TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
- - - -
HÀ THỊ HẰNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHUN CHẾ PHẨM
ĐIỀN MĨ LÊN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT CÂY LẠC
(Arachis hypogaea L.) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý học thực vật
HÀ NỘI - 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
- - - -
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy trong Ban Giám Hiệu trường
ĐHSP Hà Nội 2 cùng các Thầy, Cô trong Ban Chủ Nhiệm khoa Sinh – KTNN
trường ĐHSP Hà Nội 2 và tập thể cán bộ Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu Khoa
học & Chuyển giao Công nghệ, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và những góp ý của ThS. La Việt
Hồng – Trợ lý thiết bị khoa Sinh – KTNN trường ĐHSP Hà Nội 2 giúp em
hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên
cạnh động viên, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Hà Thị Hằng LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận của được hoàn thành là kết quả nghiên cứu
của riêng em. Những số liệu này là trung thực, không trùng lặp hoặc sao chép
kết quả của một đề tài khác.
Hà Nội,tháng 5 năm 2013
Sinh viên
lạc L14.
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến khối lượng khô của lá giống
lạc L14.
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến năng suấtgiống lạc L14.
Bảng 3.8. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chế phẩm Điền Mĩ phun lên lá
giống lạc L14.
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến chiều cao cây giống lạc L14.
Hình 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến tổng số cành/cây giống lạc
L14.
Hình 3.3. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến khối lượng tươi của thân
giống lạc L14.
Hình 3.4. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến khối lượng khô của thân
giống lạc L14.
Hình 3.5. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến khối lượng tươi của lá giống
lạc L14.
Hình 3.6. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến khối lượng tươi của lá giống
lạc L14.
Hình 3.7.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến năng suất tươi của giống
lạc L14.
Hình 3.7.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến năng suất khô của giống
lạc L14.
3. Nội dung nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4.1. Ý nghĩa khoa học 3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
NỘI DUNG 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Giới thiệu chung về cây lạc 4
1.1.1. Sơ lược về cây lạc 4
1.1.2. Đặc điểm hình thái cây lạc 4
1.1.3. Thời vụ 5
1.1.4. Giá trị ding dưỡng 5
1.2. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 6
1.2.2. Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 7
1.3. Khái quát về chế phẩm phân bón lá và chế phẩm Điền Mĩ 8
1.4. Các nghiên cứu về sử dụng chế phẩm phân bón lá 9
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 12
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 13
2.2. Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1. Cách bố trí thí nghiệm 13
2.2.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu 14 2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 15
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến các chỉ tiêu sinh trưởng 16
3.1.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Điền Mĩ đến chiều cao cây giống lạc
L14 16
cho gia súc đều rất tốt [24].
Trong quá trình trồng lạc có nhiều yếu tố như đặc điểm di truyền của
giống, yếu tố khí hậu, phân bón, chất kích thích tăng trưởng,… làm ảnh
hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây. Vì vậy, để tăng năng suất cây trồng,
ngoài việc bón phân và tưới tiêu hợp lý thì bổ sung chất kích thích sinh trưởng
là một việc làm hữu hiệu giúp tăng quá trình sinh trưởng và năng suất của
cây. Chính vì vậy, trong sản xuất con người đã sử dụng các chất kích thích
sinh trưởng phun lên lá nhằm bổ sung một số chất cần thiết cho cây trồng, gọi
chung là phân bón lá. Dùng phân bón lá có nhiều ưu điểm: chất dinh dưỡng
được cung cấp nhanh hơn bón gốc, hiệu suất sử dụng phân bón cao hơn, chi
phí thấp, ít ảnh hưởng đến môi trường và làm tăng quá trình sinh lý trong cây.
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá
đến các cây trồng khác nhau như lạc [8], [9]; đậu [10], [11], [12], [15],[16];
khoai tây [4], [5], [6], [7]; dâu [17]. Các công trình đó cho thấy, sử dụng phân
bón lá làm tăng năng suất và chất lượng nông sản.
