Cơ sở địa lý phục vụ tổ chức không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường thành phố cửa khẩu Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trần Thị Tuyết CƠ SỞ ĐỊA LÝ PHỤC VỤ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG
THÀNH PHỐ CỬA KHẨU MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

Hà Nội, 2014

1. GS.TS. Nguyễn Cao Huần
2. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Khánh HÀ NỘI, 2015

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các nội dung nghiên
cứu và kết quả trong luận án này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trƣớc đây. Các số liệu của các tác giả khác đã đƣợc trích
dẫn rõ ràng trong Luận án.
Tác giả luận án Trần Thị Tuyết

3

LỜI CẢM ƠN
Luận án đƣợc hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trƣờng Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học
Quốc gia Hà Nội, dƣới sự hƣớng dẫn khoa học nghiêm túc, chu đáo và tận tình của GS.TS.
4

MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH 10
MỞ ĐẦU 11
1. Tính cấp thiết 11
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12
3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 12
4. Những điểm mới của luận án 13
5. Luận điểm bảo vệ 13
6. Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài 13
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14
8. Cấu trúc của đề tài 14
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 15
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lý theo tiếp cận cảnh quan cho sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng 15
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về tổ chức không gian phát triển kinh tế và bảo
vệ môi trƣờng 21
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về Móng Cái có liên quan đến đề tài 29
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO HOẠCH ĐỊNH KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 32
1.2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến luận án 32
1.2.2. Hƣớng nghiên cứu cảnh quan trong định hƣớng không gian phát triển kinh
tế và bảo vệ môi trƣờng 36
1.3. QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 37
1.3.1. Các quan điểm nghiên cứu 37

3.1.5. Phân tích tiềm năng không gian của cảnh quan cho phát triển đô thị và đô
thị cửa khẩu 120
3.2. PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ NGUỒN LỰC KINH TẾ - XÃ HỘI 124
3.2.1. Phân tích thực trạng nguồn lực xã hội 124
3.2.2. Phân tích nguồn lực phát triển kinh tế 126
3.2.3. Ứng dụng chỉ số chuyên môn hoá cho đánh giá hiện trạng và tiềm năng các
ngành kinh tế 130
3.2.4. Tác động của kinh tế cửa khẩu đến sự phát triển đô thị thành phố Móng
Cái 131
3.3. VẤN ĐỀ MÔI TRƢỜNG VÀ TAI BIẾN THIÊN NHIÊN 133
3.3.1. Vấn đề môi trƣờng 134
3.3.2. Tai biến thiên nhiên 138
3.4. HOẠCH ĐỊNH KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ, SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI
NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TP MÓNG CÁI 141
3.4.1. Cơ sở hoạch định không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng 141
3.4.2. Phân tích tổng hợp các kết quả đánh giá cảnh quan cho hoạch định không
gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng thành phố Móng Cái 145
3.4.3. Phân tích các quy hoạch phát triển có liên quan 146
3.4.4. Phân tích xu thế biển đổi kinh tế và môi trƣờng thành phố Móng Cái đến
năm 2020 132

6

3.4.5. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
trƣờng thành phố Móng Cái 139
3.4.6. Hoạch định không gian phát triển kinh tế với sử dụng hợp lý tài nguyên và
bảo vệ môi trƣờng 141
KẾT LUẬN 156
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 158
TÀI LIỆU THAM KHẢO 159

