ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Hoàng Văn Thao
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÔNG KHÍ TỈNH LẠNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã may mắn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
quý báu cả về vật chất lẫn tinh thần cũng như kiến thức chuyên môn của rất nhiều
thầy cô, bạn bè và gia đình. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày
tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
PGS. TS. Lê Thu Hà – Khoa Sinh học, trường ĐH Khoa học tự nhiên –
ĐHQGHN, người đã dìu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này.
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Sinh học trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Cán bộ, giảng viên, thầy giáo cô giáo Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa
học Tự nhiên đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên
cứu
Cán bộ Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Lạng Sơn, cán bộ Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Lạng Sơn đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình
thực địa và phát phiếu điều tra xã hội học.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi
những đóng góp quý báu để hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn ủng hộ,
động viên, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ cả về tinh thần và vật chất để tôi có thể hoàn
thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Hoàng Văn Thao DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 9 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI ở huyện Cao Lộc 34
Bảng 10 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung ở huyện Cao Lộc 36
Bảng 11 Chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc ở huyện Đình Lập 37
Bảng 12 Kết quả tính chỉ số chất lượng không khí AQI của huyện Đình Lập 38
Bảng 13 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI ở huyện Đình Lập 38
Bảng 14 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung ở huyện Đình Lập 39
Bảng 15 Chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc ở huyện Lộc Bình 40
Bảng 16 Kết quả tính chỉ số chất lượng không khí AQI của huyện Lộc Bình 41
Bảng 17 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI ở huyện Lộc Bình 41
Bảng 18 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung ở huyện Lộc Bình 42
Bảng 19 Chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc ở huyện Chi Lăng 44
Bảng 20 Kết quả tính chỉ số chất lượng không khí AQI của huyện Chi Lăng 44
Bảng 21 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI ở huyện Chi Lăng 45
Bảng 22 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung ở huyện Chi Lăng 46
Bảng 23 Chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc huyện Hữu Lũng 47
Bảng 24 Kết quả tính chỉ số chất lượng không khí AQI của huyện Hữu Lũng 48
Bảng 25 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI ở huyện Hữu Lũng 48
Bảng 26 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung ở huyện Hữu Lũng 50
Bảng 27
Chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc ở huyện Văn
Quan
51
Bảng 28 Kết quả tính chỉ số chất lượng không khí AQI của huyện Văn Quan 51
Bảng 29 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI ở huyện Văn Quan 52
Bảng 30 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung ở huyện Văn Quan 53
Bảng 31 Chất lượng môi trường không khí tại các điểm quan trắc huyện Bình Gia 54
Bảng 32 Kết quả tính chỉ số chất lượng không khí AQI của huyện Bình Gia 54
Bảng 33 Phân hạng chất lượng không khí theo giá trị AQI huyện Bình Gia 54
Bảng 34 Kết quả phân tích tiếng ồn, rung huyện Bình Gia 56
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắc
TP Lạng Sơn
31
Hình 5
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc ở TP Lạng Sơn
32
Hình 6
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắc
huyện Cao Lộc
35
Hình 7
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc huyện Cao Lộc
36
Hình 8
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắc
huyện Đình Lập
38
Hình 9
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc huyện Đình Lập
39
Hình 10
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắ
c
huyện Lộc Bình
41
Hình 11
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc ở huyện Bình Gia
56
Hình 20
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắc ở
huyện Bắc Sơn
58
Hình 21
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc ở huyện Bắc Sơn
59
Hình 22
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắc ở
huyện Tràng Định
61
Hình 23
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc ở huyện Tràng Định
62
Hình 24
Biểu đồ nồng độ bụi TSP trung bình tại các điểm quan trắc ở
huyện Văn Lãng
64
Hình 25
Biểu đồ mức ồn tương đương trung bình tại các điểm quan
trắc ở huyện Văn Lãng
65
Hình 26
Biểu đồ biến động hàm lượng bụi TSP qua các năm tại một
số điểm quan trắc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
1
MỞ ĐẦU
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ
không phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến
đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Nguyên nhân gây ô
nhiễm không khí là do các hoạt động của con người và tự nhiên. Hàng năm con
người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt,đồng thời cũng thải
vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt,
chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng
lên nhanh chóng.
Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây
nhiều bệnh cho con người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu
rừng, các cánh đồng và các hệ sinh thái khác.
Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầng
ôzôn.CFC là nguyên nhân chính, sau khi chịu tác động của khí CFC và một số loại
chất độc hại khác thì tầng ôzôn sẽ bị mỏng dần rồi tạo nên lỗ thủng ở cả hai cực Bắc
3
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của Lạng Sơn
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Lạng Sơn là tỉnh trung du thuộc vùng Đông Bắc - Bắc bộ có toạ độ địa lý
21
o
19’31” – 22
o
27’44” vĩ độ Bắc và 106
o
05’38” – 107
o
Hình 1. Vị trí hành chính tỉnh Lạng Sơn
Nguồn: Phòng đo đạc và bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn
1.1.1.3. Khí tượng thủy văn
Lạng Sơn có các khí hậu vùng đặc trưng là:
- Khí hậu vùng núi cao Mẫu Sơn.
- Khí hậu vùng núi vừa và thấp phía Bắc và Đông.
- Khí hậu vùng núi thấp phía Nam.
- Khí hậu vùng phía Tây và Tây Nam.
Nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn miền nhiệt không quá cao. Có mùa đông
tương đối dài (tới 5 tháng) và khá lạnh. Lượng mưa trung bình năm là 1.200 -
1.600mm, với số ngày mưa là 135 ngày/năm. Nơi duy nhất có lượng mưa trên
1600mm là Mẫu Sơn (2589 mm). Nhiều nơi mưa dưới 1200mm, trong đó ít nhất là
5
Ðồng Ðăng 1104,7mm, Na Sầm 1118,4mm. Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn
vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình. Mùa lạnh
thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam[15, 25].
1.1.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội của Lạng Sơn
1.1.2.1. Dân số
Hình 2. Dân số tỉnh Lạng Sơn các năm từ 2008 - 2014
(Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo quan trắc môi trường tỉnh Lạng Sơn các năm 2008,
2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường Lạng Sơn)
Từ năm 2008 đến năm 2014 dân số toàn tỉnh ngày càng gia tăng, với tỷ lệ
tăng hàng năm từ 1,13% đến 1,16%. Năm 2008 dân số toàn tỉnh vào khoảng
740,200 người, thì đến đầu năm 2014 dân số toàn tỉnh Lạng Sơn đã vào khoảng
745,800 người.
Lạng Sơn chủ yếu là lao động nông nghiệp, số lao động qua đào tạo lại chiếm tỉ
trọng tương đối thấp, khoảng 19,6% trong tổng số lao động, số lao động có trình độ
6
Sự gia tăng dân số trong tỉnh đã góp phần tăng sức ép lớn đối với đất đai,
nguồn cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên. Cùng với gia tăng dân số là ô
nhiễm môi trường do các hoạt động sinh sống của con người gây ra đã tác động xấu
đến sức khỏe cộng đồng và gây thiệt hại về kinh tế[15, 20, 21, 22, 23, 24, 25].
1.1.2.2. Hoạt động công nghiệp
Trong giai đoạn 2001- 2013, sản xuất CN- tiểu thủ CN trên địa bàn tỉnh đạt
mức khá cao, bình quân cả thời kỳ là 19,86%; tỉ trọng CN trong GDP tăng từ 6%
năm 2001 lên 13,33% năm 2010. Cơ cấu CN được phân theo 3 nhóm ngành chủ yếu
là CN khai thác mỏ, CN chế biến, CN sản xuất và phân phối điện, nước. Đối với
CN khai thác mỏ, giữa tháng 9/2011 theo đánh giá: khoáng sản trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn rất phong phú, đa dạng về chủng loại nhưng lại khá ít về trữ lượng và
hàm lượng. Còn theo đánh giá của các ngành chức năng, ngoài than nâu có trữ
lượng tương đối và nguồn đá vôi dồi dào, lên đến hàng tỉ m
3
, trên địa bàn tỉnh còn
có một số loại khoảng sản khác như: Sắt, bôxít - nhôm, chì, kẽm, atimon, ba-rít…
được phân bố rải rác trong toàn tỉnh với trữ lượng thấp và đang được khai thác, chế
biến với quy mô nhỏ lẻ. Vì vậy, CN khai thác mỏ trên địa bàn tỉnh thời gian qua chủ
yếu vẫn là khai thác phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác than nâu phục
vụ sản xuất điện[15, 25].
