứu thi pháp ở một
cấp độ cụ thể. Để xác định được cấp độ khi nghiên cứu VHDG, chúng ta cần phải biết về khái
niệm VHDG và thi pháp VHDG.
Khái niệm văn học dân gian được dùng để phân biệt với khái niệm văn học bác học, văn
học viết. VHDG chỉ là một bộ phận văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền bằng phương
thức truyền miệng từ bao đời nay. Bộ phận văn học này có nhiều đặc trưng khu biệt mà văn
học viết không có như: tính sáng tạo tập thể, tính truyền miệng, tính dị bản, tính diễn xướng,
tính nguyên hợp,…VHDG phản ánh tinh tế mọi khía cạnh của đời sống nhân dân lao động về
phong tục tập quán, nỗi khổ, khát vọng, tình yêu đôi lứa,…
Ngoài chức năng thẩm mĩ, VHDG còn có chức năng thực hành sinh hoạt. Từ các hoạt động
của đời sống nhân dân, văn học DG nảy sinh và quay trở lại tác động đến đời sống nhân dân,
VD như hò giã gạo, hò xay lúa, hò chèo thuyền,… nảy sinh, hình thành từ các công việc xay
lúa, giã gạo, chèo thuyền,… hằng ngày. Nhưng khi có các hoạt động ấy thì họ lại đem ra để
diễn xướng phục vụ.
Tác phẩm văn học dân gian là một chỉnh thể tồn tại trong đời sống văn nghệ của nhân dân
bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ hữu cơ với nhau như: ngôn từ (lời kể, lời ca), âm nhạc (làn
điệu), vũ đạo (các động tác phụ họa), môi trường diễn xướng (lao động, vui chơi, nghi lễ, ).
Trong các yếu tố đó của VHDG thì yếu tố ngôn từ là yếu tố quan trọng có tính quyết định đến
nghiên cứu ở dạng văn bản thì việc này cũng đồng nghĩa với văn học viết; khi nghiên cứu nó ở
dạng diễn xướng thì hiện nay việc phục dựng lại các môi trường diễn xướng gặp rất nhiều khó
khăn. Dù có nghiên cứu VHDG ở dạng nào, góc độ nào thì cũng cần phải chú ý đến những đặc
thù của VHDG.
Trước hết, khi nói đến thi pháp văn học dân gian là phải nói đến những đặc điểm của hình
thức, những cách thức thể hiện và biểu hiện riêng của từng nghệ nhân, của đặc điểm dân tộc
……
2.2/Khái niệm thi pháp văn học dân gian?.
Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu xem ý kiến của ông Chu Xuân Diên như một định nghĩa.
Theo ông Chu Xuân Diên, “Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ những đặc điểm về hình
thức nghệ thuật, về phương thức và thủ thật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt
truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người”.
Từ ý kiến trên ông cò nêu những bình diện nghiên cứu cụ thể của việc nghiên cứu thi pháp
VHDG bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ như phép so sánh thơ ca, các
biểu tượng và luật thơ, các mô típ và cấu tạo cốt truyện, cách mô tả diện mạo bên ngoài và tâm
lí bên trong của nhân vật,… đến việc khảo sát những đặc điểm thi pháp chung của từng thể
loại; và những đặc điểm dân tộc của thi pháp VHDG nói chung,…
Như vậy, đối tượng khảo sát của hướng nghiên cứu thi pháp VHDG là khá đa dạng, thuộc
nhiều bình diện khác nhau. Người nghiên cứu thi pháp VHDG không chỉ nghiên cứu trên văn
bản chữ viết của các tác phẩm VHDG đã được sưu tầm, ghi chép và cố định mà còn cả trong
quá trình diễn xướng, lưu truyền bằng ngôn bản lời nói. Đó mới là hướng nghiên cứu bám sát
đặc trưng riêng của văn học dân gian và là hướng nghiên cứu có hiệu quả cao.