TP
Thành phố
8
TTBCY
Trầm tích biến chất yếu
9
TTRC
Trầm tích rắn chắc

8

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các ƣu tiên trong tổ chức lãnh thổ tại một số quốc gia 23
Bảng 1.2. So sánh các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ 29
ở các quy mô khác nhau 29
Bảng 1.3. Ví dụ về phƣơng pháp xác định trọng số bằng ma trận tam giác đối với
loại hình sản xuất xác định 40
Bảng 2.1. Tổng hợp các dạng địa hình 50
Bảng 2.2. Nhiệt độ trung bình tháng tại Móng Cái (
o
C) 52
Bảng 2.3. Mực nƣớc thủy triều ứng với các tần suất (đo tại trạm Cửa Ông) 53
Bảng 2.4. Diện tích các loại đất chính tại Móng Cái 54
Bảng 2.5. Diện tích các quần hệ thực vật tại Móng Cái 56
Bảng 2.6. Diện tích đất rừng theo các xã, phƣờng 60
Bảng 2.7. Biến động sử dụng đất thành phố Móng Cái giai đoạn 2005 -2013
(phần đất liền và đảo) 61
Bảng 2.8. Hệ thống phân loại cảnh quan thành phố Móng Cái 67
Bảng 2.9. Diện tích các phụ lớp cảnh quan thuộc lớp cảnh quan núi 71
Bảng 2.10. Đặc điểm và chức năng các phụ lớp cảnh quan 77

cảnh quan bãi biển cho du lịch tắm biển 118
Bảng 3.13. Kết quả phân tích, đánh giá cảnh quan cho 119
phát triển du lịch tắm biển 119
Bảng 3.14. Sức chứa của các bãi biển thuộc khu vực Móng Cái 120
Khả năng đáp ứng 120
Bảng 3.15. So sánh các tiêu chí phát triển đô thị cửa khẩu và khả năng đáp ứng 122
Bảng 3.16. So sách các tiêu chí phát triển đô thị và khả năng đáp ứng của 124
khu vực đồng bằng ven biển và các thị tứ Móng Cái 124
Bảng 3.17. Diễn biến lao động trong một số khu vực kinh tế chính 125
Bảng 3.18. Cơ cấu kinh tế Móng Cái giai đoạn 2005-2012 (%) 127
Bảng 3.19. Một số chỉ tiêu khu vực dịch vụ 127
Bảng 3.20. Một số chỉ tiêu công nghiệp từ 2005-2012 128
Bảng 3.21. Một số chỉ tiêu về sản xuất trong khu vực nông- lâm nghiệp 128
và thủy sản (theo giá cố định 1994) 128
Bảng 3.22 . Đặc điểm kinh tế xã hội trong các tiểu vùng cảnh quan 133
Bảng 3.23. Xu hƣớng biến đổi khí hậu ở Móng Cái 139
Bảng 3.24. Các vấn đề môi trƣờng và tai biến thiên nhiên trong các TVCQ. 140
Bảng 3.25. So sánh phân tích tổng hợp các dữ liệu nghiên cứu cho hoạch định không
gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng thành phố Móng Cái 149
Bảng 3.26. Dự báo quy mô dân số 132
Bảng 3.27. Chỉ tiêu môi trƣờng đối với tiêu chuẩn đô thị loại II 133
Bảng 3.28. Cơ cấu kinh tế đến năm 2020 của thành phố Móng Cái 133
Bảng 3.29. Biến đổi sử dụng đất thành phố Móng Cái 134
Bảng 3.30. Dự báo gia tăng nƣớc thải thành phố Móng Cái đến năm 2020 135
Bảng 3.31. Đánh giá tác động của các nhân tố tới môi trƣờng nƣớc thành phố Móng
Cái 136
Bảng 3.32 Đánh giá tác động của các nhân tố đến môi trƣờng không khí 137
Bảng 3.33. Dự báo khối lƣợng chất thải rắn của các ngành kinh tế 138
Bảng 3.34. Khung hoạch định không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên
và bảo vệ môi trƣờng 142