Bên cạnh khai thác mỏ, ngành CN chế biến hiện đang chiếm tỉ trọng khá lớn
trong cơ cấu giá trị sản xuất CN, tập trung vào một số lĩnh vực chính: nhóm chế
biến nông lâm sản, lương thực, thực phẩm, chiếm 20% giá trị CN chế biến; nhóm
chế biến vật liệu xây dựng, hoạt động tương đối ổn định và chiếm 35% cơ cấu, tập
trung vào các loại hình sản xuất: xi măng, gạch, đá các loại; nhóm cơ khí, lắp ráp
sửa chữa, sản xuất hàng tiêu dùng với các hoạt động lắp ráp linh kiện, phụ tùng xe
máy, máy bơm nước, nồi cơm điện, sản phẩm nhựa…và chiếm 45% cơ cấu. Ngành
CN sản xuất và phân phối điện nước trong thời gian qua là nhóm ngành có mức
Sản xuất và phân phối điện sẽ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,67% trong
giai đoạn 2011- 2015, chiếm 12,71% tỉ trọng trong ngành CN và đạt 11,57% trong
giai đoạn 2015- 2020, chiếm tỉ trọng 11,85%; giá trị sản xuất cũng tăng từ 371,081
triệu đồng năm 2010 lên 468,172 triệu đồng năm 2015 và đạt 809,192 triệu đồng
8
năm 2020. Sản xuất và phân phối nước được đầu tư mở rộng bằng nhiều hình
thức.Thông qua việc xây dựng nhà máy xử lý nước có công suất 90 nghìn m
3
/ngày
đêm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu về nước cho các hoạt động tiêu dùng, sản xuất kinh
doanh. Trong giai đoạn này, giá trị sản xuất của ngành sản xuất và phân phối nước
ước đạt 25.000 triệu đồng, chiếm tỉ trọng 0,68% vào năm 2015 và 45.000 triệu
đồng, chiếm tỉ trọng 0,66% vào năm 2020. Ngành điện hiện đang gây tác động
mạnh lên môi trường trên hai khía cạnh là khai thác tài nguyên thiên nhiên và khí
thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch của nhà máy nhiệt điện Na Dương gây ô nhiễm
và chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Trong năm 2013, Lạng Sơn đã thu hút 1,929,000 lượt khách, tăng 6,5% so
với cùng kỳ năm 2012, trong đó có 257,500 lượt khách quốc tế, doanh thu xã hội từ
du lịch đạt khoảng 730 tỷ đồng. Toàn tỉnh hiện có hơn 100 doanh nghiệp kinh
doanh du lịch, dịch vụ, số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh lữ hành trên
địa bàn Lạng Sơn có 15 doanh nghiệp (trong đó có 9 đơn vị đuợc Tổng cục Du lịch
cấp phép kinh doanh lữ hành bao gồm cả doanh nghiệp của tỉnh và văn phòng đại
diện, chi nhánh của các tỉnh bạn đóng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn), trên 60 hướng
dẫn viên được cấp thẻ[15, 25].
