Mác-Lên
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP:
Chương
I
: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN
CHỨNG
1. Phạm trù vật chất
a. Lược khảo các quan điểm trước Mác về vật chất
b. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất
2. Nguồn gốc, bản chất của ý thức
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
4. Ý nghĩa phương pháp luận
Chương
II
: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY
VẬ
T
I. PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
II. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay
đổi về chất và ngược lại
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Thực tiễn, nhận thức và vai trò của thực tiễn với nhận thức
Chương
III
: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH
SỬ
I. QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT
TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
II. BIỆN CHỨNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG
làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất, đó là: Rơnghen (Đức) phát hiện ra tia X ,
thuyết tương đối hẹp của A.Anhxtanh
Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý
học. Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các hiện tượng vật lý và cho
rằng vật chất tiêu tan. Trong hoàn cảnh đó, các nhà triết học duy tâm chủ quan lợi dụng
cơ hội này để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các
lực lượng siêu nhiên đối với quá trình sáng tạo ra thế giới, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa duy
Mác I Page 2 7/15/2015
Mác-Lên
vật không còn nữa. Tình hình đó đòi hỏi V.I.Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ
nghĩa duy vật.
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin
đưa ra định nghĩa vật chất kinh điển:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Từ định nghĩa vật chất có thể khẳng định:
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với những
dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của
sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự
vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi;
còn tất cả những sự vật, hiện tượng chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó
có quá trình phát sinh, phát triển và chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với
một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.
Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức là thuộc
tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, dù con người có
nhận thức được nó hay không.
Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác
ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người. Ý
thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản
Nhận thức trên có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ định hướng cho con người
giải thích về tính đa dạng của thế giới mà còn định hướng cho việc tiếp tục nhận thức tính
đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp quy luật.
2. Ý thức
a. Nguồn gốc của ý thức
Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩa duy vật
biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của ý thức để rút ra
vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất.
Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng
Mác I Page 4 7/15/2015
Mác-Lên
siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.).
Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của con người, không do
thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài.
Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ý thức cũng
như gan tiết ra mật”.
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến
hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội. Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và
nguồn gốc xã hội
* Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người
và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới khách quan, trong
đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động,
sáng tạo.
Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người,
là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Bộ não người
là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật. Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt
động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức con người càng phong phú và
sâu sắc. Bộ não của động vật chỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật,
trong khi đó bộ óc người có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng.
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh
bộ óc người. Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra
các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin. Sự phản ánh này được gọi là ý thức. Ý
thức là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh của vật chất.
* Nguồn gốc xã hội của ý thức: ý thức không thể tồn tại ngoài não người; tuy nhiên,
ý thức không phải do não sinh ra. Não chỉ là cơ quan thực hiện chức năng phản ánh. Để có
ý thức phải có não người và thế giới khách quan. Ngoài ra còn phải có những điều kiện xã
hội nữa đó là: lao động, ngôn
ngữ.
Lao động:
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm
thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quá trình trong đó bản thân
con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên.
Mác I Page 6 7/15/2015
Mác-Lên
Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế
giới khách quan bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của
nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được.
Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc con
người, tạo ra khả năng hình thành những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
Lao động còn là quá trình phát triển bản thân con người, biến vượn thành người.
Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm kiếm phương pháp
và phương tiện thực hiện mục đích, đúc rút kinh nghiệm thành công và thất bại. Đó chính
là phương thức phát triển của ý thức.
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan
thông qua quá trình lao động
Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức.
Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện.
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Mối quan hệ giữa các thành viên
trong quá trình lao động làm nảy sinh nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt, nhu cầu
là
k
k
ế
ế
t
t
qu
qu
ả
ả
sự
sựti
ti
ế
ế
n
n
hó
hó
a
a
c
c
ủ
ủ
a
b. Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu
óc con người, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, không phải là sự sao chép đơn giản, máy
Mác I Page 7 7/15/2015
Mác-Lên
móc. Tính sáng tạo của phản ánh ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có khả năng phản ánh bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng; ý thức con người có khả năng biến đổi hình ảnh
(cảm tính và lý tính) của sự vật trong đầu óc của mình, tạo ra mô hình mới để từ đó biến
đổi sự vật trong hoạt động thực tiễn.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: ý thức là hình ảnh của thế giới
khách quan, do thế giới khách quan quy định cả về nội dung và hình thức biểu hiện
nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà đã được cải biến thông qua
lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu…) của
con người. Theo C.Mác: ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu
óc con người và được cải biến đi trong đó”.
Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của ý
thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, không những chịu tác động của các quy luật sinh học
mà còn chủ yếu là các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh
hoạt hiện thực của xã hội quy định. Với tính năng động, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo
nhu cầu của thực tiễn xã hội.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a. Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có
sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh
đối với vật chất.
Ý thức của con người không phải là sản phẩm chủ quan thuần tuý, cũng không phải
có nguồn gốc từ một lực lượng siêu tự nhiên. Nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong đầu óc con người.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức đều do bản thân thế
của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức có thể rút ra ý nghĩa phương
pháp luận là: Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực
tế khách quan, tôn trọng và hành động theo khách quan đồng thời phát huy tính năng
động chủ quan.
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan là xuất phát từ tính
khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng hiện thực khách quan mà căn bản là tôn
Mác I Page 9 7/15/2015
Mác-Lên
trọng quy luật; nhận thức và hành động theo quy luật khách quan. Trong nhận thức và
hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra
đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ
sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực
lượng vật chất để hành động.
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo
của ý thức và nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo
ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học, mặt khác phải tích cực học
tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân
mình về đạo đức, ý chí, nghị lực.
Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng khách quan và phát
huy năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải khắc phục bệnh chủ quan
duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường tri thức khoa học trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn.
Chương
II
: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY
VẬ
T
I. CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
a. Khái niệm
Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
và nguyên nhân thứ yếu; Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
- Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất
định. Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động đến sự vật, hiện tượng khác và
trở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa. Do đó, sự phân biệt nguyên nhân với kết
quả chỉ có tính chất tương đối. Chẳng hạn, sự phát triển của vật chất là nguyên nhân sinh
ra tinh thần, nhưng tinh thần lại trở thành nguyên nhân làm biến đổi vật chất.
Ví dụ về nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau : Lao động là hoạt
động có ý thức, ý thức lại bắt nguồn từ lao động. Hai mệnh đề mâu thuẫn biện chứng,
có liên hệ với nhau chứ không phải loại trừ.Cụ thể:
- Lao động là hoạt động có ý thức: trình độ hiểu biết hay ý thức là nguyên nhân để
tạo ra kết quả lao động.
- Nhờ có lao động mà dẫn đến sự xuất hiện của ý thức, nhờ có lao động mà ngôn
Mác I Page 11 7/15/2015
Mác-Lên
ngữ xuất hiện. Con người tìm mọi cách chế tạo ra công cụ tinh vi hơn, các ngành khoa
học nối tiếp nhau ra đời.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
- Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của các sự
vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứ không phải ở
ngoài thế giới đó.
- Do mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại
nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ
thể trong nhận thức và thực tiễn.
- Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, một kết quả có thể do nhiều
nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần có cách nhìn toàn diện và lịch sử
cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân quả.
II. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay
đổi về chất và ngược lại
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
- Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật:
Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. Hai mặt đó
không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng.
Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất nhưng không phải sự thay
đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất. Ở một giới hạn nhất định sự
thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất. Giới hạn mà sự thay đổi về lượng
chưa làm chất thay đổi được gọi là độ.
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng
giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện
tượng. Trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành
sự vật, hiện tượng khác.
- Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất.
Sự vận động, biến đổicủa sự vật, hiện tượng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Lượng
Mác I Page 13 7/15/2015
Mác-Lên
biến đổi trong phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi nhưng khi lượng thay đổi đến một giới
hạn nhất định thì sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi
về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện xác định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời
của chất mới. Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy. Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu
trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng; là sự kết thúc một giai đoạn vận động,
phát triển đồng thời là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá
trình vận động, phát triển liên tục của sự vật.
Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi về
lượng: Khi chất mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới. Chất mới tác động tới lượng
mới làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự
vật.
Ví dụ: Lấy một lít nước (đang đựng trong chai) đem đun sôi, khi đun thì nhịp
điệu phân tử nước vận động, khi nước sôi thì ta không thể đựng trong chai 1 lít nước
nữa. Vậy quy mô, nhịp điệu đã thay đổi.
Khái niệm mâu thuẫn
Quan điểm siêu hình: Mâu thuẫn là cái đối lập phản lôgích, không có sự thống nhất,
không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập.
Mác I Page 15 7/15/2015
Mác-Lên
Ngược lại, phép biện chứng quan niệm, Khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ
thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật hiện tượng hoặc
giữa các sự vật hiện tượng với nhau.
Ví dụ :Mâu thuẫn tồn tại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam :Mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội…
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập.
Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh
hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.
Sự tồn tại giữa các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật
Ví dụ : Ngày và đêm, điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, sản
xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế xã hội, chân lý và sai lầm trong quá trình
phát triển của nhận thức,v.v
Tính chất chung của mâu thuẫn:
Tính khách quan và phổ biến: bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội và
tư duy cũng tồn tại, vận động trên cơ sở các mâu thuẫn nội tại của các mặt đối lập của nó
hoặc giữa nó với các sự vật, hiện tượng khác.
Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có
thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều
kiện lịch sử cụ thể khác nhau; giữ vị trí vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động, phát
triển của sự vật. Đó là mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, cơ bản và không cơ
bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng Trong các lĩnh vực khác nhau
cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú
trong sự biểu hiện của mâu thuẫn.
b. Quá trình vận động của mâu thuẫn
Vai trò của mâu thuẫn đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật: Sự liên hệ,
tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và
phát triển trong thế giới. “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Ví dụ : Sự tương tác giữa lực hút và lực đẩy làm cho hành tinh không ngừng
chuyển động.
Mác I Page 17 7/15/2015
Mác-Lên
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự
vận động, phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn,
phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được nguồn gốc, bản chất,
khuynh hướng của sự vận động phát triển.
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú do đó trong việc nhận thức và giải quyết
mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phân tích cụ thể từng loại
mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp. Trong quá trình hoạt động nhận thức và
thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh,
điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết
từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất.
Ví dụ: Muốn thúc đẩy chất lượng học tập của tập thể lớp lên cao thì phải nêu cao
tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình.
III. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Thực tiễn, nhận thức và vai trò của thực tiễn với nhận thức
Trong chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận nhận thức là một nội dung cơ bản của phép
biện chứng; đó là lý luận nhận thức duy vật biện chứng, tức học thuyết về khả năng nhận
thức của con người đối với thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn; lý giải
bản chất, con đường và quy luật chung của quá trình con người nhận thức chân lý, nhận
thức hiện thực khách quan nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người.
a. Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của
con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
người và con người có thể nhận thức được thế giới khách quan ấy.
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi
nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động
tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được
mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được.
Ba là, khẳng định sự phản ánh là quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo
và đi từ thấp đến cao (chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều, chưa toàn diện sâu sắc đến
Mác I Page 19 7/15/2015
Mác-Lên
toàn diện sâu sắc )
Các trình độ nhận thức
Nhận thức là một quá trình với các trình độ nhận thức khác nhau, đó cũng là quá
trình đi từ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận; từ nhận thức thông
thường đến trình độ nhận thức khoa học.
Nhận thức kinh nghiệm: Là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp
các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học. Kết
quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm bao gồm cả tri thức kinh
nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.
Hạn chế của nhận thức kinh nghiệm là chỉ dừng lại ở sự mô tả sự vật do đó chỉ đem
lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, bề ngoài, rời rạc, chưa phản ánh được bản chất
và quy luật của sự vật, hiện tượng.
Nhận thức lý luận: Là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong
việc khái quát bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau,
có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận
thức lý luận.
Nhận thức lý luận không hình thành một cách tự phát, trực tiếp do đó nó có thể đi
trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh
nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý phục vụ cho hoạt động thực tiễn.