2
Các chế phẩm kích thích sinh trưởng phun lên lá được bán rất nhiều
trên thị trường hiện nay như: Atonik 1,8 DD, Basfoliar – K, Master, Điền
Mĩ,… Các chế phẩm này được sử dụng trên nhiều đối tượng cây trồng khác
nhau. Tuy nhiên, không phải tất cả các cây trồng đều có phản ứng như nhau
khi sử dụng với liều lượng được khuyến cáo bởi nhà sản xuất. Hơn nữa, dùng
phân bón lá một cách khoa học để có hiệu quả kinh tế cao nhất và không ảnh
hưởng đến chất lượng của nông sản nói chung cần được tập trung hơn nữa.
Chế phẩm phân bón lá Điền Mĩ hiện đang được bán rộng rãi ở các cửa hàng
vật tư nông nghiệp, giống cây trồng trong tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và thị xã
Phúc Yên nói riêng. Tuy nhiên, cơ sở thực nghiệm về khoa học của loại chế
phẩm này đối với cây trồng lại còn ít nghiên cứu. Xuất phát từ lí do trên, tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của phun chế phẩm Điền Mĩ lên lá
đến sinh trưởng và năng suất cây lạc (Arachis hypogaea L.)” nhằm khẳng
4
NỘI DUNG
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về cây lạc
1.1.1. Sơ lược về cây lạc
Những người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đầu tiên đến Châu Mỹ đã
thấy dân bản xứ trồng lạc, cùng với những cây lương thực khác [25]. Hiện
nay, cây lạc cũng được trồng phổ biến trên thế giới và Việt Nam.
Lạc là cây họ Đậu thuộc họ cánh bướm (Fabacecae), có tên khoa học là
Arachis hypogaea L. [24]. Lá gồm 2 đôi lá chét, rễ có nốt sần, hoa màu vàng,
quả chín trong đất, hạt có chứa nhiều lipit và protein. Đây là thực phẩm quan
trọng.
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Về đặc điểm hình thái, cây lạc gồm có 3 bộ phận chính là: rễ, thân và lá.
Rễ cây lạc thuộc loại rễ cọc bao gồm rễ chính và rễ bên. Khi cây lạc
được 5 lá thật thì bộ rễ tương đối hoàn chỉnh. Bộ rễ có thể ăn sâu 18 cm – 30
cm và rộng khoảng 30 cm – 40 cm. Sau khi gieo từ 15 – 30 ngày, những nốt
sần đầu tiên xuất hiện do loại vi khuẩn Rhyzobium cộng sinh với hệ rễ [3]. Tại
nốt sần xảy ra quá trình cố định đạm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Nhờ
có vi khuẩn cộng sinh mà trồng lạc có tác dụng cải tạo đất.
Thân cây lạc thuộc loại thân thảo ít gỗ. Khi còn non thân thường tròn
và đặc. Khi thân già có hình góc cạnh và rỗng giữa. Tốc độ tăng trưởng của
thân tăng dần và đạt cao nhất ở thời kì ra hoa rộ. Cây lạc phân cành ngay từ
gốc. Cành cấp 1 được mọc từ gốc thường có nhiều hoa, cành cấp 2 mọc từ
cành cấp 1 và thường có ít hoa hơn [25]. Số cành/cây khác nhau tuỳ giống và
– 1 năm sau); vụ Đông (gieo trồng vào tháng 7 – 8) [25].
6
1.1.4. Giá trị dinh dưỡng
Ở nước ta lạc được coi là cây công nghiệp ngắn ngày, là cây trồng có
giá trị dinh dưỡng cao và có giá trị rất đa dạng. Lạc là cây thực phẩm quan
trọng trong đời sống của người dân với giá trị dinh dưỡng cao. Trong dầu lạc
chứa hàm lượng axit béo chưa no cao (80% trong thành phần axit béo của dầu
lạc) đây chính là loại dầu tốt cho sức khỏe con người [3]. Trong hạt lạc có chất
lecithin (photphattidyl cholin) có tác dụng trong việc làm giảm lượng
cholesterol trong máu, chống hiện tượng xơ vữa mạch máu. Lạc là loại thực
phẩm cung cấp năng lượng cao, 100g hạt lạc cung cấp 590 cal, trong khi đậu
tương là 400 cal [3]. Hạt có thể sử dụng trực tiếp hoặc ép lấy dầu.
