Chi trả dịch vụ môi trường – kinh nghiệm thế giới và áp dụng tại VN. - Pdf 12

Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính

LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu và đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển kinh tế ở Việt Nam. Tín dụng ngân hàng là công cụ
thúc đẩy các tổ chức tín dụng thu vốn tạm thời nhàn rỗi và cho các chủ thể
kinh tế cần thiết vay số vốn này. Nguồn vốn cho vay chủ yếu của tổ chức tín
dụng là vốn huy động (trong đó tiền gửi chiếm tỷ lệ đáng kể). Chính vì vậy
nhiệm vụ đầu tiên của tổ chức tín dụng là bảo vệ tiền gửi của khách hàng.
Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát (không thu hồi được) thì trước
tiên làm cho tổ chức tín dụng rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán
cho người gửi tiền. Do đó, tổ chức tín dụng phải luôn luôn thận trọng trong
việc cho vay nhằm giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Từ những thực tiễn thu được trong quá trình thực tập tại ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Hà Nội, em nhận thấy nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay
là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động cho vay. Chính vì vậy đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Hà Nội” đựơc chọn để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp.
Khóa luận tốt nghiệp bao gồm ba chương:
-Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động bảo đảm tiền vay của
NHTM
- Chương II: Thực trạng hoạt động bảo đảm tiền vay tại ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Hà Nội.
- Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội
Lê Thanh Ngọc 1 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM
TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Bảo đảm tiền vay trong hoạt động của ngân hàng thương mại

chặt chẽ, các tổ chức tín dụng còn áp dụng các biện pháp phòng ngừa để giảm
thiểu rủi ro. Bảo hiểm tiền vay là một trong các biện pháp đó và gián tiếp
đóng vai trò bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
Thứ ba, đối với hệ thống ngân hàng, bảo đảm tiền vay bảo vệ sự an toàn
và ổn định của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Trung ương của bất kỳ quốc
gia nào cũng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, tín
dụng, ngân hàng và đều có nhiệm vụ đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động
một cách có hiệu quả, an toàn và ổn định. Nếu có sự thất thoát trong hoạt
động tín dụng nào đó, dù chỉ ở một ngân hàng cũng đe doạ đến tính an toàn
và ổn định của toàn hệ thống. Vì thế mà các ngân hàng Trung ương đều quy
định mọi tổ chức tín dụng phải tuân thủ quá trình phân tích rủi ro truớc khi
cho vay.
Thứ tư, bảo đảm tiền vay là động lực thúc đẩy khách hàng thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Nếu không có bảo đảm tiền vay có thể dẫn đến việc lơ là
nghĩa vụ trả nợ. Bảo đảm sẽ tạo động lực tốt hơn cho nghĩa vụ trả nợ, vì nếu
không sẽ mất tài sản và tốn kém nhiều chi phí hơn. Mặt khác, bảo đảm tín
dụng còn là rào cản đối với những người đi vay có chủ ý lừa đảo.
1.1.2. Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Cho đến nay chưa có khái niệm chính tắc về bảo đảm tiền vay mà chỉ
được thể hiện duới dạng lịêt kê từng biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên trong một
số công trình khoa học của các tác giả cũng đã đưa ra khái niệm này. Chẳng
hạn: “bảo đảm tiền vay được hiểu là các biện pháp hay công cụ để củng cố
vịêc thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng”, hay “bảo đảm tiền vay là các hình
Lê Thanh Ngọc 3 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
thức bảo đảm trả nợ của người vay trước ngân hàng trong trường hợp nguời
vay không thể trả nợ trong tương lai”. Ngoài ra, một số quan điểm cho rằng
bảo đảm tiền vay cũng chính là bảo đảm tín dụng và bảo đảm tiền vay chính
là bảo đảm cho một khoản vay hoặc những nghĩa vụ khác.
Cần nhấn mạnh rằng, bảo đảm tiền vay thông thường chỉ được xem xét là