Từ định nghĩa và hướng nghiên cứu thi pháp VHDG nêu ntreen, ông còn xác klaapj hệ
thống thi pháp của bộ phận văn học này. Nói chung chúng ta có thể nghiên cứu VHDG dưới
nhiều cấp độ khác nhau với những lưu ý đặc trưng của VHDG đó là: Cấp độ thành tố của từng
thể loại như ngôn ngữ, thể thơ, nhân vật, kết cấu, thời gian, không gian nghệ thuật,…; Cấp độ
tác phẩm; Cấp độ nhóm tác phẩm gồm những bài ca đám cưới, truyện cười kết chuỗi, những
truyện về một loại nhân vật nào đó, …; Cấp độ thể loại như thi pháp ca dao, thi pháp truyện cổ
tích,…; Cấp độ loại hình như thi pháp thơ ca dân gian, thi pháp truyện kể dân gian,…; …
Một số phương pháp cụ thể thường được sử dụng trong nghiên cứu theo hướng thi pháp:
đong, Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình”. Ở đây nghĩa của 2 phán doán, tuy một
bên nói về vật chất, một bên nói về tinh thần, nhưng cả 2 ý này đều có nét tương đồng nhằm
diễn đạt một điều duy nhất: đó là sự đồng cảm với những người cùng cảnh ngộ, một cái nhìn
thông cảm, xẻ chia. Tương tự, ta có thể lấy thêm ví dụ khác “Sen xa hồ, sen khô hồ cạn, Liễu
xa đào, liễu ngã đào nghiêng, Anh xa em như bến xa thuyền, Như Thúy Kiều xa Kim Trọng,
biết mấy niên tái hồi”. Ở đây, các phán đoán đều mang một ý chung: đó là sự chia xa và kèm
theo nó là tàn lụi, hủy diệt. Tất cả các hiện tượng tự nhiên khách quan đều được dùng để so
sánh và làm rõ cho việc “anh xa em”. Sự chia xa của 2 người khó nói hết được hậu quả nhưng
lại được minh họa một cách cụ thể bằng hình ảnh của tự nhiên: sen-hồ, liễu-đào, thuyền-bến,
chuyện tình của Thúy Kiều-Kim Trọng là những yếu tố đáng tin cậy nên cũng minh họa sinh
động và thuyết phục được tác giả bài ca dao đưa vào để so sánh, bổ sung.
+ 2. Kết cấu một vế có phần vần: Bài ca dao ở dạng này thường có 2 phần tách biệt: phần
đầu tác giả miêu tả ngoại cảnh, phần sau là nội dung chính lời ca. Hai phần chỉ có liên hệ về
mặt vần điệu thuần túy, không liên hệ về nội dung. VD, “Quả cau nho nhỏ, Cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần, Mai anh học xa, Lấy chồng từ thủa 13, Đến năm 18 thiếp đà 5 con, Ra
đường thiếp hãy còn son, Về nhà thiếp đã 5 con cùng chàng”. Giữa chuyện “quả cau”, “học
gần”, “học xa”, và chuyện “lấy chồng từ thủa 13” không liên quan gì đến nhau. Nó chỉ là yếu
tố gợi hứng. Phải có khung cảnh thiên nhiên để dẫn đến ước mơ, để tạo ra hành động Hiện
tượng 2 phần của bài ca dao chỉ có liên hệ phần vần, ý nghĩa không hợp nhau, không bổ sung
cho nhau, không cùng hướng về chủ đề, nội dung. Có lẽ do đặc điểm ứng diễn, ứng đối nhanh
nhạy trong quá trình sáng tác tạo nên hiện tượng này?.
+ 3. Kết cấu 2 vế tương hợp: Nội dung của những lời ca này gồm có hai vế tương hợp với
nhau. Nó cùng xoáy vào một vấn đề chung. Dạng kết cấu này thường xuất hiện trong hát đối
đáp: “- Bây giờ mận mới hỏi đào, Vương hồng đã có ai vào hay chưa. – Mận hỏi thì đào xin
thưa, Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.”. Dạng kết cấu này gồm có 1 vế hỏi và 1 vế trả
lờiCả hai vế đối đáp là một lời đối đáp trọn vẹn của 2 người trong cuộc hát. Mỗi lời có thể tồn
tại độc lập. Lúc đó, nó trở thành một lời riêng biệt. loại này thuộc dạng kết cấu mở.
Thi pháp Văn học Dân Gian - 4 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
+ 4. Kế cấu 2 vế đối lập: Mỗi lời ca của kiểu kết cấu này ta thấy luôn có 2 ý lớn trái ngược
+ 3. Kết cấu đối lập: Trong một bài ca dao tác giả nêu lên 2 yếu tố A và B nhưng 2 yếu tố
này lại đối lập nhau nhằm thể hiện nội dung muốn nói. Kiểu kết cấu này rất phổ biến trong ca
dao Việt Nam. VD, “Giàu sang nhiều kẻ tới nhà, Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau”. Hay
“Chửa chồng nón thượng, quai thao, Chồng rồi nón rách, quai nào thì quai”, …
+ 4. Kết cấu đối đáp:
Trong những bài ca dao có hình thức hỏi-đáp. Đó là những lời nhân vật trữ tình đặt câu hỏi
rồi lại tự mình trả lời. Những hình thức hỏi-đáp ấy nằm trong một chỉnh thể ca dao. VD, “Cô
kia khăn trắng tang ai?, Nhất tang cha mẹ, thứ hai tang chồng, Tang chồng thì vứt khăn đi,
Tang cha, tang mẹ ta thì tang chung”.