Hình 3.7. So sánh chỉ số chuyên môn hóa (LQ) ngành công nghiệp của thành phố Móng
Cái và tỉnh Quảng Ninh 130
Hình 3.8. So sánh chỉ số chuyên môn hóa ngành nông nghiệp của thành phố Móng Cái
và tỉnh Quảng Ninh 131
Hình 3.9. Sự biến động nồng độ bụi qua các năm quan trắc (2008-2011) 136
Hình 3.10. Sơ đồ vai trò của Quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt – Trung trong tổ
chức không gian kinh tế xã hội Móng Cái. 146
Hình 3.11. Sơ đồ vai trò của vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ trong tổ chức không
gian kinh tế xã hội Móng Cái. 147
Hình 3.12. Sơ đồ định hƣớng tổ chức không gian phát triển và BVMT Móng Cái trong
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh 148
Hình 3.13. Sơ đồ khung định hƣớng không gian phát triển kinh tế và BVMT 142
Hình 3.14. Bản đồ không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trƣờng thành phố Móng
Cái tỉnh Quảng Ninh 155

11 MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hoạch định không gian phát triển kinh tế gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trƣờng là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lƣợc phát triển bền
vững của đất nƣớc.
Nghiên cứu địa lý theo tiếp cận cảnh quan học là một trong những hƣớng quan
trọng của khoa học địa lý xuất phát từ những vấn đề thực tiễn. Hƣớng nghiên cứu này
cho phép xác định các đặc điểm và tính đặc thù trong sự phân hóa cảnh quan theo kiểu
và theo vùng, trong đó mỗi đơn vị cảnh quan chứa đựng những đặc điểm riêng về tiềm
năng sinh thái và tiềm năng không gian. Đây chính là một trong những căn cứ khoa
học của địa lý học cho xác định các không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ

2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lý theo tiếp cận cảnh quan học và địa lý kinh tế cho
định hƣớng không gian phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi
trƣờng trong nông nghiệp, du lịch và đô thị cửa khẩu của thành phố Móng Cái, tỉnh
Quảng Ninh theo hƣớng bền vững.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ thực hiện các nội dung khoa học sau:
- Nghiên cứu xác lập cơ sở lý luận về cơ sở địa lý theo tiếp cận cảnh quan học,
địa lý kinh tế và phƣơng pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm và sự phân hoá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên và cảnh quan - nguồn lực tự nhiên (tiềm năng sinh thái và tiềm năng không gian)
cho hoạch định không gian phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên.
- Phân tích, đánh giá cảnh quan cho định hƣớng không gian phát triển nông, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch và phát triển đô thị cửa khẩu thành phố Móng Cái.
- Phân tích các điều kiện kinh tế - xã hội, các quy hoạch có liên quan.
- Phân tích các vấn đề môi trƣờng và các mâu thuẫn nảy sinh giữa phát triển kinh
tế với sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng làm căn cứ lồng ghép hoạch định
không gian phát triển kinh tế với bảo vệ môi trƣờng.
- Hoạch định các không gian ƣu tiên phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và
bảo vệ môi trƣờng trong nông, lâm, ngƣ nghiệp, du lịch và phát triển đô thị Móng Cái.
3. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi không gian
Lãnh thổ nghiên cứu của luận án là thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh với
diện tích tự nhiên phần đất liền và đảo là 518,4km
2
và ranh giới trên biển bao gồm
diện tích tự nhiên của các xã, phƣờng ven biển theo địa giới đã xác định trên bản đồ
địa hình tỷ lệ 1:50. 000 (2004) của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng và bản đồ hành chính
thành phố Móng Cái năm 2010.