1.1.2.3. Hoạt động giao thông vận tải
Giai đoạn từ năm 2010 - 2013, tổng vốn huy động để đầu tư phát triển hạ
tầng giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh đạt trên 2000 tỉ đồng, trong đó: vốn Trung
ương đầu tư trên địa bàn là gần 600 tỉ đồng; vốn ODA là gần 500 tỉ đồng; vốn ngân
đây tỉ trọng của nghành nông nghiệp có xu hướng giảm, năm 2007 là 38,8%, năm
2008 là 39,3%, năm 2009 là 38,9%, năm 2010 chiếm 37,75% GDP của tỉnh. Sự
phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng tác động mạnh mẽ và làm thay đổi diện
mạo ở khu vực nông thôn một cách rõ rệt, tạo việc làm nâng cao thu nhập cho người
nông dân. Theo số liệu thống kê, năm 2010 thu nhập bình quân của hộ gia đình
nông dân đạt trên 41 triệu đồng/năm. Bình quân mỗi hộ có 5 người, thì thu nhập của
mỗi khẩu đạt trên 8,2 triệu đồng/năm, tăng khá so với những năm trước đây; trong
năm 2010 đã có 11.500 lao động khu vực nông thôn có việc làm mới; bình quân
10
trong giai đoạn 2001-2005, mỗi năm có 2,36% hộ nghèo ở khu vực nông thôn thoát
nghèo và tỷ lệ này là 2,5%/ năm trong giai đoạn 2006-2010, Dự kiến đến năm 2020,
diện tích rau màu của toàn tỉnh sẽ tăng lên đến 10.500 ha và sản lượng đạt khoảng
trên 153 nghìn tấn. Ngoài ra, các cây công nghiệp ngắn ngày cũng sẽ được chú
trọng, tăng diện tích sản xuất và hình thành các vùng sản xuất tập trung [15, 25].
1.1.2.5. Giáo dục – Y tế
Giáo dục, bậc mẫu giáo – mầm non hiện nay có tổng số trường học trên địa
bàn tỉnh là 139 trường với 1.311 lớp học; tổng số giáo viên là: 1.776 người; tổng số
trẻ là: 27.6 nghìn trẻ. Bậc phổ thông có tổng số trường học bậc phổ thông là 472
(tương ứng với 6.166 lớp học); trong đó: tiểu học: 245 trường với 3.639 lớp học;
trung học cơ sở: 202 trường với 1.847 lớp học; trung học phổ thông: 25 trường với
680 lớp học. Về tổng số học sinh là 130.434, trong đó: tiểu học: 57.583 học sinh;
trung học cơ sở: 46.760 học sinh; trung học phổ thông: 26.091 học sinh.
Y tế đang có tổng số cơ sở khám chữa bệnh là 262 cơ sở với 2.315 giường;
trong đó: bệnh viện: 14 cơ sở với 1.460 giường; phòng khám khu vực: 21 cơ sở với
130 giường; bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng: 01 cơ sở với 40 giường;
trạm y tế phường, cơ quan, xí nghiệp: 226 cơ sở với 685 giường bệnh. Đội ngũ cán
bộ y tế bao gồm: 592 bác sỹ; 709 y sỹ; 765 y tá và 363 nữ hộ sinh.
Chất lượng khám chữa bệnh tiếp tục được nâng cao ở cả 3 tuyến tỉnh, huyện,
xã. Đã tổ chức khám 146.253 lượt người; điều trị 21.387 lượt người. Công tác
Tro bụi, hơi nước và hóa chất độc hại có trong môi trường không khí là do:
+ Hiện tượng đốt cháy nhiên liệu ởđiều kiện nhiệt độcao làm gia tăng sự lưu
chuyển không khí nên các nguyên liệu sẽ bị đốt cháy không hoàn toàn tạo ra các
sản phẩm độc hại CO, CO
2
, SO
2
, bụi
Sản xuất nông nghiệp làm tăng hơi thuốc trừ sâu vào môi trường không khí
[1, 2, 3 , 4, 5, 14, 19, 32].
1.2.2.2. Ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải.
Hoạt động giao thông vận tải không những tự nó sinh ra các chất độc hại do
đốt cháy nhiên liệu mà còn làm khuếch tán bụi và các chất ô nhiễm từ môi trường
đất sang môi trường không khí.
Ví dụ: Các khu vực đường xá giao thông có chất lượng xấu mật độ xe qua lại
nhiều, hàm lượng bụi trong không khí thường rất cao.