+ 5. Kết cấu láy: Trong những bài ca dao có yếu tố được lặp đi, lặp lại nhiều lần để tập
trung vào một ý nào đó. VD, “Nước chảy, đá vẫn chưa mòn, Ước gì kết ngãi nước non với
chàng,Ước gì tạc đá ghi vàng, Ước gì em sánh với chàng từ đây, Ước gì nguyệt lão xe dây, Xe
cho mình đó với đây một nhà”. Hay,”Chiều chiều em đứng em trông, Trông non non ngất,
Thi pháp Văn học Dân Gian - 5 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
trông sông sông dài, Trông mây mây kéo ngang trời, Trông trăng trăng khuyết, trông người
người xa”.
+ 6. Kết cấu liệt kê:
Kiểu này thường xuất hiện trong những bài ca dao có tính chất miêu tả, tự sự một vấn đề
nào đó. Khi biểu cảm người ta ít sử dụng kiểu liệt kê. VD, “Anh đã nói với em, Như rựa chém
xuống đá, Như rạ chém xuống đất,Như mật rót vào tai, Bây chừ anh đã nghe ai, Bỏ em giữa
chốn thuyền chài khổ chưa!.
+ 7. Kết cấu lửng:
Bài ca dao không nói hết ý mà bỏ lửng giữa chừng. Thông thường một cặp lục – bát, có hai
dòng thơ nhưng ở đây tác giả dân gian chỉ dùng một câu lục mà không hát tiếp câu bát. VD,
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ, Ai vô xứ Nghệ thì
vô…”. Hay, “Tính tháng rồi lại tính năm, Tính tháng tháng đoạn, tính năm năm rồi, Đôi ta
biết thủa nào nguôi…”
6/.Không gian nghệ thuật Ca dao:
Trả lời:
Đa phần trong ca dao, không gian hiện thực góp phần vào việc chủ thể giải bày tâm trạng
nhưng không gian ấy vẫn chưa phải là không gian tâm trạng bởi nó vẫn được chủ thể miêu tả
như những gì nó vốn có chứ nó chưa hề nhuốm màu tâm trạng của chủ thể.
- Không gian tâm lí: là không gian được tác giả dân gian cảm nhận bằng tâm trạng của
mình. Hay nói cách khác là không gian được đo, đếm bằng tâm trạng của tác giả. VD, “Ước gì
sông rộng một gang, bắc cầu giải yếm cho nàng sang chơi”. Ở đây, “Sông rộng một gang” và
“Cầu giải yếm” là không gian nằm trong sự “Đo”, “Đếm” của tâm trạng chàng trai - Chủ thể
trữ tình chứ không phải là không gian của hiện thực khách quan. Do vậy, nó chính là không
gian tâm trạng hay không gian tâm lí. Hay trong bài “Núi cao chi lắm núi ơi, núi che mặt trời
không thấy người thương”. Xét ở góc độ tâm trạng của nhân vật trữ tình thì “núi” ở đây được
nhân hóa là nguyên nhân chia cách tình yêu đôi lứa. Lúc này “núi” không còn là “núi” của
hiện thực khách quan nữa mà lại là “núi” trong tâm trạng của hai người đang yêu bị xa cách và
là không gian tâm lí. Tương tự, để nói lên sự khao khát chung đôi trong tình yêu chủ thể trữ
tình mượn không gian hiện thực là “sông” và “đất” để nói lên khao khát chung đôi ấy bằng
hình ảnh “sông cạn, “đất liền”: “Muốn cho sông cạn đất liền, để anh đi lại đỡ tiền đò giang”
Trong ca dao, khi thề hẹn thủy chung người ta thường mượn hình ảnh tự nhiên khách quan
mà hình ảnh ấy không thể sảy ra thì không gian ấy chính là không gian tâm lí.
- Không gian địa lí – tự hào: là địa danh, tên sông, tên đất, … xuất hiện trong ca dao
nhưng không chỉ nói dến địa danh mà boa giờ cũng gắn kết địa danh với một đặc điểm nổi bật
nào đó của địa danh ấy nhằm giới thiệu cảnh quan, sản vật, con người, … của nơi ấy hay
những bất trắc nhằm cảnh báo.
