Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lục
Giới thiệu chung
Chương I. Các căn cứ chủ yếu hình thành dự án
I.Các điều kiện vĩ mô ảnh hưởng tới sự hình thành dự án
1.1.Môi trường vĩ mô
1.1.1.Môi trường kinh tế vĩ mô
1.1.2.Môi trường pháp lý
1.1.3.Môi trường chính trị-văn hoá-xã hội
1.1.4.Môi trường tự nhiên
1.2.Quy hoạch phát triển nông nghiệp
II.Nghiên cứu khía cạnh thị trường sản phẩm dự án
2.1.Khái quát thị trường tổng thể
2.2.Xác định thị trường mục tiêu
2.3.Xác định sản phẩm của dự án
2.4.Dự báo cung cầu về sản phẩm của dự án
2.5.Các giải pháp tiếp thị sản phẩm
2.6.Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm
Chương II. Phân tích kỹ thuật
2.1.Lựa chọn các hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp
2.2.Xác định công suất của dự án
2.3.Lựa chọn dây chuyền thiết bị
2.4.Quy hoạch vùng nguyên liệu
2.5.Cơ cấu tổ chức nhân sự
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.6. Địa điểm xây dựng dự án
2.7.Lịch trình thực hiện dự án
Chương III. Phân tích tài chính
3.1.Dự tính tổng vốn đầu tư và cơ cấu sử dụng vốn của dự án
3.2.Dòng tiền của dự án
đầu tư trong nước và một số văn bản hiện hành cũng tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp nhằm phấn đấu đạt mục tiêu của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đề
ra.
Giới thiệu chủ đầu tư
Công ty Cổ phần Thực phẩm Đông Hà được Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp giấy
phép đăng ký kinh doanh số 11275 ngày 10 tháng 9 năm 2005.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty:
• Trồng trọt các loại cây trồng, nuôi cá, sản xuất kinh doanh, chế biến
thực phẩm, nông lâm sản phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
• Công ty được phép lien doanh với các tổ chức trong và ngoài nước.
Trong những năm qua kết quả hoạt động kinh doanh thực tế cho thấy,
doanh thu năm 2005 của công ty đạt 4 tỷ đồng, năm 2006 đạt 6tỷ
đồng. Hiện nay, công ty tiếp tục mở rộng kinh doanh để phát huy hết
tiềm năng sẵn có, khả năng thực tế là doanh thu và lợi nhuận của công
ty sẽ còn đạt cao hơn nữa.
Sự cần thiết phải đầu tư
Trong tiến trình hiện đại hoá nền nông nghiệp của Việt Nam nói chung và Hà
Nội nói riêng, việc xây dựng ngành công nghiệp chế biến thực phẩm trong đó có
mảng giết mổ là một trong những vấn đề được các cấp chính quyền quan tâm và ưu
tiên phát triển vì những lợi ích thiết thực mà Dự án này mang lại cho xã hội:
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Giải quyết vấn đề an toàn thực phẩm và văn minh đô thị
• Nâng cao giá trị chất lượng nông sản thực phẩm, hang hoá, bảo vệ
sức khỏe cho người tiêu dung và thúc đẩy tiến trình công nghiệp
hoá phù hợp với chủ trương của Nhà nước.
• Thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, góp phần chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông thôn.
• Tạo vị thế chung cho hàng thực phẩm Việt Nam trên thị trường thế
giới.
đáng kể đó đóng góp không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội và
thu nhập bình quân đầu người cả nước. Cùng với sự phát triển của cả nước, thủ đô
Hà Nội ngày càng phát huy vai trò của trung tâm kinh tế chính trị xã hội với thu nhập
bình quân người năm 2007 là 37,8 triệu đồng. Mức thu nhập ngày càng tăng khiến
nhu cầu và khả năng thoả mãn nhu cầu của người dân cả nước nói chung và người
dân Hà Nội nói riêng không ngừng gia tăng.
1.1.2.Môi trường pháp lý
Từ sau cải cách kinh tế năm 1986 Chính phủ luôn khuyến khích các doanh
nghiệp trong nước tham gia đầu tư vào hoạt động sản xuất gia tăng tổng sản phẩm
quốc nội, vì thế có rất nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp thực hiện các dự
án đầu tư trực tiếp, đây là những điều kiện pháp lý rất quan trọng và thuận lợi cho
chủ đầu tư dự án này thực hiện dự án.
Các căn cứ pháp lý của dự án
• Quyết định số 14/1999/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập
Cục quản lý chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y Tế. Mục tiêu
hoạt động xã hội của Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là xây
dựng các văn bản pháp quy về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, hệ
thống các tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, lập danh mục các
loại thực phẩm phải đăng ký chất lượng và tiến hành tổ chức các hoạt động
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm…
• Chỉ thị số 08/1999/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường
công tác đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
• Định hướng phát triển chăn nuôi từ năm 2000 đến năm 2010 của Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Quyết định số 16/2000/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số biện
pháp và chính sách phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2010.