các cảnh quan, các điều kiện kinh tế - xã hội và môi trƣờng thành phố Móng Cái là
những căn cứ địa lý tổng hợp mang tính khoa học và trên cơ sở đó các không gian ƣu
tiên phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng đƣợc hoạch định,
đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan.
6. CƠ SỞ TÀI LIỆU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Luận án đƣợc thực hiện dựa trên các nguồn dữ liệu chính sau:
+ Các bản đồ địa hình thành phố Móng Cái tỷ lệ 1:50 000 và các bản đồ thành
phần chính gồm: thổ nhƣỡng, địa chất, địa mạo, bản đồ hiện trạng sử dụng đất đƣợc
thu thập từ nhiều nguồn khác nhau.
+ Các công trình khoa học mang tính lý luận về đánh giá tổng hợp các điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội phục vụ cho phát triển bền vững tỉnh Quảng Ninh và thành
phố Móng Cái (trong đó có đề tài Nafosted 105.07-2013.19). Các đề tài khoa học,
luận án và các công trình nghiên cứu khác có liên quan, bổ sung kiến thức lý luận và
thực tiễn cho đề tài.
+ Số liệu, văn bản, báo cáo kinh tế - xã hội, niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh,
thành phố Móng Cái và các nghiên cứu đã đƣợc công bố trong giai đoạn 2000 - 2013.

14

+ Kết quả nghiên cứu và điều tra thực địa tại thành phố Móng Cái của tác giả
trong thời gian thực hiện luận án: Thực hiện đề tài cấp Viện: Nghiên cứu hiện trạng
môi trƣờng và đề xuất các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trƣờng khu kinh tế cửa khẩu
Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; tham gia đề tài Nafosted 105.07-2013.19 .
7. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ nội dung nghiên cứu cơ sở địa lý theo tiếp
cận cảnh quan học và địa lý kinh tế cho định hƣớng không gian phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trƣờng cho lãnh thổ vừa có đất liền, vừa có biển đảo.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quy

tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhƣ nguồn lực tự nhiên. Địa lý kinh tế - xã hội
nghiên cứu các điều kiện kinh tế và tài nguyên nhân văn nhƣ nguồn lực kinh tế - xã hội
cho tổ chức lãnh thổ. Bản đồ học là khoa học thể hiện sự phân bố trong không gian,
mối quan hệ và sự biến đổi của các đối tƣợng bằng các mô hình kí hiệu, các hình biểu
thị thực tại dƣới hình thức trực quan và khái quát hóa (Từ điển Bách khoa Địa lý,
1988) [75].
Cảnh quan học là một chuyên ngành khoa học tổng hợp trong nhóm ngành các
khoa học địa lý tự nhiên mà đối tƣợng nghiên cứu là các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên
khác nhau, cùng với phân vùng địa lý tự nhiên đã có một vai trò quan trọng trong định
hƣớng tổ chức không gian và định hƣớng sử dụng hợp lý, bảo vệ môi trƣờng và cải tạo
lãnh thổ trong phát triển kinh tế - xã hội (A.G. Ixatrenko, 1991 [36]).
Là một hƣớng nghiên cứu quan trọng trong hệ thống các khoa học địa lý, cảnh
quan đã trải qua các giai đoạn phát triển gắn liền với mục đích khai thác sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Trên

16

cơ sở tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố của các nhà khoa
học Nga, Đức, Ba Lan và các nƣớc Tây Âu, Bắc Mỹ, cho thấy:
- Các nhà khoa học Nga và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nghiên cứu
cảnh quan theo hƣớng khoa học địa lý tự nhiên và là cơ sở cho các công trình phân
vùng địa lý tự nhiên phục vụ thực tiễn sản xuất nhằm đáp ứng cho công cuộc quy
hoạch phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa Xô Viết, đặc biệt là sản xuất nông – lâm
nghiệp.
Điều này, đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu đã công bố, trình bày về
cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu thông qua các nghiên cứu thực địa tại các
vùng cụ thể và đƣợc khái quát hóa thành cơ sở học thuyết cảnh quan của các nhà khoa
học, nhƣ: V.V. Docutraev (1846-1903), L.S. Becgơ (1876-1950), A.G. Ixatrenko
(1969), X.V. Kalexnik (1973),…
Theo các tác giả, nghiên cứu cảnh quan với lợi thế tiếp cận hệ thống thông qua

