Chi trả dịch vụ môi trường rừng và sinh kế cộng đồng trường hợp nghiên cứu tại xã chiềng cọ, thành phố sơn la, tỉnh sơn la - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG LÊ TRỌNG TOÁN

CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG VÀ SINH KẾ
CỘNG ĐỒNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI XÃ
CHIỀNG CỌ, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG


Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGHIÊM THỊ PHƯƠNG TUYẾN Hà Nội – Năm 2014
i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt nghiệp này, trước hết tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hướng dẫn tận tình, truyền đạt kiến thức,
những góp ý và hỗ trợ quý giá của các thầy, cô giáo, ban lãnh đạo cùng các đồng
nghiệp trong Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia
Hà Nội. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Quỹ Học Bổng Nagao đã hỗ trợ kinh phí,
các thành viên trong Ban Quản lý Dự án “Nghiên cứu và nâng cao năng lực về

iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii

MỞ ĐẦU…… 1

1. Tính cấp thiết của đề tài 1

2. Mục tiêu của nghiên cứu 4

3. Câu hỏi nghiên cứu 4



1.2.1.

Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường 14

1.2.2. Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền 15

1.2.3. Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng 15

1.2.4. Sự sẵn lòng chi trả 16

1.3. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 17

1.3.1.

Trên thế giới 17

iv

1.3.2.

Tại Việt Nam 18

1.3.3.

Tại khu vực nghiên cứu 21

CHƯƠNG II: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23


3.2. Tác động của PFES lên các nguồn lực sinh kế cộng đồng 57

3.2.1. Tác động đến nguồn lực con người 57

3.2.2. Tác động đến nguồn lực tự nhiên 59

3.2.3. Tác động đến nguồn lực tài sản, vật chất 61

3.2.4. Tác động tới nguồn lực tài chính 62

3.2.5. Tác động đến nguồn lực xã hội 64

3.3. Đánh giá chung tác động đến năm nguồn lực 65

3.4. Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển sinh kế bền vững 67

3.4.1. Cơ sở pháp lý 68

3.4.2. Cơ cấu tổ chức 68

v

3.4.3. Sinh kế bền vững 68

3.4.4. Năng lực của cán bộ 70

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70

Khuyến nghị 71


Bảng 2.3. Một số thông tin về bản Ót Nọi và bản Dầu, xã Chiềng Cọ 27

Bảng 2.4. Thông tin cơ bản về đói nghèo hai bản nghiên cứu 28

Bảng 2.5. Cơ cấu sử dụng đất tại hai bản 30

Bảng 3.1. Doanh thu của dự án PFES từ năm 2009-2013 55

Bảng 3.2. Mức tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Chiềng Cọ 56

Bảng 3.3. Tác động của chính sách PFES đến nguồn lực con người 58

Bảng 3.4. Các mức tác động của chính sách PFES đến nguồn lực tự nhiên 60

Bảng 3.5. Các mức tác động của chính sách PFES đến nguồn lực tài sản vật chất 61

Bảng 3.6. Các mức tác động đến nguồn lực tài chính trong cộng đồng 63

Bảng 3.7. Các mức tác động của chính sách PFES đến nguồn lực xã hội 64

Bảng 3.8. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của chính sách PFES đến các nguồn lực sinh
kế của cộng đồng 66
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người trong việc
duy trì môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Rừng không chỉ cung cấp nguyên liệu như gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ, mà còn có các
lợi ích trong việc duy trì và bảo vệ môi trường, đó là điều hòa khí hậu, hạn chế xói
mòn và bồi lắng, bảo vệ bờ biển, điều tiết nguồn nước và hạn chế lũ lụt. Hạn chế
biến đổi khí hậu thông qua nguyên lý làm bồn chứa lưu trữ các bon, cắt giảm phát
thải khí nhà kính.
Các dịch vụ hệ sinh thái rừng có liên quan mật thiết với sinh kế người nghèo và tất

năm qua, diện tích rừng của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, từ 28,8% (năm
1998), lên 36,7% (năm 2004) và 39,7% (năm 2011) [Võ Quý, 2011; Bộ
NN&PTNT, 2012]. Năm 2013 cũng là năm ghi dấu ấn khi ngành lâm nghiệp triển
khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị
định số 99/2010/NĐ-CP tiếp tục được thực hiện trên quy mô cả nước và bước đầu
có hiệu quả tích cực đến công tác bảo vệ rừng. Ngành lâm nghiệp Việt Nam tiếp tục
nhận được sự hỗ trợ tài chính to lớn từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt cho việc thực
hiện sáng kiến Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và
suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và tăng cường trữ lượng
các-bon rừng (REDD+) và Tăng cường Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương
mại lâm sản (FLEGT) [Tô Xuân Phúc & Trần Hữu Nghị, 2014]
Giá trị sản xuất lâm nghiệp phát triển tương đối ổn định, tăng 6,04% so với năm
2012. Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản năm 2013 ước đạt 5,5 tỷ USD, tăng
25,1% so với kế hoạch, tăng 15,24% so với cùng kỳ năm 2012. Công tác quản lý
bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến tích cực trên tất cả các mặt: bảo vệ rừng, phòng
cháy, chữa cháy rừng, mua bán, vận chuyển và chế biến lâm sản, quản lý động vật
hoang dã và chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Số vụ vi phạm và diện tích rừng bị
thiệt hại đều giảm so với năm 2012 [Bộ NN&PTNT, 2014]. 3