trả nợ gây ra.
1.1.3. Các hình thức bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động của các
doanh nghiệp ngày càng phong phú, nhu cầu vốn của thị trường ngày càng
lớn, để thực hiện mục tiêu phát triển là mở rộng cho vay gắn với hạn chế rủi
ro, bảo đảm an toàn vốn đòi hỏi các NHTM phải áp dụng đồng thời nhiều
biện pháp bảo đảm tiền vay, chấp nhận nhiều loại tài sản bảo đảm và vận
dụng các điều kiện đó linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng khách hàng.
Vịêc vận dụng hiểu quả các biện pháp bảo đảm tiền vay phải dựa trên cơ sở
hiểu rõ những nội dung của các biện pháp bảo đảm.
1.1.3.1.Bảo đảm tiền vay bằng tài sản bảo đảm
Từ xa xưa, vấn đề làm thế nào để đảm bảo thực hiện hợp đồng, đặc biệt là
hợp đồng vay nợ đã được đặt ra với nhiều biện pháp khác nhau. Cùng với sự
phát triển của xã hội, những điều kiện bảo đảm thực hiện hợp đồng càng được
cải thiện đáng kể. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là loại bảo đảm tiền vay theo
đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảm đảm thực hiện bằng
tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vay
hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Trong trường hợp khách hàng vi
phạm nghĩa vụ trả nợ và bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì
tài sản bảm đảm tiền vay sẽ được xử lý để thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng.
Lê Thanh Ngọc 5 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Tuy nhiên, không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể được mang ra làm bảo
đảm mà tài sản đó phải thoả mãn một số điều kiện cơ bản sau:
 Giá trị của tài sản bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ đuợc bảo đảm.
 Tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra được ngân lưu (được
phép giao dịch, có giá trị và được thị trường tiêu thụ).
 Tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để nguời cho vay có
quyền xử lý tài sản dùng làm tài sản bảo đảm (quyền sở hữu, quyền
sử dụng, quyền chuyển nhựơng..) và không có tranh chấp.

cầm cố. Hơn nữa, vịêc bán hoặc chuyển nhượng cũng không hề đơn giản. Vì
vậy, đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp và
người tiêu dùng. Do giá trị của tài sản loại này thường lớn nên doanh nghiệp
có thể vay ngân hàng với quy mô lớn.
Đảm bảo bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ sử dụng tài sản bảo
đảm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đó là một thuận lợi. Tuy nhiên, quá
trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát tài sản
bảo đảm của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm
giảm giá trị của tài sản gây thiệt hại cho ngân hàng.
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay là hình thức trong đó khách
hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
trả nợ cho chính khoản vay đó.
Trong đó, tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà
giá trị tài sản đựơc tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của tổ chức
tín dụng. Vịêc đảm bảo tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay thường
đựơc áp dụng trong trường hợp ngân hàng cho vay trả góp, cho vay trung và
Lê Thanh Ngọc 7 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
dài hạn đối với các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời
sống. Vịêc lựa chọn hình thức bảo đảm này mang lại rủi ro khá cao cho ngân
hàng vì nguyên tắc cơ bản của bảo đảm tiền vay là nguồn đảm bảo cho khoản
vay trong khi tài sản bảo đảm lại được hình thành từ chính vốn vay ngân
hàng. Điều này có thể làm giảm chất lượng bảo đảm tiền vay của ngân hàng.
Vì vậy, khi cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay ngân hàng
luôn xem xét kỹ lưỡng đối với khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn
vay.
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là hình thức trong đó bên thứ ba
hay còn gọi là bên bảo lãnh cam kết với tổ chức tín dụng cho vay về việc sử