• Nghị định số 51/2000/NĐ – TTg của Thủ tướng Chính Phủ quy định chi tiết
Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Sở Nông nghiệp
nông thôn Hà Nội, ưu tiên phát triển nghành chăn nuôi hướng tới xuất khẩu. Sản
phẩm của dự án nằm trong quy hoạch phát triển nông nghiệp nên được hưởng một số
ưu tiên khi thực hiện đầu tư.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. Nghiên cứu thị trường về sản phẩm của dự án
2.1. Phân tích đánh giá thị trường tổng thể
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu tiêu dùng của người dân cả
nước nói chung và của người dân thủ đô Hà Nội nói riêng ngày càng tăng cao, trong
số đó nhu cầu lương thực thực phẩm nhất là thực phẩm chứa hàm lượng chất đạm
cao như thịt lợn cũng gia tăng. Qua khảo sát 1000 hộ gia đình Hà Nội về lượng tiêu
thụ thịt lợn hàng tuần kết quả là trong 1000 hộ có 800 hộ tiêu dùng thịt lợn thường
xuyên và liên tục trong các bữa ăn. Mỗi tuần lượng thịt lợn tiêu thụ trong nội thành
Hà Nội là 1,2 tấn. Như vậy cầu về thịt lợn khu vực nội thành Hà Nội là rất lớn, đây là
thị trường tiềm năng và vẫn còn chỗ trống cho doanh nghiệp gia nhập.
2.2. Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là địa bàn Hà Nội
2.3. Xác định sản phẩm của dự án
Sản phẩm của dự án phân ra làm 2 dòng chính: sản phẩm thịt lợn tuơi sống và chế
biến sẵn đóng hộp.
• Sản phẩm thịt lợn tươi sống: thịt nạc, xương, mỡ, phủ tạng…
• Sản phẩm chế biến sẵn đóng hộp: pa-tê, giăm bong, xúc xích…
2.4. Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án trong tương lai
a. Dự báo nhu cầu thị trường về sản phẩm
Nhu cầu tiêu dung của thị trường nội địa
Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để dự báo nhu cầu thị trường sản phẩm:
Song song với tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân, lượng thịt nói chung tiêu
thụ bình quân đầu người không ngừng tăng lên. Theo thống kê, lượng thịt tiêu thụ
bình quân trên đầu người cả nước năm 2006 là 17,6kg lợn hơi tương đương 12kg thịt
30.000 45.000 65.000
Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn- chương trình phát triển giống
lợn năm 2000-2010
Số liệu từ bang 1 và 2 cho thấy, với tốc độ đàn lợn tăng 4-5 %/năm và mức
tăng sản lượng thịt hơi 7-8%/năm thì con số thiếu hụt phải nhập từ các vụng
phụ cận là rất lớn.
Bảng 1.3. Nhu cầu thiếu hụt cần bổ sung cho Hà Nội.
Năm 2000 2005 2010
Tổng đàn lợn
(con)
421.000 570.000 821.000
Sản lượng thịt hơi
(tấn)
40.000 55.000 78.000
b. Dự báo nhu cầu cung sản phẩm
Phương pháp dùng để xác định nhu cầu cung sản phẩm dự án là phương pháp ngoại
suy thống kê:
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam:
Nước nhập khẩu Năm 2004
Nga 15.000
Hồng Kông 12.000
Trung Quốc+Lào 5.000
Malayxia 2.000
Cộng 34.000
Nguồn: Vietnam Economic Times số 56 ngày 10/5/2001
Nhu cầu nhập khẩu thịt lợn năm 2006 cuả một số nước:
Nga: 603.000 tấn
Nhật Bản: 1.070.000 tấn
công suất, không có quy hoạch riêng từng khu ( khu cách ly gia súc ốm,khu nhốt gia
súc chờ giết mổ), phương thức hoạt động mua bán, giết mổ diễn ra trên cùng một
diện tích gây mất vệ sinh, chưa có hệ thống xử lý nước thải phù hợp, vị trí lò mổ quá
gần khu dân cư và 100% gia súc đưa vào giết mổ không có giấy kiểm dịch.
Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội và nhằm phấn đấu đáp ứng
tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, trên địa bàn Hà Nội cũng mới chỉ có Công ty
thực phẩm Hà Nội lắp đặt xong dây chuyền giết mổ hiện đại của Đan Mạch và Đức,
công suất 50 đầu lợn/giờ.
Có thể nói rằng thị trường đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
trên địa bàn Hà Nội hiện nay còn rất thiếu, trong khi nhu cầu về thịt sạch lại rất lớn
và ngày càng gia tăng.