VD, “Cao lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non”.; “Dù ai đi
ngược về xuôi, Nhớ ngày dỗ Tổ mồng mười tháng ba”; “Đi bộ thì khiếp Hải Vân, Đi thuyền
thì khiếp sống thần Hang Dơi”
- Không gian thề nguyền: Khi thề nguyền trong ca dao thường dùng những yếu tố hiện
thực khách quan như: trời, núi, sông, biển, … bởi vì, đây là những hiện tượng khách quan
dường như vĩnh hằng, bất biến, có tính bền vững, nổi bật, khó thay đổi. Chính sự bất biến, nổi
bật ấy của hiện thực khách quan nó được khai thác để biểu đạt sự thủy chung, không thay đổi
tình cảm của con người trong ca dao; “Bao giờ cạn nước Đồng Nai, Nát chùa Thiên Mụ không
sai lời nguyền” hay “Bao giờ núi Ngự hết cây, Sông Hương hết nước đó với đây hết tình”: …
câu hát giao duyên không gian xã hội ấy trở thành thứ không gian chuyển tải tâm trạng.
* Chiều không gian nghệ thuật được xác định bởi:
+ Điểm nhìn của chủ thể. Hướng nhìn của chủ thể thường thông qua những từ ngữ chỉ
phương hướng hoặc thông qua việc miêu tả vật thể được nhìn, ngắm,….
+ Khi tác giả dân gian mượn không gian mượn không gian rộng lớn dể miêu tả thì
bao giờ những bài ca dao ấy cũng đầy bất trắc, éo le.
+ Kho sử dụng không gian cao rộng mà tươi sáng thì đó là những bài ca vui tươi và
ngược lại.
7/.Thời gian nghệ thuật của Ca dao:
Trả lời:
Từ những vấn đề về thời gian nghệ thuật trong văn học, chúng ta có thể nhận ra một số
thời gian nghệ thuật trong ca dao như sau:
- Thời gian nghệ thuật trong ca dao phần lớn là thời gian hiện tại – thời gian diễn
xướng (bao giờ diễn xướng cũng nằm ở thời gian hiện tại), hay nói cách khác là thời gian của
chủ thể sáng tạo cũng đồng thời là thời gian diễn xướng và cũng đồng thời là thời gian của
người tiếp nhận. thời gian đó chính là thời gian hiện tại.
Trong ca dao, có hai bộ phận có và không có từ biểu thị thời gian:
+ Bộ phận ca dao có từ biểu thị thời gian: trong bộ phận này thường xuất hiện một số
trạng ngữ chỉ thời gian hiện tại như: Hôm qua, hôm nay, bây giờ, sáng, trưa, chiều, một mai,
khi xưa, hôm qua, đêm qua, … VD, “Bây giờ ta gặp nhau đây, Như con cá cạn gặp ngày trời
mưa”, “Hôm nay sum họp trúc mai, Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm”. Hay “Nào khi
gánh nặng em chờ, Qua truông em đợi, bây giờ phụ em”, …
Thời gian hiện tại còn dược biểu thị qua một số từ láy chỉ thời gian như: ngày ngày, đêm
đêm,…
VD, “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Nhớ về quê mẹ chín chiều ruột đau”, hay “Đêm đêm
chớp bể mưa nguồn, Hỏi người quân tử có buồn hay không”,…
Trong ca dao chúng ta thấy không có thời gian của quá khứ hoặc tương lai chỉ có hiện tại
liên tục diễn ra để chủ thể trữ tình bộc bạch nỗi niềm hoặc một tâm trạng nào đó. Những từ láy
này có tác dụng diễn tả quá trình của sự việc, của một trạng thái tâm hồn, tình cảm kéo dài
trong một khoảng thời gian vô định.
nói thành “chiều”, “khuya” nói thành “sáng”; Hay hôm qua là “tám” thì hôm nay phải là
“chín” cớ sao lại là “mười” được. Ở đây, phải chăng vì tâm trạng sầu muộn, tương tư, trông
ngóng đến khắc khoải vì cách trở, chia xa của nhân vật trữ tình làm cho nhân vật trữ tình cảm
nhận và đo, đếm thời gian không được chính xác. Vì vậy, thời gian được “Đo”, ‘Đếm” bởi tâm
trạng như trong bào ca dao trên là thời gian của tâm trạng nên nó chính là thời gian tâm lí .