Hạt lạc chứa nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin A [2]. Vì vậy, sử
dụng các sản phẩm từ hạt lạc sẽ khắc phục được sự thiếu hụt vitamin A.
Lạc còn được sử dụng trong chăn nuôi, khô dầu lạc chế biến thành thức
ăn gia súc, vỏ quả lạc có thể nghiền thành cám, cám lạc có giá trị tương
đương vitamin với cám gạo. Vỏ lạc có thành phần là celluloz và hemicelluloz
được sử dụng để chế biến thành vật liệu hấp phụ kim loại nặng, đây là một
trong những hướng nghiên cứu có tính ứng dụng quan trọng trong việc xử lí
nước thải, bảo vệ nguồn nước.
1.2. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Ngày nay, lạc được trồng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới
(khoảng 115 nước) với diện tích 25,66 triệu ha và sản lượng đạt 53,38 triệu
tấn vào năm 2008. Châu Á là nơi có diện tích trồng và sản lượng lạc cao nhất,
chiếm trên 60% sản lượng của thế giới. Châu Phi đứng thứ hai chiếm 30%,
các châu lục khác rất ít (châu Mỹ 5%, châu Âu 0,22%). Sản lượng lạc (trên
60%) tập chung ở một số nước như Ấn Độ (chiếm 31% sản lượng lạc toàn thế
giới), Trung Quốc (15%), Xenegan, Nigieria và Mỹ [21].
Theo Nguyễn Văn Uyển (1995) [23], thì phân bón lá trên thị trường
trong nước và thế giới rất phong phú, thường được sản xuất dưới dạng các chế
phẩn bón qua lá, có thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm chỉ có các yếu tố đa lượng và vi lượng phối hợp hoặc riêng rẽ.
- Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng, nhằm thúc đẩy sinh
trưởng hoặc thúc đẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quá trình
chín hoặc làm mau ra rễ.
- Nhóm có các loại thuốc hóa học phòng trừ sâu bệnh được phối hợp
trộn với tỷ lệ thích hợp.
Chế phẩm Điền Mĩ thuộc nhóm thứ 2 ở trên. Chế phẩm này là sự kết
hợp giữa các yếu tố đa lượng, vi lượng và các chất kích thích sinh trưởng ở
một tỷ lệ nhất định có tác dụng: cung cấp chất dinh dưỡng, nở hoa nhiều, đậu
quả nhiều, chống rụng hoa – quả non, quả to, hạt chắc sáng cho năng suất cao,
kích thích đậu quả, kích thích ra nhiều hoa, tăng sức đề kháng của cây với sâu
bệnh.
Chế phẩm phân bón lá hiện nay đã được bán nhiều trên thị trường và
được người dân sử dụng rộng rãi trên nhiều đối tượng cho thấy có nhiều ưu
điểm như: chất dinh dưỡng được cung cấp nhanh, hiệu quả sử dụng phân bón
cao hơn, chi phí thấp và ít ảnh hưởng đến môi trường, đồng thời, làm tăng các
quá trình sinh lý trong cây. Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng
chất dinh dưỡng qua lá đạt 95%. Ở Philippin dùng phân bón lá tăng năng suất
lúa 1,5 lần so với sử dụng phân bón gốc qua rễ và gấp 3,5 lần khi không bón
phân. Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất.
1.4. Các nghiên cứu về sử dụng chế phẩm phân bón lá
Trên thực tế, thực vật có khả năng hấp thụ với số lượng nhiều hay ít
khác nhau từ môi trường xung quanh tất cả các nguyên tố của hệ thống tuần
hoàn. Các nguyên tố trong cây thường được phân loại dựa theo hàm lượng
9
với nồng độ 0,005% và phun lên lá với nồng độ 0,02% cũng có kết quả tương
tự [11], [12].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Điêu Thị Mai Hoa, Nguyễn Văn Mã đã
khẳng định: phun phân vi lượng dưới dạng chế phẩm Vilado có ảnh hưởng tới
khả năng chịu hạn của đậu xanh và cũng khẳng định khi phun Vilado vào thời
kỳ ra hoa có thể làm tăng năng suất đậu xanh từ 10 - 13%, tăng hàm lượng
protein 15 - 35% [10].