tạo áp lực trả nợ đối với người đi vay. Tuy nhiên, các ngân hàng ngày càng
cạnh tranh gay gắt để tìm kiếm khách hàng, mở rộng đối tượng và các hình
thức cho vay cùng với sự tin cậy về năng lực trả nợ của khách hàng nên hình
thức cho vay không cần tài sản bảo đảm tồn tại và phát triển. Cho vay không
có tài sản bảo đảm là vịêc cho vay vốn của các tổ chức tín dụng mà theo đó
nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam kết trả nợ bằng tài sản mà
chỉ dựa trên uy tín, khả năng trả nợ của khách hàng vay hay của bên bảo lãnh,
bao gồm:
Cho vay bằng tín chấp cho các doanh nghiệp có uy tín, các khách hàng
lâu năm..
Các ngân hàng thương mại đựơc chủ động lựa chọn khách hàng vay để
cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và
lành mạnh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, khách hàng vay phải đáp
ứng đầy đủ các điều kiện cơ bản sau: Phải có tín nhiệm với ngân hàng cho
vay trong vịêc sử dụng vốn vay, trả nợ đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi,
Lê Thanh Ngọc 9 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
khách hàng vay phải có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả
thi, có khả năng trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi
phù hợp với quy định của pháp lụât. Khách hàng phải có khả năng tài chính
và các nguồn thu hợp pháp có khả năng thu được trong thời hạn vay vốn để
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng. Trong trường hợp này ngân
hàng tự quyết định mức cho vay trên cơ sở mức độ tín nhiệm, đặc điểm tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng.
Cho vay không có tài sản bảo đảm theo chỉ thị của Chính phủ
Các ngân hàng thương mại quốc doanh cho vay không có bảo đảm đối
với khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế
đặc bịêt, chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình kinh tế-
xã hội và đối với một số khách hàng thuộc đối tượng đựơc hưởng các chính
sách tín dụng ưu đãi.

cho ngân hàng trong vịêc thu hồi nợ dẫn đến khả năng mất vốn, với mức độ
lớn hơn có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng với khách hàng,
làm giảm uy tín của ngân hàng dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt và đẩy
ngân hàng đến nguy cơ phá sản. Vì vậy, các ngân hàng phải thường xuyên
quan tâm và nâng cao chất lượng bảo dảm tiền vay nhằm bảo đảm sự phát
triển bền vững cho ngân hàng.
1.2.2.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay
của ngân hàng thương mại
1.2.2.1.Các chỉ tiêu định tính
Dựa vào các chỉ tiêu định tính ta có thể phần nào đánh giá khái quát đựơc
về chất lượng bảo đảm tiền vay của một NHTM. Có rất nhiều chỉ tiêu định
tính phản ánh chất lượng này, và một số chỉ tiêu giúp ta nhận biết rõ nhất về
chất lượng bảo đảm tiền vay, bao gồm:
Lê Thanh Ngọc 11 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Danh mục tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm bao gồm: bất động sản (nhà,
đất), động sản (hàng hoá, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải), các giấy tờ
có giá khác. Các loại tài sản thuộc sở hữu công, kém, mất phẩm chất hay phi
pháp đều bị loại khỏi đảm bảo. Quản trị danh mục tài sản bảo đảm là yêu cầu
khách quan trong công tác quản trị ngân hàng thương mại, nó là một mắt xích
quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ có vấn đề.
Cho vay có tài sản bảo đảm cùng với quản lý tốt danh mục tài sản bảo đảm là
một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng các khoản vay, hạn chế
tổn thất của ngân hàng trong trường hợp các khoản vay quá hạn khách hàng
không trả được nợ, buộc phải xử lý tài sản để thu hồi nợ. Rõ ràng, chất lượng
của tài sản bảo đảm, mà cụ thể là giá trị thị trường của tài sản bảo đảm tại thời
điểm xử lý tài sản bảo đảm sẽ có tính chất quyết định đến nguồn thu hồi nợ
của ngân hàng. Ví dụ, nếu ngân hàng nhận tài sản bảo đảm là dây chuyền máy
móc thiết bị, khi phải phát mại thì tiêu chuẩn công nghệ còn phù hợp hay
không so với thị trường sẽ quyết định giá cả của tài sản bảo đảm này, nếu lạc