Với hoạt động này các vi sinh vật gây bệnh như nấm, lao, bạch hầu là
12
những loại có khả năng tồn tại lâu ở môi trường ngoại cảnh sẽ có điều kiện gây ô
nhiễm không khí và gây tác hại đến sức khỏe con người.
Trong quá trình hoạt động của các phương tiện giao thông, sự đốt cháy và
đốt cháy không hoàn toàn các nhiên liệu khác nhau cũng đưa vào môi trường không
khí các sản phần độc hại tương ứng.
Ví dụ: Các xe có sử dụng xăng, dầu khi đốt cháy sẽ đưa vào không khí một
hàm lượng lớn các chất như oxydcarbon (CO), Dioxydcarbon (CO
2
), carbuahydro,
chì
Một số động cơ sử dụng than mỡ sẽ đưa vào môi trường không khí lượng
13
nhiều bụi khí độc.
Bão bụi: gây nên do gió mạnh cuốn theo bụi lan truyền trong phạm vi rộng
[1, 2, 3 , 4, 5, 14, 19].
1.2.3. Tổng quan vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trên Thế giới
Tổng quan các kết quả nghiên cứu, khảo sát, thông số về ô nhiễm không khí
đã công bố trên Thế giớicho thấy:
Từ Hội nghị quốc tế đầu tiên về "môi trường và con người" tổ chức tại
Stockholm (Thụy Điển) năm 1972, đến nay con người đã nhận thức được rằng:
Hành tinh của chúng ta đang phải đối mặt với một số vấn đề về môi trường hết sức
nghiêm trọng ảnh hưởng xấu tới sự phát triển tồn tại của nhân loại:
1.2.3.1. Sự biến đổi khí hậu toàn cầu (hiệu ứng nhà kính)
Các nghiên cứu khoa học cho thấy rằng, khí hậu toàn cầu đang bị biến đổi
mạnh mẽ chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Kết quả của sự trao đổi không cân
bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng
nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như
trong nhà kính và được gọi là hiệu ứng nhà kính (Greenhouse effect).
"Hiệu ứng nhà kính" sẽ mang lại những thay đổi quan trọng cho khí hậu của
trái đất. Những cư dân trên hành tinh sẽ phải quen sống trong một thế giới nóng
hơn.
Những sự cân bằng động trong tự nhiên bị đảo lộn do nhà máy, xe hơi hoạt
động, đốt cháy nhiên liệu than đá, dầu và khí đốt tự nhiên đã sản sinh ra một lượng
khí CO
2
khổng lồ.
Hàng năm có tới 18 tỷ tấn CO
2
bay vào khí quyển. Lượng CO
2
gần bề mặt trái đất và tập trung thành một lớp dầy ở độ cao từ 16 - 40 km phụ thuộc
vào vĩ độ khác nhau. Vấn đề lỗ thủng tầng ozon do ô nhiễm môi trường là mối lo
ngại của nhân loại. Do môi trường bị ô nhiễm bởi các chất clorofluorocarbon
(CFC), tetraclorocarbon (CCl
4
) cloroform (CHCl
3
) vv Các chất này được sử dụng
rộng rãi trong thiết bị lạnh, dưới tác dụng của các tia cực tím các chất này sẽ xúc tác
cho quá trình phân huỷ ozon thành O
2
.
Cl + O
3
→ ClO + O
3
ClO + O
3
→ 2O
2
+ Cl
Cứ một phân tử clo phân huỷ 100 ngàn phân tử ozon. CFC tồn lưu trong khí
quyển hàng 75 - 100 năm, ngoài ra oxyd nitơ (NO) cũng phân huỷ ozon
NO + O
3
→ NO
2
+ O
2
Do đó lượng O
được công bố ngày 26/9/2012 tại Giơnevơ, Thụy Sĩ, về thông số chất lượng không
khí tại nhiều quốc gia trên thế giới, cho rằng ô nhiễm không khí trên thế giới đã ở
mức nguy hại đối với sức khỏe con người.
(Nghiên cứu này thu thập các mẫu không khí của gần 1100 thành phố tại 91
quốc gia trên thế giới, trong đó có các thủ đô và các thành phố có số dân trên
100.000 người.)