Kết quả trên đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp và
phát triển nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống của cư
dân nông thôn, nhất là những người làm nghề rừng. Mặc dù vậy, sự hưởng lợi của
cộng đồng còn rất mong manh, thiếu bền vững, vì từ trước tới giờ chưa có cơ chế bù
đắp xứng đáng cho bên thực hiện bảo vệ và nâng cao chất lượng các dịch vụ hệ sinh
thái, ảnh hưởng đến ý thức và trách nhiệm của người bảo vệ và phát triển rừng.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường (payment for environment services – PES) ra

các nguồn lực sinh kế của các địa phương, nhận thức của cộng đồng trong việc bảo
vệ tài nguyên rừng, thay đổi nguồn vốn đất đai tự nhiên, tài nguyên rừng, tài sản
chung cộng đồng và các vấn đề kinh tế, xã hội khác.
Đề tài “Chi trả dịch vụ môi trường rừng và sinh kế cộng đồng: Trường hợp
nghiên cứu tại xã Chiềng Cọ, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La” được đề xuất
nhằm tìm hiểu hiện trạng thực hiện chính sách PFES và tác động của nó đến sinh kế
cộng đồng tại Sơn La để góp phần bổ sung thêm cơ sở thực tiễn hỗ trợ cho việc
hoàn thiện chính sách PFES.
2. Mục tiêu của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu hiện trạng thực hiện PFES và các tác động của PFES đến
sinh kế cộng đồng.
Mục tiêu cụ thể
1. Tìm hiểu hiện trạng thực hiện chính sách PFES tại Sơn La;
2. Tìm hiểu tác động của PFES tới 5 nguồn lực sinh kế cộng đồng tại xã Chiềng
Cọ, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
3. Trên cơ sở tìm hiểu tác động của chính sách PFES đến sinh kế của cộng đồng
địa phương, đề xuất một số giải pháp cải thiện việc thực thi PFES hiệu quả
hơn, nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện chính sách.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Chính sách PFES tại Sơn La được thực hiện như thế nào? 5

o PFES khác các chính sách quản lý rừng đã được thực hiện ở Sơn La như thế
nào?
o Hệ thống quản lý PFES có cơ cấu và chức năng như thế nào?
 Quỹ Bảo vệ rừng
 Ban quản lý và bảo vệ rừng các cấp.

điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cụ thể, nên sẽ có đóng góp cụ thể đến cải thiện
hoạt động thực hiện chính sách PFES tại địa phương.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chi trả dịch vụ môi trường và sinh kế cộng đồng
Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp. 7

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG VÀ
SINH KẾ CỘNG ĐỒNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Dịch vụ môi trường và chi trả dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường hay dịch vụ hệ sinh thái là
những

lợi

ích

trực

tiếp

hoặc

kỷ [
Millennium Ecosystem Assessment, 2005], h
ệ sinh thái được phân thành 4
nhóm chức năng, hay 4 loại dịch vụ của hệ sinh thái, với mục đích khác nhau về
kinh tế-xã hội, bao gồm:
- Dịch vụ sản xuất: thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồn gen, v.v…
- Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, điều tiết
nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh, v.v…
- Dịch vụ văn hóa: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch sinh thái,
lịch sử, khoa học và giáo dục, v.v…
- Dịch vụ hỗ trợ: cấu tạo đất, điều hòa dinh dưỡng, v.v…
Các loại dịch vụ này đã được hơn 300 nhà khoa học trên thế giới công nhận và đã
được đưa vào nghị quyết và thực hiện các hành động chi trả về tài chính để duy trì
các hệ sinh thái này. Với cơ chế chi trả này, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm
tiếp theo, đó là chi trả dịch vụ môi trường.
Chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường (payments for environmental services – PES) còn được
đề cập dưới các dạng khác nhau như chi trả dịch vụ sinh thái (payments for 8

ecological services) và chi trả dịch vụ hệ sinh thái (payments for ecosystem
services). Tuy có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng chúng có chung một số khái niệm:
Khái niệm đưa ra năm 2005: Chi trả dịch vụ môi trường là một giao dịch trên cơ sở
tự nguyện, mà ở đó dịch vụ môi trường được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử
dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu một
người mua) mua của người bán (tối thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung
cấp dịch vụ môi trường đảm bảo được việc cung cấp dịch vụ môi trường này
[Wunder, 2005].