bảo đảm gây thiệt hại cho ngân hàng. Đối với những tài sản bảo đảm đặt dưới
sự quản lý của ngân hàng hoặc ngân hàng được pháp lụât bảo vệ để dễ dàng
lấy tài sản để bán thì tính chất an toàn của tài sản bảo đảm sẽ cao. Trái lại,
những tài sản nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng thì tính an toàn của bảo
đảm sẽ thấp.
Trường hợp tài sản bảo đảm do bên khách hàng vay, bên thứ ba, nắm
giữ, bảo quản hay sử dụng cán bộ tín dụng cần chủ động đề xuất và thực hiện
kiểm gia tài sản bảo đảm định kỳ, thu thập các loại giấy tờ khác có liên quan
đến tài sản bảo đảm, chứng minh tình trạng hiện tại của tài sản bảo đảm.
Lê Thanh Ngọc 13 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Trường hợp tài sản bảo đảm do chính ngân hàng nắm giữ và bảo quản,
cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm tiến hàng thủ tục bàn giao và bảo quản tài
sản theo đúng quy định của ngân hàng.
Xử lý tài sản bảo đảm: Khả năng xử lý đựơc tài sản bảo đảm với chi phí
thấp, thủ tục nhanh chóng giúp bảo đảm đựơc quỳên lợi cho ngân hàng và
khách hàng cũng là một tiêu chí phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay... Việc
xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công khai,
minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch
bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan.
1.2.2.2.Các chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu giá trị khoản vay so với giá trị của tài sản bảo đảm
H =
Giá trị khoản vay là số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay ghi trên
hợp đồng tín dụng. Giá trị của tài sản bảo đảm được thể hiện bằng số tiền mà
các cán bộ thẩm định định giá, được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng
bảo đảm, làm cơ sở cho vịêc xác định mức vay của ngân hàng.
Chỉ tiêu này được dùng để phản ánh mức độ bù đắp vốn của tài sản bảo
đảm,và để phản ánh chính xác, ngân hàng phải dự đoán đựơc biến động của
giá trị tài sản bảo đảm trong thời gian cho vay như hao mòn, mất giá do giá

khoảng 87%.
Chỉ tiêu về giá trị tài sản thanh lý so với số nợ mất vốn khó đòi
Giá trị tài sản thanh lý so với nợ mất vốn, khó đòi
Lê Thanh Ngọc 15 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
=
Giá trị tài sản thanh lý là số tiền mà ngân hàng thu được sau khi bán
tài sản bảo đảm và đã trừ đi các chi phí bảo quản, xử lý tài sản bảo đảm. Tỷ lệ
này phản ánh khả năng bù đắp rủi ro của tài sản bảm đảm, cho biết với mỗi
đồng vốn bị chiếm dụng thì có thể đựơc bù đắp bao nhiều đồng bằng cách bán
tài sản bảo đảm, đồng thời cũng phản ánh chất lượng của công tác định giá,
quán lý và xử lý tài sản của mỗi ngân hàng. Đối với các ngân hàng, chỉ tiêu
này bằng một là tối ưu mà các ngân hàng đang hướng tới bằng cách nâng cao
công tác xử lý, định giá tài sản bảo đảm. Hiện nay ở các ngân hàng tỷ lệ này
vào khoảng 80%
Chỉ tiêu về nợ quá hạn của khoản vay không có tài sản bảo đảm so
với tổng nợ quá hạn
=
Trong đó, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sau khi đã vay, đã đến
thời hạn trả nợ theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng nhưng không có khả
năng hoàn trả cho ngân hàng. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ chất lượng bảo
đảm tiền vay có tài sản bảo đảm của khách hàng càng tốt và ngược lại. Thông
thường ở các ngân hàng hiện này, các khoản vay có tài sản bảo đảm thường
có nợ quá hạn ít hơn so với các khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản. Nợ
quá hạn của khoản vay có tài sản bảo đảm chỉ chiếm khoảng 20% so với tổng
dư nợ quá hạn.
1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiền
vay
1.2.3.1.Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Lê Thanh Ngọc 16 Lớp TCDN 47B