Nhận thức thông thường: là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực
Thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức, đề ra nhu cầu, nhiệm vụ,
cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Hoạt động thực tiễn của
con người nhằm biến đổi tự nhiên và xã hội của con người làm cho các đối tượng tự
nhiên và xã hội bộc lộ ra những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa
chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất,
các quy luật vận động của thế giới, trên cơ sở đó mà hình thành các lý thuyết khoa học.
Ph. Ăngghen viết: “Từ trước tới nay, khoa học tự nhiên cũng như triết học đã hoàn
toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ. Hai môn ấy
một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng. Nhưng chính việc người ta
Mác I Page 21 7/15/2015
Mác-Lên
biến đổi giới tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự
nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã
phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Nhận thức không phải để nhận thức mà để
phục vụ cho hoạt động thực tiễn cải biến tự nhiên và xã hội. Trong lịch sử triết học có
khuynh hướng cho rằng “triết học vị triết học”, “khoa học vị khoa học”, “nghệ thuật vị
nghệ thuật”. Quan điểm triết học Mác-Lênin khẳng định rằng triết học, khoa học, nghệ
thuật đều nhằm phục vụ cho cuộc sống con người.
Thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của nhận thức. Thực
tiễn đề ra mục đích và nhu cầu cho nhận thức, thúc đẩy nhận thức phát triển. Thực tiễn
làm nảy sinh mâu thuẫn, đòi hỏi phải phát triển nhận thức mới giải quyết được. Nhờ có
hoạt động thực tiễn mà con người chế tạo những phương tiện kỹ thuật sử dụng trong nhận
thức khoa học.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức.
Thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức đồng thời
thực tiễn không ngừng bổ sung, hoàn thiện, điều chỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh và phát triển
nhận thức.
Ví dụ : Trái đất quay quanh mặt trời và tự quay quanh mình.
Tính thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức: được thể hiện ở chỗ thực
người lao động giữ vai trò quyết định. Sở dĩ như vậy là vì suy đến cùng các tư liệu sản
xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của
các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động. Trong tư liệu sản
xuất, nhân tố công cụ lao động do con người sáng tạo ra phản ánh rõ nhất trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Ngày nay, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng những
thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất làm cho các
tri thức khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển và
chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức.
Lực lượng sản xuất phản ánh quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất
của quá trình sản xuất. Thế nhưng, chỉ có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá
trình sản xuất hiện thực. Để quá trình sản sản xuất diễn ra còn phải có những quan hệ sản
xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất ấy.
Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế giữa người và người trong quá trình sản
Mác I Page 23 7/15/2015
Mác-Lên
xuất.
Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong
tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm. Những quan hệ sản xuất này
tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau, trong đó quan hệ
sở hữu tư liệu sản xuất giữa vai trò quyết định.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất
biện chứng trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất
tác động trở lại lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản
xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ
sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó. Trong quá trình sản xuất, không thể có sự
kết hợp các yếu tố sản xuất diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định; ngược lại
cũng không có quá trình sản xuất nào lại có thể diễn ra chỉ với những quan hệ sản xuất mà
phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này
tuân theo quy luật “từ sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại”, “quy
luật phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của sản xuất xã hội vừa diễn ra
với tính chất tiệm tiến, tuần tự lại vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa
và vượt qua của nó ở trình trình độ ngày càng cao hơn.
Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản
xuất. Nó là cơ sở để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ hiện
tượng xã hội và sự biến động trong đời sống chính trị, văn hóa của xã hội.
Ví dụ về mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX:
Trước năm 1986 nhà nước ta theo mô hình cơ chế kinh tế quan lieu bao cấp như tập
thể hóa công – nông nghiệp (mô hình hợp tác xã) , cấm mọi người mở công ty buôn bán ,
cấm người nước ngoài vào VN buôn bán và nhà nước nắm độc quyền về kinh tế . Do đó nó
sẽ kìm hãm LLSX phát triển dẫn đến QHSX cũng không phát triển được
Mác I Page 25 7/15/2015