đƣợc sử dụng trong phân vùng và phân loại cảnh quan ở bất kỳ lãnh thổ nào, không có
giới hạn về không gian, không có trật tự phân cấp lôgic của các cấp cảnh quan. Quan
niệm này đƣợc sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học và đời sống khác nhau.
+ Cảnh quan là đối tượng, là tư liệu sản xuất – cảnh quan nhân sinh:
Cảnh quan chính bản thân nó là đối tƣợng, là tƣ liệu sản xuất hay là hệ sinh thái
nhân sinh, mà trong đó con ngƣời là chỉnh thể; còn các bộ phận khác là đối tƣợng quan
tâm của con ngƣời (cho nhu cầu con ngƣời). Trong quá trình hoạt động kinh tế, con
ngƣời tác động vào cảnh quan tự nhiên và làm biến đổi chúng, cảnh quan bị biến đổi
do hoạt động phát triển và bảo tồn của con ngƣời gọi là cảnh quan nhân sinh.
Theo F.N.Minkov (1973), “Cảnh quan nhân sinh là các cảnh quan được xây
dựng bởi con người và cũng là các cảnh quan tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một
thành phần nào bị thay đổi tận gốc do ảnh hưởng của con người” (dẫn theo Nguyễn
Cao Huần, Trần Anh Tuấn, 2002) [30].
Theo Drozdov K.A (1988), “Cảnh quan nhân sinh là các địa tổng thể, trong đó
có sự biến dạng nảy sinh liên quan đến sự xuất hiện của hoạt động con người”. Cùng
ý niệm với ông, Ixatrenco A.G (1965,1991) cho rằng: “Cảnh quan nhân sinh chỉ là sự
biến dạng khác nhau của cảnh quan tự nhiên do hoạt động của con người”. Các cảnh
quan này đƣợc xếp vào các bậc khác nhau trong phân loại cảnh quan theo mức độ biến
đổi (dẫn theo D.L. Armand, 1983)[6].
Có thể thấy, các tác giả đều đề cập tới những biến đổi của cảnh quan do tác
động của con ngƣời, đặc biệt là tới cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan. Dƣới
phƣơng diện nghiên cứu cảnh quan bị biến đổi hoặc đƣợc bảo tồn bởi con ngƣời khái
niệm cảnh quan nhân sinh ở đây vừa đƣợc hiểu theo nghĩa chung (nhƣ một địa tổng
thể - một địa hệ) và vừa hiểu theo nghĩa loại hình (các đơn vị kiểu, loại, ).
- Các nhà khoa học tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, quan niệm về cảnh quan
thiên về hƣớng nghiên cứu ứng dụng và gắn với điều kiện xã hội – nhân văn, điều kiện
văn hóa của từng địa phƣơng, từng khu vực, theo hƣớng thống nhất giữa tự nhiên –
kinh tế xã hội để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội. Các công trình nghiên
cứu đã chú ý đến giao diện giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt cảnh quan văn hóa có
thể đƣợc trẻ hóa hoặc hình thành cảnh quan văn hóa mới có cấu trúc khác trƣớc. Theo

hệ tƣơng hỗ giữa chúng nhằm tạo ra sản phẩm có tính chất mới mà các thành phần
riêng lẻ không có đƣợc.
- Cảnh quan là đối tượng, là tư liệu sản xuất và luôn bị tác động, bị biến đổi bởi
hoạt động ở mức độ mạnh yếu khác nhau của con ngƣời.
* Đánh giá cảnh quan
Đánh giá cảnh quan là một nhiệm vụ quan trọng của cảnh quan ứng dụng nhằm
xác định chất lƣợng hoặc giá trị của cảnh quan đối với loại hình sử dụng lãnh thổ nhất
định. Hƣớng nghiên cứu này đã đƣợc xem xét từ những năm 70 của thế kỷ XX theo
CẢNH QUAN
VĂN HÓA
KÕt qu¶