quy định chặt chẽ về tài sản bảo đảm.
Năng lực quản lý giám sát của ngân hàng
Các sai phạm xảy ra có thể là do vô ý hoặc cố ý, vịêc phát hiện các sai
phạm kịp thời là vô cùng cần thiết đối với mỗi ngân hàng. Hiện này, các ngân
hàng thường tiến hành phân cấp tín dụng với mức phân cấp phụ thuộc vào
chính sách của từng ngân hàng. Với các khoản vay nhỏ có thể chỉ cần một vài
cán bộ thực hiện, nhưng đối với các khoản vay lớn phải đưa lên cấp trên,
thậm chí thành lập hội đồng xét duyệt. Chính sách quản lý của ngân hàng tốt
sẽ giúp giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng đảm bảo tiền vay.
Ngoài ra còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng bảo
đảm tiền vay như hệ thống thông tin ngân hàng, chất lượng công tác xử lý,
kiểm tra giám sát tài sản bảo đảm…
1.2.3.2. Nhân tố thuộc về phía khách hàng
Tính trung thực, chính xác của các thông tin do khách hàng cung cấp
Tư cách đạo đức của khách hàng vay có tác động lớn đến hiệu quả của
bảo đảm tiền vay. Những thông tin ban đầu mà ngân hàng có đựơc chủ yếu do
khách hàng cung cấp. Nếu họ cố tình che đậy, thiếu trung thực trong báo cáo
tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh, các chứng từ sổ sách liên quan đến vịêc
sử dụng vốn vay thì sẽ gây khó khăn cho cán bộ thẩm định cũng như khó
khăn trong vịêc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, theo dõi, giám sát,
quản lý vốn vay của khách hàng. Ngược lại, nếu khách hàng trung thực, cung
cấp những thông tin chính xác sẽ giúp ngân hàng lựa chọn được hình thức cho
vay phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay.
Năng lực tài chính, trình độ quản lý của khách hàng
Năng lực tài chính, trình độ quản lý của khách hàng vay vốn rất quan
trọng ảnh hưởng đến chất lượng của công tác bảo đảm tiền vay. Nếu trình độ
Lê Thanh Ngọc 18 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
quả lý của khách hàng yếu kém, không đủ khả năng cạnh tranh trên thương
trường sẽ dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ, không đủ khả năng trả nợ cho

vay của ngân hàng.

Lê Thanh Ngọc 20 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM TIỀN
VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HÀ NỘI
2.1. Khái quát về ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Nội
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập ngày
26/04/1957 theo quyết định 177/TTg của Thủ tướng chính phủ, tiền thân là
Ngân hàng Kiến thiết Vịêt Nam. Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh, 200 cán
bộ. Đây là một trong bốn ngân hàng nhà nước lớn nhất, được hình thành sớm
nhất và lâu đời nhất ở Vịêt Nam, là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt được tổ
chức theo mô hình tổng công ty nhà nước. Mục tiêu của Ngân hàng Kiến thiết
là: “ hiệu quả, an toàn, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Kiến thiết Hà Nội (tiền thân
của ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Hà Nội ngày nay), nằm trong
hệ thống của ngân hàng Kiến thiết Vịêt Nam (là tiền thân của ngân hàng Đầu
tư và Phát triển) được thành lập chỉ sau ngân hàng Đầu tư và Phát triển một
tháng, ngày 27/05/1957. Nhiệm vụ của ngân hàng trong thời kỳ này là nhận
vốn từ ngân sách nhà nước để tiến hành cấp phát và cho vay trong lĩnh vực
đầu tư xây dựng cơ bản. Từ khi thành lập cho đến nay, trải qua hơn 50 năm
xây dựng và phát triển, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội trải qua 3 giai
đoạn phát triển:
Giai đoạn 1957-1965:
Nhiệm vụ của Chi hàng trong giai đoạn này là phục vụ công cuộc xây
dựng kinh tế sau chiến tranh chống Pháp và kế hoạch năm năm lần thứ nhất.
Khi đó, mô hình tổ chức của chi nhánh Kiến thiết Hà Nội chỉ có 2 phòng là
Lê Thanh Ngọc 21 Lớp TCDN 47B