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Minh (2011) về hiệu lực của
Molypden tẩm vào hạt và phun trên lá cây đậu xanh cho thấy: khi sử dụng ở
các nồng độ 1, 5, 10, 20 mg/lít Mo tẩm vào hạt làm tăng đáng kể tỷ lệ nảy
mầm của đậu xanh, còn khi sử dụng dung dịch bổ sung Molypden phun qua lá
ở các giai đoạn 7 lá, 9 lá, ra hoa và tạo quả đều làm tăng chiều cao cây, tăng
diện tích lá, giảm cường độ thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước, tăng hàm
lượng diệp lục, năng suất quang hợp thuần túy ở cây đậu xanh [16].
Trên đối tượng cây dâu, nghiên cứu của tác giả Trần Thị Ngọc (2011)
đã tiến hành thí nghiệm phun chế phẩm bón lá Pomior lên cây dâu với 3
ngưỡng nồng độ 0,4%; 0,5%; 0,6% và khoảng cách giữa 2 lần phun là 10
ngày. Kết quả thí nghiệm cho thấy: chế phẩm Pomior đã có tác dụng làm tăng
khả năng sinh trưởng của cây dâu, từ đó tăng năng suất lá dâu từ 18,73% đến
44,95% ở vụ xuân hè và 12,41% đến 55,11% ở vụ hè thu. Chế phẩm Pomior
cũng có tác dụng làm tăng chất lượng lá dâu qua kết quả nuôi tằm, làm tăng
năng suất kén tằm từ 9,59% đến 16,67% ở vụ xuân hè và 10,51% đến 27,17%
ở vụ hè thu. Trong các nồng độ thí nghiệm thì kết quả cao nhất ở nồng độ
0,6%; tiếp là nồng độ 0,5%; cuối cùng là nồng độ 0,4 % [17].
Nếu xét về khía cạnh môi trường thì phân bón qua lá, phân vi sinh và
các loại phân tương tự khác được khuyến kích nghiên cứu và đưa vào sản suất
11
nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nông nghiệp bền vững, trong
vấn đề an toàn dinh dưỡng cây trồng.
110 ngày (vụ đông). Chiều cao cây từ 30 - 50 cm, khối lượng 1000 hạt từ 155
- 165 g. Năng suất từ 45 - 60 tạ/ha [3], [25].
- Chế phẩm Điền Mĩ:
Thành phần: (ppm)
Thành
phần
N
P
2
O
5
K
2
O
Bo
MgO
Ca
Fe
Cu
Zn
Mn
ppm
5
4
1
90
500
1000
600
10 ngày
Cây lạc L14
Công thức 1(ĐC)
Công thức 3
Không
phun
Công thức 2
Thời điểm xác định các chỉ tiêu sinh trưởng:
- Chiều cao (cm).
- Số cành/cây.
- Khối lượng thân và lá (gam/cây).
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
5
1
0
1
5
Ngày
14
Thí nghiệm ngoài đồng ruộng theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
đảm bảo sự đồng đều giữa các công thức. Mỗi công thức nhắc lại 30 lần. Diện
tích mỗi ô 30 m
2
gồm 3 công thức:
- Công thức 1: Đối chứng không phun chế phẩm Điền Mĩ.
- Công thức 2: Phun chế phẩm Điền Mĩ 1 lần vào giai đoạn 5 lá thực
(cây lạc đang phân nhánh).
- Công thức 3: Phun chế phẩm Điền Mĩ 2 lần (lần 1 khi cây lạc có 5 lá
thực, lần 2 sau lần 1 là 10 ngày).
x
X
n
- Độ lệch chuẩn:
2
()
i
XX
n
với n ≤ 30
- Sai số trung bình: m = ±
n
16
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
18,67 ± 0,22
21,28 ± 0,31
25,20 ± 0,38
% so với ĐC
113,02*
112,21*
114,18*
Ghi dấu * thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa α = 0,05.