19

nhiều khía cạnh khác nhau. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý
Liên Xô, Anh, Mỹ…
Ở Liên Xô, các công trình đánh giá cảnh quan đƣợc thực hiện nhằm tìm kiếm
hƣớng giải quyết cho việc xây dựng một địa tổng thể phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Điển hình nhƣ: L.I. Mukhina (1973), đã đƣa ra nguyên tắc, phƣơng pháp và quy trình
đánh giá tổng hợp thể tự nhiên phục vụ các mục đích thực tiễn. Ngoài ra, còn có một
số mô hình đánh giá tổng hợp cho các vùng lãnh thổ khác nhau nhƣ mô hình đánh giá
kinh tế - xã hội của Kunhixki (1973), mô hình đánh giá tổng hợp các điều kiện tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên cộng hòa Ucraina của Marinhich A.M (1976),… Mặc dù
các công trình này đã có hiệu quả cao, ứng dụng thực tế, tuy nhiên nó chỉ mới dừng lại
ở bƣớc đánh giá mức độ thuận lợi của các cảnh quan đối với các loại hình sử dụng
khai thác cảnh quan phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Tại Anh, đánh giá cảnh quan đƣợc sử dụng nhằm tạo ra tính khách quan trong
nghiên cứu khu vực. Theo Appleton, 1975 [121]: Đánh giá cảnh quan nên sử dụng
phƣơng pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp với sự đánh giá của các chuyên gia. Tiếp nối
các phƣơng pháp đánh giá cảnh quan trƣớc đó, nhiều kỹ thuật đánh giá cảnh quan

nh quan đã đƣơ
̣
c áp dụng khá sớm cả về mặt lý
thuyết lẫn trong thực tiễn nghiên cứu địa lý.

20

Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều nhà địa lý Việt Nam tiếp nhận các
thành tựu nghiên cứu của Liên Xô (cũ), cho rằng: các thể tổng hợp lãnh thổ là đối
tƣợng nghiên cứu của cảnh quan học. Kết quả nghiên cứu cảnh quan đƣợc xem nhƣ cơ
sở khoa học đáng tin cậy của công tác bảo vệ và cải tạo tự nhiên hƣớng tới mục tiêu
phát triển bền vững, đặc biệt trong nghiên cứu và xây dựng các mô hình hệ kinh tế
sinh thái (Vũ Tự Lập,1976 [39], 2003 [41]; Phạm Hoàng Hải và nnk, 1997 [22]) .
Trong đó, Vũ Tự Lập và Lê Bá Thảo là các nhà khoa học tiên phong. Vũ Tự
Lập, cho rằng: Tổng hợp thể địa lý tự nhiên hay địa tổng thể là đối tƣợng nghiên cứu
của cảnh quan học nhằm tìm ra các mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần vật
chất và năng lƣợng cấu tạo nên mỗi một địa tổng thể và cả những mối quan hệ biện
chứng giữa các địa tổng thể với nhau, từ đó đề ra phƣơng hƣớng sử dụng, bảo vệ và
cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân (Vũ Tự Lập,
1976, tr.9) [39]. Năm 2003, trong cuốn "Địa lý tự nhiên Việt Nam" ông đã tái khẳng
định quan điểm: các thể tổng hợp địa lý tự nhiên lớn nhỏ, hay còn gọi là các địa hệ -
sinh thái là đối tƣợng nghiên cứu của cảnh quan học, nhằm phát triển kinh tế bền
vững, không hủy hoại và làm ô nhiễm môi trƣờng tự nhiên, còn gọi là kinh tế - sinh
thái (Vũ Tự Lập, 2003, tr.5) [41]. Theo ông, để bảo vệ và cải tạo tự nhiên cần thiết
phải dựa trên các cơ sở khoa học đã đƣợc nhân loại đúc kết, nhƣ: cơ sở địa- sinh thái,
cơ sở kinh tế- sinh thái coi chúng nhƣ căn cứ khoa học cho mọi tìm tòi, mọi hành
động, thì công tác bảo vệ và cải tạo tự nhiên sẽ có hiệu quả.
Các công trình nghiên cứu cảnh quan đã xác định vai trò của các hợp phần tự
nhiên nhƣ địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật và con ngƣời với các hoạt
động khai thác và sử dụng tài nguyên (Vũ Tự Lập, 1976 [39]; Phạm Hoàng Hải, 1997