Ngày 1/1/1995, bộ phận cấp phát vốn ngân sách tách khỏi Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam thành Tổng cục đầu tư và phát triển trực thuộc
Bộ Tài Chính. Như vậy, từ khi thành lập cho tới 1/1/1995, Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển không hoàn toàn là một ngân hàng thương mại mà chỉ là một
Ngân hàng Quốc doanh có nhiệm vụ nhận vốn từ ngân sách Nhà nước và tiến
hành cấp phát cho vay trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản.
Và từ ngày 1/1/1995, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nói chung, chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thành phố Hà Nội mới thực sự hoạt
động như một ngân hàng thương mại, kinh doanh đa năng tổng hợp phục vụ
chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trong cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Để đáp ứng tình hình mới, các ngân hàng không thể
trông chờ vào ngân sách Nhà nước mà phải mở rộng huy động các nguồn vốn
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các thành phần kinh tế, các tổ chức phi
Chính phủ, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp, dân cư, các tổ chức nước
ngoài để tiến hành các hoạt động cho vay ngắn, trung và dài hạn đối với mọi
tổ chức, mọi thành phần kinh tế và dân cư.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà
Nội
Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển thành phố Hà Nội có 23 đầu
mối, hơn 350 cán bộ công nhân viên. Mô hình tổ chức của chi nhánh gồm:
Lê Thanh Ngọc 23 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
Sơ đồ 1: Mô hình cơ cấu tổ chức của chi nhánh
BAN GIÁM ĐỐC
Các phòng nghiệp
vụ
Các phòng chức
năng
Phòng dịch vụ
khách hàng cá

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Nội những năm gần đây
2.1.3.1. Bối cảnh kinh tế xã hội
Trong nhưng năm 2005-2007, năm bản lề của kế hoạch ba năm
(2005-2007) nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng cao, đầu tư trực tiếp
nước ngoài có nhìều khởi sắc, môi trường pháp lý đã được cải thiện đáng kể,
đặc bịêt trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều đổi mới,
bổ sung đồng bộ các cơ chế, quy chế, áp dụng linh hoạt các công cụ chính
sách tiền tệ và điều hành tỷ giá phù hợp với cung cầu thị trường, góp phần giữ
Lê Thanh Ngọc 24 Lớp TCDN 47B
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Ngân hàng – Tài chính
ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng truởng kinh tế. Tuy nhiên, do sự
tăng giá của nhìêu mặt hàng chủ yếu như xăng dầu, sắt thép, cùng với sự biến
động thất thường của giá vàng, đồng USD…và những bất ổn về chính trị,
chiến tranh vùng Vịnh, xung đột vũ trang, nạn khủng bố, cộng với tình trạng
dịch cúm gia cầm và thiên tai xảy ra liên tiếp đã tác động ảnh hưởng đến tình
trạng tăng trưởng kinh tế và hoạt động ngân hàng trong nước.
Đến năm 2008, nền kinh tế Việt Nam nói riêng và nền kinh tế toàn cầu
nói chung, đặc biệt là lĩnh vực tài chính ngân hàng đã chịu nhiều tác động tiêu
cực. Trong những tháng đầu năm, nhằm kiềm chế lạm phát, chính sách thắt
chặt tiền tệ đã được Chính phủ đưa ra: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, yêu cầu các
ngân hàng mua tín phiếu bắt buộc, kiểm soát tăng trưởng tín dụng, tăng mạnh
lãi suất cơ bản (cao nhất tới 14% vào tháng 6 năm 2008). Với vịêc áp dụng
hàng loạt các biện pháp thắt chặt tiền tệ, cả hệ thống NHTM Vịêt Nam đã gặp
nhiều khó khăn: thiếu hụt thanh khoản kéo dài, lãi suất huy động liên tục tăng
cao, có thời điểm lên đến gần lãi suất trần cho vay là 21%/năm. Bên cạnh đó,
chi phí đầu vào tăng cao do trượt giá cũng gây khó khăn lớn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa làm gia tăng áp lực nợ xấu đối với
ngân hàng, vừa hạn chế khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng. Vào thời điểm
cuối quý III, khủng hoảng tài chính toàn cầu kéo theo suy thoái kinh tế và lạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status