Theo Điều 4, Chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng
Chính phủ, dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá
trị sử dụng của môi trường rừng, như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi
lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học, cung cấp bãi
đẻ…
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 và Khoản 2, Điều 4 trong Nghị định số
99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì dịch vụ môi trường
rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các
nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ:
- Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;
- Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;
- Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng
nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và
phát triển rừng bền vững;
- Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái
rừng, phục vụ cho dịch vụ du lịch;
- Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn
nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Trong đó, giá trị môi trường rừng được hiểu là giá trị mà rừng làm lợi cho môi
trường, do bản thân các khu rừng tạo ra, nhưng không chỉ được sử dụng bởi những
người quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, mà còn bởi toàn xã hội. Với việc xem xét
đến các dịch vụ môi trường rừng, các giá trị này được xem xét như một loại hàng 10

hóa công cộng, có thể do cả xã hội sử dụng, mà người làm rừng không quản lý và
điều tiết được quá trình khai thác và sử dụng chúng.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là một giao dịch tự nguyện đối với một loại

2009].
Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác được đưa ra trong một nghiên cứu gần đây
như: cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm
tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau, hay cộng đồng là
một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), hoặc cộng
đồng là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích
chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên [Nguyễn
Thị Hồng Mai, 2013].
Qua các khái niệm trên cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về cộng đồng.
Nghiên cứu này tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tài nguyên rừng, các đối tượng
tham gia cũng là các đối tượng có ảnh hưởng tới tài nguyên rừng, do vậy, tác giả sử
dụng khái niệm “cộng đồng thôn” được định nghĩa trong Luật Bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004 của Việt Nam.
Lâm nghiệp cộng đồng
Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) năm 1978 định nghĩa lâm nghiệp cộng đồng
là một phạm vi rộng các hoạt động gắn người dân địa phương với rừng, các sản
phẩm và lợi ích từ rừng [FAO, 1978]. Hoặc theo (FAO) năm 2000 lâm nghiệp cộng
đồng là những hoạt động không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng ở trang trại,
khu nhà ở hay ven đường, mà còn đề cập đến cả tập quán du canh, việc sử dụng và
quản lý rừng tự nhiên, việc cung cấp các sản phẩm lâm sản từ rừng tự nhiên, từ rừng
trồng hay nông lâm kết hợp. Lâm nghiệp cộng đồng cũng đề cập đến sự xác định
nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng các sản phẩm lâm nghiệp để
cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cải 12

thiện điều kiện sống cho người nghèo [dẫn trong Dương Viết Tình và Trần Hữu
Nghị, 2012].
Theo Arnold (1992), lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các

nguồn lực (vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn xã hội)
và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ thực thi, nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện
của họ [DFID, 2001].
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, tác giả sẽ vận dụng khái niệm sinh kế của
DFID để phân tích những thay đổi các nguồn lực sinh kế dưới tác động của chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại cộng đồng xã Chiềng Cọ, tỉnh Sơn La.
Khung sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát
triển vào những năm đầu 1990. Năm 1992, sinh kế bền vững được định nghĩa: sinh
kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu
nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ và tài sản vô hình,
như dư nợ và cơ hội. Theo định nghĩa này, sinh kế là bền vững khi nó bao gồm hoặc
mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu, mà nó phụ thuộc, và lợi ích ròng tác động
đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi
sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai [Chambers và
Conway, 1992].
Những ý kiến khác cho rằng, sinh kế là bền vững khi nó có khả năng ứng phó và
phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm
hiện tại và trong tương lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự
nhiên [Carney, 1998; Hanstad et al., 2004].
Khung sinh kế bền vững nhận định con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay
hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình, bao gồm: vốn
vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (social
capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital), là những 14

loại vốn đóng cả hai vai, đầu vào và đầu ra. Tiếp cận sinh kế bền vững cũng thừa

Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lý môi trường
trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
(polluter pays). Cơ chế này yêu cầu những người gây ra các tác động có hại đến môi
trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lại môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho
thấy, cơ chế này cũng có một số hạn chế nhất định vì người gây ô nhiễm thường
không muốn trả tiền hoặc không khắc phục các thiệt hại về môi trường [Lê Thị Kim
Oanh, 2010].
Khác với các cơ chế quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơ chế người gây
ô nhiễm phải trả tiền, mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ
dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó. Các nhà kinh tế đã tiến hành
nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để giữ gìn môi trường
thay vì bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra [Trần thu
Thủy, 2009].
Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá
rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các
khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu. Những người ở vùng hạ lưu
trước đây không phải trả tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường
rừng, thì nay họ sẽ chi trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng. Đây là một
cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng hóa và nếu nhận
được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên phải trả tiền để được sử dụng. Dựa trên cách
tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ môi trường rừng
sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn.
1.2.3. Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng:
- Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ môi
trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ
môi trường (người được chi trả).

Trích đoạn Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền Sự sẵn lòng chi trả Tác động đến nguồn lực xã hội Đánh giá chung tác động đến năm nguồn lực Sinh kế bền vững
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status