̉

và bảo vệ môi trƣờng (Phạm Quang Anh, 1996, 2002; Nguyê
̃
n Cao Huần , 2002, 2004,
2005; Phạm Quang Tuấn, 2003; Hoàng Danh Sơn, 2007).
Quan điểm cảnh quan cũng đã đƣợc các nhà khoa học ứng dụng trong một số
nghiên cứu gần đây ở tỉnh Quảng Ninh nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ công
tác quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng, nhƣ: “Nghiên cứu lập quy
hoạch bảo vệ môi trƣờng thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” (Nguyễn Cao Huần, Hoàng

21

Danh Sơn và nnk 2004, 2006), “Quy hoạch bảo vệ môi trƣờng tổng thể và một số vùng
trọng điểm tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020” (Nguyễn Cao Huần, 2010) [33]; v.v…
Qua các công trình nghiên cứu đƣợc phân tích trên đây, có thể thấy cảnh quan
được xem như một dạng tài nguyên không gian, chứa đựng các nguồn tài nguyên khác
(đất, nƣớc, sinh vật,…), chức năng của các tài nguyên cụ thể gọi là quỹ sinh thái. Tài
nguyên không gian không chỉ là diện tích của đất đai, biển đảo và khối lƣợng khoảng
không tƣơng ứng, mà cái chính là các giá trị của chúng có ích cho việc xây dựng công
trình và triển khai các hoạt động sản xuất và đời sống của con ngƣời (Nguyễn Cao
Huần, 2005) [28].
* Về phương pháp đánh giá cảnh quan
Các nhà địa lý Việt Nam kế thừa và tiếp thu lý luận về cảnh quan của các nƣớc
trên thế giới và áp dụng vào thực tiễn từ nhiều năm. Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng
chủ yếu: phƣơng pháp đánh giá đất đai FAO (Trần An Phong, 1995), phƣơng pháp
phân tích nhân tố (Đặng Mai, 1991; Nguyễn Viết Thịnh, 2002; Nguyễn Cao Huần,
Nguyễn An Thịnh, 2005), hệ thống đánh giá đất đai tự động (ALES) và ứng dụng Hệ
thông tin Địa lý trong nghiên cứu cảnh quan (Nguyễn An Thịnh, 2007).
Những công trình kể trên thực sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với đề tài luận