- Thời gian đối lập: Trong ca dao còn có một lớp thời gian khá nổi bật đó là thời gian đối
lập. Đối lập cũng được xem là một công thức miêu tả thời gian.
Để tạo sự đối lập về thời gian, tác giả thường dùng các cặp từ: Khi xưa-bây giờ, khi đi-khi
về, nào khi-bây giờ, xưa kia-bây giờ, … Công thức chung là Quá khứ-hiện tại. cặp thời gian
đối lập trong quan hệ này vừa cho thấy trong bài ca dao có sự vận động đổi thay của thời gian
tự nhiên khách quan. Dòng chảy này phù hợp với dòng chảy của tự nhiên. Thuận chiều: qua
khứ-hiện tại. và vừa chuyển tải nội dung quan trọng đó là nói về sự thay đổi theo thời gian của
mọi vật, ngay cả với con người. Bài ca dao dù có nói đến ẩn dụ gì thì người nghe cũng thấy
cuối cùng là nói đến sự thay đổi tình cảm ở đối tượng trữ tình. Chủ thể trữ tình bao giờ cũng là
người phát hiện ra sự đổi thay tình cảm ở đối tượng: “Khi xưa một hẹn thì nên, Bây giờ chín
hẹn anh quên cả mười”; Hay “Nào khi anh bủng anh beo, Tay tôi cầm chén thuốc tây tôi đèo
múi chanh, Bây chừ anh khỏe anh lành, Anh mê nhan sắc anh đành phụ tôi”; …
Sự đối lập ở hai thời điểm đã làm nổi rõ những đổi thay không chỉ ở cảnh mà còn cả ở
người: thay đổi số phận, hoàn cảnh, tính tình, và quan trọng nhất là thay đổi tình cảm. Đa số
bài ca dao đều nói đến sự đổi thay tình cảm. Điều này khiến cho chủ thể trữ tình bâng khuâng,
hụt hẫng, xốn xang. Sự đối lập đã giúp cho việc thể hiện tâm trạng đạt hiệu qur cao.
Thi pháp Văn học Dân Gian - 9 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
-Thời gian thề nguyền: Cũng dùng công thức miêu tả thời gian để thể hiện tâm trạng. ta
có các công thức như sau:
+ Công thức miêu tả thời gian “Trăm năm”: Những con số trên trong ca dao không phải
là những con số chính xác mà là những đại lượng thời gian có tính ước lệ là thời gian của một
đời người với ý nghĩa vĩnh hằng, trường cửu. Nhàm biểu đạt sự thủy chung, son sắc cả một đời
người. Ta có thể bắt gặp trong ca dao vô số những bài có kiểu công thức này: “Trăm năm
tượng rách còn thờ, Nào ai phụ ngãi quên tình mặc ai”, “Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò, Cây đa
nào đó.
+ Công thức miêu tả thời gian “chiều chiều”: Một công thức cũng khá phổ biến và có sắc
thái riêng đó là công thức miêu tả thời gian “chiều chiều”. Thời gian này thường gắn với bức
tranh cảnh vật quen thuộc như: “ngõ sau”, “bờ mương”, “chim vịt kêu chiều”,…Còn nhân vật
trữ tình thường mang tâm trạng buồn, trông ngóng, hoài vọng khắc khoải: “Chiều chiều ra
đứng ngõ sau, Trông về que mẹ ruột đau chín chiều”, Hay “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà,
Lòng ta thương bạn nước mắt và lộn cơm”, “Chiều ciều mây kéo về kinh, Ếch kêu giếng cạn
thảm tình đôi ta”, … Buổi chiều thường gợi lên sự đoàn tụ, gặp gỡ trở về. Thiên nhiên, tạo hóa
như đã sắp đặt điều đó: chim về tổ, người tìm về với mái ấm gia đình,…Nhưng thời khắc này
Thi pháp Văn học Dân Gian - 10 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
trong ca dao lại hiện lên những con người cô đơn, xa cách gia đình, quê hương: người phụ nữ
bơ vơ nơi đất khách, quê người; người lính thú nơi biên ải,… tất cả đều hoài vọng người ta
thường đến một địa điểm nào đó để ngóng, để trông về chốn cũ. Thường những bài ca dao
thuộc loại này đều có âm điệu buồn man mác, hiu hắt, xót xa, quạnh vắng. tiếng hát như tiếng
khóc rưng rưng, càng dồn nén nó lại càng vỡ òa trong lòng.
