I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ca dao là thể loại văn học dân gian được các nhà nghiên cứu để tâm
đến nhiều bởi giá trị nhiều mặt của nó. Có thể nói, mảnh đất ca dao rộng lớn
và sâu sắc nhiều mặt vẫn là khoảng đất rộng rãi và hấp dẫn, đôi khi bí ẩn cho
nhưng ai quan tâm, yêu thích vẻ đẹp ca dao. Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục
ngữ ca dao dân ca Việt Nam”. Nxb Khoa học xã hội, 1978, đã “coi đó là
tiếng tơ đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”.
Trong ca dao, hình ảnh quê hương đất nước hiện lên với tất cả vẻ đẹp
mộc mac, gần gụi và thân thương nhất. Đó là con đường mềm mại, quanh
co, một vẻ đẹp rất Việt Nam như:
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ”
Nơi ải Bắc xa xôi là:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”
Huế đẹp mộng mơ có:
“Núi Truồi ai đắp mà cao
Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu”
Và có cảnh hồ Tây, nơi kinh thành Thăng Long văn vật với nét vẽ độc đáo,,
nên thơ, rất đỗi thân thuộc và gần gũi:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây hồ”(*)
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Giải đáp những địa danh và làm sáng tỏ những ý trong bài ca
dao trên(*)
- Về địa danh Trấn Vũ.
Hiện nay có sự tranh cãi về địa danh này.
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Trấn Vũ là chùa Trấn Quốc trên đảo cá
Vàng, thuộc đường Cổ Ngư (hiện nay là đường Thanh Niên)
dân gian, bài ca dao này xác định được tác giả cụ thể. Đây là một bài thơ của
Dương Khuê, một tác giả đời Nguyễn. Sáng tác theo phong cách dân gian,
ngay sau khi ra đời nó đã được đông đảo quần chúng thuộc, được dân gian
hoá và người ta đã chấp nhận nó như một tác phẩm dân gian: ca dao
Bài ca dao mang màu sắc của một bài thơ cổ điển, đẹp như một bức
tranh thuỷ mặc.
Trong ca dao, thiên nhiên có mối quan hệ chặt chẽ trong việc bộc lộ
tình cảm của nhân vật trữ tình. Bài ca dao này thuộc bộ phận ca dao có yếu
tố miêu tả trực tiếp thiên nhiên. Ở đây, thiên nhiên được miêu tả trong
những chi tiết gần gũi, quen thuộc với cuộc sống của người dân. Người ta tả
gió, trăng, sông, nước, cây cối…Lối miêu tả gây ấn tượng gợi lên một không
gian với đặc trưng của miền đất kinh kì. Cảnh vật của hồ Tây được miêu tả
thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh hài hoà, sống động, rõ
nét pha chút mơ hồ, mờ ảo của màn sương đêm. Từ góc nhìn cận cảnh của
tác giả, từng khóm trúc với những cành vươn rộng, uốn cong xuống, la đà
sát mặt nước, sát mặt đất, đu đưa trước làn gió nhẹ. Từ láy tượng hình “la
đà” - một nét vẽ thoáng, gợi cảm và ấn tượng. “la đà” là sà xuống thấp và
đưa đi, đưa lại theo chiều ngang một cách nhẹ nhàng. Đặt vào trong văn
cảnh cụ thể của bài ca dao, nó là một tính ngữ đầy sức gợi, được tác giả sử
dụng tinh tế.
Có thể dễ dàng nhận thấy ngay câu đầu tiên của bài, tác giả đã sử
dụng một mô típ quen thuộc trong ca dao: mô típ “gió đưa”. Những ai yêu
ca dao đã quá quên thuộc với những câu ca như:
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”
“Gió đưa tờ giấy lên mây
Gió đưa cô ấy lại đây ăn trầu”
Hay: “Gió đưa cây cửu lý hương,
Từ xa cha mẹ thất thường bữa ăn.
Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn,
hay: “Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán trung thanh đáo khách thuyền”
(Phong Kiều dạ bạc – Trương Kế)
Thủ pháp miêu tả âm thanh từ trong Đường thi được tác giả sử dụng
tinh tế nhưng không dập khuôn. Trong cảm hứng về thiên nhiên, đất nước,
con người một cách sâu lắng, tác giả đã diễn tả trọn vẹn một tiếng chuông
ngân dài trong màn sương đêm như hơi thở. Đặt trong khung cảnh thiên