vào thực tiễn tại các nƣớc châu Âu. Từ đó đến nay, quan niệm này đƣợc nhiều nhà
khoa học trên thế giới nghiên cứu và sử dụng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thế
giới đang có những thay đổi mạnh mẽ, đòi hỏi công tác tổ chức lãnh thổ hợp lý cho
phát triển ngày càng cấp thiết. Trong đó, các vấn đề về tự nhiên, kinh tế, xã hội và bảo
vệ môi trƣờng luôn gắn kết mật thiết với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế lĩnh vực này,
cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước phương Tây, các nhà khoa học tiếp cận vấn đề theo hƣớng tổ chức
không gian và đƣợc xem nhƣ là nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có
hiệu quả (J.Gaudermar, 1992) [105]. Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là tìm
kiếm các giải pháp bố trí không gian sử dụng lãnh thổ hợp lý nhất thông qua các mối
quan hệ phát triển kinh tế - xã hội và các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lãnh thổ
và giữa các lãnh thổ ở các mức độ khác nhau.
Trong số các nƣớc phƣơng Tây, Anh là nƣớc đi đầu trong nghiên cứu tổ chức
lãnh thổ, từ năm 1947 đã quy định các điều kiện ràng buộc trong nhiệm vụ tổ chức
lãnh thổ với việc ƣu tiên: Xác định tỷ lệ bố trí hợp lý giữa công nghiệp và khu dân cƣ,
đặc biệt là hệ thống giao thông để sử dụng tối đa những phƣơng tiện hiện có và bảo
đảm sử dụng có hiệu quả nhất những nguồn tài nguyên, cải thiện và mở rộng các hệ
thống dịch vụ để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của các điểm dân cƣ, phân bố
đất đai phi nông nghiệp để có thể sử dụng tối ƣu tài nguyên thiên nhiên (Hoàng Nhƣ
Tiếp, 1978)[71]. Theo Peter Hall (1992) [116], tổ chức lãnh thổ là một hoạt động tạo
ra một chuỗi hành động có trình tự, dẫn đến việc đạt một hay nhiều mục tiêu đề ra trên
cơ sở các dự báo thống kê, các quan hệ tƣơng tác và các đánh giá định lƣợng.
Các nhà địa lý Pháp ƣu tiên khắc phục tình trạng phân bố kinh tế và nhân khẩu không
đồng đều giữa các vùng. Theo đó, tổ chức vùng lãnh thổ là việc sắp xếp trên mặt đất những
cơ sở hoạt động của con ngƣời, sao cho vừa đảm bảo cải thiện và tăng cƣờng hệ thống sản
xuất, vừa đảm bảo tổ chức môi trƣờng cho con ngƣời có điều kiện sống đầy đủ và xứng
đáng (Le Corbusier – Hội nghị về kiến trúc hiện đại lần thứ IV, 1933).
Theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Liên Xô (cũ) trƣớc đây thì tổ chức
lãnh thổ kinh tế - xã hội là sự sắp xếp, bố trí (phân bố) và phối hợp các đối tƣợng gây
ảnh hƣởng lẫn nhau, có liên hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và

Bảng 1.1. Các ƣu tiên trong tổ chức lãnh thổ tại một số quốc gia
Quốc gia
Ƣu tiên
Anh
Xác định tỷ lệ bố trí hợp lý giữa công nghiệp và khu dân cƣ, đặc biệt
là hệ thống giao thông để sử dụng tối đa những phƣơng tiện hiện có
và bảo đảm sử dụng có hiệu quả nhất những nguồn tài nguyên
Pháp
Ƣu tiên khắc phục tình trạng phân bố kinh tế và nhân khẩu không
đồng đều giữa các vùng
Đức, Thụy Sĩ
Ƣu tiên các vùng kém phát triển
Nga
Yêu cầu xác định các vấn đề và triển vọng của việc phát triển không
gian theo từng giai đoạn và tích hợp không gian liên bang Nga với
không gian thế giới; xác định các biện pháp giảm sự chênh lệch vùng
Hàn Quốc
Kết hợp chính sách đô thị hoá và phát triển nông thôn hài hoà
Nguồn: tổng hợp từ các tài liệu tham khảo số [20, 42, 66,71,101,103,116]

24

Ý nghĩa thực tiễn của tổ chức lãnh thổ đã đƣợc nhấn mạnh trong Hội nghị về quy
hoạch vùng do Liên Hợp quốc tổ chức năm 1958 tại Tokyo và khẳng định tại Hội nghị
các Bộ trƣởng quy hoạch vùng ở Bari (1976): Tổ chức lãnh thổ là biện pháp trọng yếu
giúp cho đất nƣớc phát triển toàn diện, là việc phân bố các nguồn dự trữ của quốc gia
để đạt hiệu quả xã hội và kinh tế ở mức tối đa. Công tác tổ chức lãnh thổ cho phép
(Hoàng Nhƣ Tiếp, 1978 [71]; (Council of Europe, 1979) [106]):
- Phân chia các lãnh thổ lớn thành các đơn vị nhỏ hơn với chức năng khác nhau;
- Xác định mối quan hệ qua lại của các đơn vị trong vùng và giữa các vùng;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status