8/.Ngôn ngữ Ca dao:
Trả lời:
Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thuần Việt, đời thường nên nó có tính chất bình dân, mộc
mạc, giản dị, dễ hiểu. đôi khi cũng có những điển tích, điển cố nhưng những điển tích, điển cố
đó cũng rất gần gũi, quen thuộc và dễ hiểu. ngôn ngữ ca dao còn là ngôn ngữ giãi bày, trò
chuyện thường mang bản chất của khẩu ngữ, thường dùng các thán từ như: “chàng ơi!”, “than
ôi”,…
Ngôn ngữ ca dao thường là những lời độc thoại, đối thoại của nhân vật trữ tình. Như vậy,
ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ giao tiếp sinh hoạt hằng ngày được chuyển hóa vào thơ ca. VD,
“Thò tay mà ngắt ngọn ngò, Thương em đứt ruột giả đò làm ngơ”. Hay “Khoai lang Suối Mít,
đậu phộng Hòn Dung, Chàng đào thiếp mót bỏ chung một gùi” (ca dao Phú Yên). Chính vì
thế, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng thơ ca dân gian là thơ điệu nói.
Ngoài ra, trong kho tàng ca dao còn có sự đóng góp một phần nhỏ của những nhà Nho là
những người có học hành nhưng lại không đỗ đạt. điều này được minh chứng qua một số câu
Phần kết thúc: (còn gọi là phần mở nút) Đây là phần giải quyết số phận của nhân vật.
Phần vĩ thanh: là phần bài học được rút ra từ câu chuyện.
Từ những đặc điểm của cốt truyện trên ta có thể nêu ra những đặc điểm của cốt truyện cổ
tích như sau:
Truyện cổ tích cũng có đầy đủ 6 phần cơ bản của cốt truyện như đã nêu trên.
Truyện cổ tích thường ngắn gọn, đơn giản, ít tình tiết, biến cố. Vì vậy, cốt truyện cổ tích
thường đơn giản, sơ lược, khuôn mẫu.
Cốt truyện cổ tích thường xây dựng trên cơ sở cuộc đời của nhân vật Chính diện.
Những xung đột tạo nên biến cố trong cốt truyện cổ tích có thể xảy ra trong phạm vi gia
đình, xã hội nhưng cũng có khi chuyển từ phạm vi gia đình ra ngoài xã hội. Những biến cố ấy
có mức độ đơn giản đến phức tạp, có khi chuyến sang gây cấn, quyết liệt.
Ví dụ: Trong truyện : “Cây khế”;
Truyện : “Tấm Cám”
10/.Thời gian nghệ thuật truyện Cổ tích:
Trả lời:
Thời gian nghệ thuật truyện Cổ tích là lớp thời gian quá khứ có tính chất Cố sự thể hiện
rõ nhất là cụm từ mở đầu truyện: “Ngày xưa, …” hay “Ngày xửa, ngày xưa,… ”. Quá khứ
trong truyện cổ tích là quá khứ “phiếm chỉ”. Điều này cũng làm cho truyện cổ tích có tính chất
“Phiếm chỉ” khác với truyền thuyết là thời gian được xác định cụ thể. Đó là thời gian của lịch
sử.
Không chỉ có quá khứ “Phiếm chỉ” mà thời gian trong truyện cổ tích còn là thời gian “mặc
định”. Khi cắt bỏ thời gian ở phần giới thiệu thì các biến cố của nội dung câu chuyện xảy ra là
thời gian hiện tại hay còn gọi là thời gian khách quan. Vì vậy, nhân vật trong truyện cổ tích
bao giờ cũng hành động trong hiện tại mặc dù mọi hành động của nhân vật, mọi diễn biến của
sự kiện, tình tiết lại vận động, gói gọn trong thời gian quá khứ “ngày xửa, ngày xưa” ấy. Thời
gian của cổ tích là quá khứ nhưng hành động của nhân vật được kể luôn là hiện tại. một thứ
hiện tại trong quá khứ. Đó là thứ thời gian kéo dài và liên tục. khi nào sự kiện kết thúc thì thời
gian mới dừng lại, chấm dứt. Do vậy, thời gian của truyện cổ tích là thời gian “mặc định”.
Thời gian trong truyện Cổ tích có thể nhanh hoặc chậm tùy theo nhịp điệu trần thuật về
những biến cố đã được lựa chọ, xắp xếp của người kể chuyện. do vậy không có sự quy đảo về
không ốm đau, không thất bại trước một thế lực phản diện nào,… thậm chí họ còn có thể biến
hóa vào thế giới của muôn loài. Vì thế, nhân vật cổ tích sống trong không gian ấy nên làm
được nhiều chuyện phi thường mà con người thật không bao giờ làm được như Thạch Sanh
đánh đàn tuy không học đàn, xuống thủy cung,…trong truyện “Thạch Sanh” hay cô Tấm biến
hóa thành chim, thành cây, thành quả,… trong truyện “Tấm Cám”
Trong truyện cổ tích hai lớp không gian hiện thực và không gian thần kì đan xen lẫn nhau.
Nhân vật cổ tích đi về giữa hai lớp không gian ấy, giữa hai cõi mơ và thực. nó không hoàn
toàn là hiện thực và cũng không hoàn toàn là mơ. Chuyện của cổ tích luôn chuyển hóa linh
hoạt giữa mơ và thực, thực và mơ. Từ những yếu tố không gian nghệ thuật cổ tích đã nêu, ta
có thể khẳng định: không gian nghệ thuật cổ tích không có không gian tâm lí (tâm trạng)./.
12/. Nhân vật truyện Cổ tích:
Trả lời:
Nhân vật trong truyện cổ tích rất đa dạng, phong phú và sinh động. Nó phản ánh hầu như
toàn bộ mọi hạng người, mọi loại nghề nghiệp trong xã hội. Nhân vật cổ tích còn là nhân vật
của các quan hệ gia đình, thân tộc, xã hội. Nhân vật xuất hiện trong cổ tích bao giờ cũng nêu
lên những mâu thuẫn trong quan hệ xã hội, quan hệ gia đình,…
Dù có đa dạng và phong phú, nhưng nhân vật trong truyện cổ tích được phân tuyến và chia
làm hai tuyến nhân vật chính đó là: tuyến nhân vật chính diện và tuyến nhân vật phản diện.
hai tuyến nhân vật này tiêu biểu cho hai lực lượng chính trị đối lập nhau trong xã hội đó là:
thống trị - bị trị; Thiện- Ác; Cao cả - Thấp hèn; Tốt – Xấu,… Điều này cho thấy
sự đối lập là một nguyên tắc thi pháp nhân vật truyện cổ tích thống nhất trong việc biểu hiện
nội dung, tư tưởng, quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của tác giả dân gian
Nhân vật được phân thành hai tuyến rạch ròi ngay từ đầu truyện Nhân vật trong cổ tích
không có hiện tượng đổi tuyến. Nhân vật của hai tuyến luôn được đặt trong thế đối lập, xung
đột, mâu thuẫn với nhau. Đây là nguyên tắc xây dựng nhân vật đối tuyến của truyện cổ tích.
Trong truyện, khi các nhân vật đã được phân tuyến thì dù các nhân vật ấy đấu tranh, xung đột,
hay mâu thuẫn thì chỉ phát triển trong tuyến nhân vật của mình mà không bao giờ đổi tuyến.
Hay nói cách khác, nhân vật tốt thì luôn luôn tốt, nhân vật xấu thì luôn xấu, nhân vật ác thì
Thi pháp Văn học Dân Gian - 13 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
công nhận. Hay, gần đây trong giáo trình “Văn học dân gian” (tập 2) của cố giáo sư Hoàng
Tiến Tựu diễn đạt lại định nghĩa về Tục ngữ đã nêu ở trên, gọn hơn: “ Tục nữ là thể loại
VHDG nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn
của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ
truyền”.
Những định ngĩa về tục ngữ càng về sau càng đầy đủ, nêu lên được những tính chất vốn có
của thể loại. Điều đó cho thấy các nhà nghiên cứu VHDG đã khám phá ra nhiều đặc trưng
mang tính khu biệt, từ đó cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về tục ngữ.
Tuy nhiên, các định nghĩa nêu trên còn chưa chú ý đến chức năng cũng như mục đích của
tục ngữ. Tục ngữ còn có chức năng thông báo. Thông báo một nội dung tri thức và nhằm để
đạt được một mục đích nào đó trong quá trình giao tiếp của con người như: truyền đạt kinh
nghiệm; giáo huấn một điều tốt, răn đe, hạn chế cái xấu; bày tỏ thái độ, quan niệm, chính kiến
trước một hiện tượng nào đó; tăng tính lập luận khi trình bày một vấn đề,. một sự việc, một sự
biện giải mà không cần giải thích, biện luận nhiều lời,…
Thi pháp Văn học Dân Gian - 14 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
Từ những vấn đề đã nêu trên, ta có thể đi đến một khái niệm về tục ngữ như sau: Tục ngữ
là những câu nói ngắn gọn, xúc tích, có vần, có điệu nằm trong lời ăn, tiếng nói hằng ngày
nhằm truyền đạt những phán đoán của con người về thế giới tự nhiên và xã hội.
Tục ngữ là một trong những thể loại ra đời sớm. tuy nhiên cho đến ngày nay tục ngữ vẫn
phát triển. VD, “Hàng giả, vạ thật”, “Hàng bày không bán, hàng bán không bày”, là những
câu nói mới xuất hiện trong thời đại ngày nay.
Mặt khác, tục ngữ thường có tính chuyển nghĩa. Ban đầu tục ngữ chỉ có một nét nghĩa
nhưng trong quá trình giao tiếp, lưu truyền nó nảy sinh ra những nét nghĩa mới. VD, “Lạt mềm
buộc chặt”: nghĩa ban đầu là “lạt mỏng thì dễ buộc và buộc mới chặt” nhưng trong quá trình
lưu truyền nó lại mang thêm nét nghĩa mới là “Trong quan hệ, ứng xử với nhau phải “mềm
mỏng” thì dễ thành công”.
14/. Đặc điểm thi pháp của Tục ngữ:
Trả lời:
- Câu tục ngữ mang tính ngắn gọn, xúc tích và bền vững bao giờ cũng có tính khái quát
dụ, ngoa dụ, nhân hóa,…VD, “Gái có chồng như rồng có vây” (SS), “Có khế ế chanh” (ẩn dụ),
Thi pháp Văn học Dân Gian - 15 -
Nguyễn Thanh Hải – Lớp ĐHSPNgữ văn - ĐHPY
“Miệng ăn núi lở” (ngoa dụ), “Tay làm hàm nhai” (hoán dụ), “Cái nết đánh chết cái đẹp”
(nhân hóa),…
Chính vì nhờ các biện pháp tu từ mà lối nói của Tục ngữ tuy ngắn nhưng vẫn sinh động;
tuy truyền đạt kinh nghiệm lí trí vẫn có nhiều lời ví von đẹp đẽ. Tục ngữ phần nào vẫn có hình
tượng. Tuy chỉ là hình tượng ngôn ngữ nhưng nhờ đó mà tục ngữ nói được nhiều ý niệm trừu
tượng, nói được cái phổ biến bằng cái cụ thể cô đọng, ngắn gọn.
15/. Kết cấu của tục ngữ:
Trả lời:
Có 2 loại kết cấu đó là: kết cấu đơn giản và kết cấu phức hợp.
Kết cấu đơn giản là những câu tục ngữ chỉ có một vế, một phán đoán đơn giản nêu một ý
tưởng, một nhận xét,…. VD, “Gà què ăn quẩn cối xay”, “Già néo đứt dây”,…Đây là những
nhận xét thực tiễn, chưa nêu thành kinh nghiệm, phán đoán, bản thân nó chưa mang tính suy
luận.
Kết cấu phức hợp: là những câu tục ngữ có từ hai vế trở lên có quan hệ với nhau về ý
nghĩa. Vế này là cơ sở của vế kia. Qua kiểu kết cấu này ta thấy được phép suy luận, loại suy
trong bản thân tục ngữ. Mối quan hệ giữa các vế có thể quy vào 3 dạng:
- Quan hệ tương đồng (dạng suy luận tương đồng): ở dạng này, dù 2 vế đề cập đến 2 sự
việc khác nhau nhưng được đặt so sánh bên nhau, gầm hiểu giống nhau về một nội dung, ý
nghĩa nào đó. VD, “Đường đi hay tối, nói dối hay cùng”, “Miệng bà đồng, lồng chim khướu”,
“thuyền mạnh nhờ lái, gái mạnh nhờ chồng”,…
- Quan hệ đối lập (dạng suy luận tương phản): ở dạng này, 2 vế nêu lên 2 phán đoán, nhận
xét trái ngược nhau, ngầm hiểu là loại so sánh khác nhau.VD, “Của một đồng, công một nén”,
“Yêu nhau lắm, cắn nhau đau”, “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, …
- Quan hệ nhân quả (Dạng suy luận nhân quả): Điều được nêu lên ở 2 vế có quan hệ biện
chứng. lối suy luận này có tính khoa học, chặt chẽ. Vế sau là hệ quả của vế trước. VD, “Nguồn
đục, dòng cũng đục”, “Cây ngã lá dập”, “Rút dây động rừng”,…
Tục ngữ không nhằm mục đích biện luận mà là biểu đạt những kết quả đã được biện luận,