2.5. Các vấn đề tiếp thị sản phẩm
Sản phẩm dự kiến được đến với đông đảo người tiêu dung ban đầu thong qua
quảng cáo trên phương tiện truyền thong như đăng báo Người Tiêu Dùng, Tiêu dung
và tiếp thị, báo Mua Sắm, báo Lao Động… và quảng cáo trên đài tiếng nói Việt Nam.
Ngoài phương pháp quảng cáo truyền thống trên, chủ đầu tư còn tiếp thị đến từng
chợ đầu mối và các siêu thị trong nội thành Hà Nội. Phương Pháp tiếp thị giới thiệu
trực tiếp đảm bảo chắc chắn nhất là thong tin về sản phẩm đã đến được với người
tiêu dung vì nhân viên tiếp thị trực tiếp đến từng siêu thị và chợ đầu mối làm việc và
thu thập ý kiến của họ.
Chủ đầu tư còn xây dựng hệ thống đại lý chuyên phân phối các sản phẩm của
dự án. Có thể nói mô hình đại lý tiêu thụ sản phẩm này còn khá mới mẻ trên thị
trường vì các đại lý đang hoạt động hiện nay chủ yếu bán sản phẩm hang gia dụng
hoặc các nhu yếu phẩm hang ngày. Chủ đầu tư tin vào phương pháp tiếp thị sản phẩm
độc đáo này sản phẩm của dự án sẽ nhanh chóng có được chỗ đứng trên thị trường.
2.6. Khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường
Khảo sát thị trường sản phẩm
Phương thức giết mổ và phân phối
Theo phương thức giết mổ truyền thống, lợn sống đưa thẳng từ vùng chăn
nuôi xung quanh thành phố vào nội thành trên các phương tiện thô sơ và giết mổ thủ
CP Group là một công ty có quốc tịch Thái Lan đã đầu tư một nhà máy thức ăn gia
súc tại tỉnh Bình Dương và tổ chức một mạng lưới chăn nuôi rộng khắp. Để đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm của nhà máy, CP đã tổ chức mở rộng đầu tư vào thị trường
chăn nuôi, trong đó có cả nuôi lợn tại các tỉnh trong cả nước.
Với phương thức tổ chức đội ngũ bác sĩ thú y chăm sóc cho từng nhóm nông
hộ đã ký hợp đồng chăn nuôi với CP. Gần như tỷ lệ hao hụt đầu vào so với đầu ra của
các hộ chăn nuôi là không đáng kể ( trên 99 đầu lợn thu về so với 100 lợn sữa giao
cho nông hộ). Toàn bộ thức ăn, thuốc thú y cho lợn do CP cung cấp. Nông dân chỉ
phí công chăm sóc và chuồng trại với mức thu nhập 50.000 đồng/đầu lợn và bình
quân đầu lợn/ hộ thì tổng thu nhập của mỗi hộ trong vòng 4 tháng đạt 5 triệu đồng.
Sản phẩm lợn thịt mảnh sau khi chế biến giết mổ được xuất khẩu sang Thái
Lan là chủ yếu. Các phụ phẩm ( long, da, long, tiết…) tiêu thụ nội địa và làm nguyên
liệu chế biến thức ăn gia súc.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Có thể thấy đây là một điển hình về chăn nuôi và giết mổ an toàn vệ sinh thịt
lợn đáng nghiên cứu để tổ chức cho vùng nguyên liệu và thị trường tiêu thụ của dự
án.
Các sản phẩm chế biến
Phương thức chế biến và phân phối
Trên thị truờng các sản phẩm chế biến, sự xuất hiện các nhà sản xuất tại khâu
chế biến kèm theo việc gắn các nhãn mác và đăng ký thương hiệu sản phẩm cùng với
việc tiếp thị thương hiệu có làm cho việc truy nguyên nguồn gốc các sản phẩm trở
nên có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên mức độ kiểm soát và đăng ký thương hiệu có khác
nhau giữa 2 chủng loại cao cấp và truyền thống.
Các sản phẩm cao cấp gần như do các nhà máy và các công ty có uy tín ( như
Vissan, Hạ Long, Đức Việt..) tập trung tiếp thị. Điều đó làm cho quá trinh truy
nguyên nguồn gốc thực phẩm trở nên thuận tiện và có căn cứ hơn. Mặc dù vẫn còn
một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu chế biến được mua từ các lò mổ thủ công hoặc không xác
định nguồn gốc. Nhưng nói chung vệ sinh an toàn của các sản phẩm này được “đảm
cao cấp và truyền thống là không thể bỏ qua.
Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh với nhiều phương thức giết mổ và kinh doanh
lợn thịt khác nhau, từ mô hình giết mổ truyền thống tới mô hình giết mổ tập trung, có
những đối thủ chỉ là một số lò mổ địa phương mang tính chất làm ăn nhỏ lẻ cho tới
đối thủ đã có vị thế trên thị trường như Vissan, những yếu tố trên đòi hỏi chủ đầu tư
phải có một chiến lược kinh doanh riêng biệt, độc đáo mới có khả năng thu hút khách
hang và có chỗ đứng trên thương trường.
Do yêu cầu về mặt nguồn gốc xuất xứ của lợn nuôi cung cấp cho dự án phải
đạt tiêu chuẩn vệ sinh và chất lượng đảm bảo nên giá thành đầu vào của dự án không
thể thấp hơn giá đầu vào của các lò mổ hoặc các công ty chế biến thực phẩm khác.
Nhưng do quy mô giết mổ rộng lớn và công suất dây chuyền giết mổ tự động ở thời
kỳ phát huy hết công suất rất cao nên có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí - điều
mà các lò mổ khác không thể làm được. Do đó, giá thành của sản phẩm cũng không
bị đội lên quá cao.
Chiến lược cạnh tranh sản phẩm của dự án là về sự độc đáo và chất lượng sản
phẩm. Thịt lợn đảm bảo vệ sinh ngay từ đầu vào và thực hiện giết mổ đảm bảo vệ
sinh trong tất cả các khâu giết mổ tự động nên người tiêu dung hoàn toàn yên tâm về
mức độ an toàn vệ sinh. Những sản phẩm đồ hộp chế biến sẵn có hương vị khác biệt
với sản phẩm khác đang có mặt trên thị trường nên không khó khăn trong việc tạo
chỗ đứng. Qua thử nghiệm cho 100 người dung thử sản phẩm pa-tê thì 80% nhận ra
sự khác biệt trong hương vị và khen ngon. Mặt khác, chiến lược cạnh tranh bằng hệ
thống đại lý cũng là điểm mạnh của dự án. Sau đây là chính sách với đại lý các cấp.
Các điều kiện chung để làm đại lý
Điều kiện bắt buộc
• Có cửa hang ở vị trí thuận lợi cho bán hang thực phẩm ( gần khu dân cư, khu
vực trong hoặc xung quanh chợ đuợc phép kinh doanh, gần đường giao
thong…).
• Có vốn lưu động từ 30 triệu trở lên.
• Đủ các hồ sơ chứng minh tư cách hợp pháp để đăng ký kinh doanh/
Điều kiện được ưu tiên:
b. Đại lý cấp 2
• Số lượng khoảng 20 đại lý
• điều kiện bổ sung:
• Vốn lưu động ít nhất 50 triệu đồng.
• Có năng lực giao hang bằng phương tiện xe máy đạt yêu cầu chở thực phẩm.
• Có khả năng điều hành đội ngũ nhân viên bán hang tận tâm.
• Giá cả, thanh toán, đào tạo, chi phí lưu động áp dụng giống như với đại lý cấp
1
Trách nhiệm và quyền lợi đối với đại lý cấp 2
• Tiêu thụ : 0,6-0,7 tấn thịt tươi và 0,03-0,2 tấn SP chế biến/ngày.
• Chiết khấu: 4% doanh thu bán hang.
• Đầu tư nâng cấp ban đầu tại cửa hang theo tiêu chuẩn: tuỳ thuộc vào vị trí mà
công ty sẽ đầu tư bằng 50% so với đại lý cấp 1
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Thời hạn hợp đồng từ 5-7 năm.
• Có thể tiêu thụ các thực phẩm sạch khác nhưng không là sản phẩm cạnh tranh
trực tiếp.
c. Đại lý cấp 3
• Sẽ phát triển khoảng 60-80 đại lý cho đến thời kỳ 3
• Giá cả, thanh toán, đào tạo, chi phí lưu động giống như đại lý cấp 1,2.
• Tiêu thụ: 0,4-0,5 tấn thịt tươi và 0,01-0,1 tấn SP chế biến/ngày.
• Chiết khấu: 3% doanh số bán hang
• Công ty hỗ trợ đào tạo, cung cấp một số máy móc trang thiết bị bán hang và
trang trí theo tiêu chuẩn của công ty, không có đầu tư nâng cấp toàn bộ như
đại lý cấp 1,2.
• Thời hạn hợp đồng linh hoạt từ 2-5 năm.
• Trưng bày độc quyền và giành riêng ít nhất 50% diện tích của cửa hang cho
sản phẩm của công ty.
Chương II. Giải pháp kĩ thuật của dự án
thi nhất
a) Nhu cầu thị trường hiện tại và trong tương lai:
Nghiên cứu nhu cầu thịt lợn tươi sống của thị trường Hà Nội đến năm 2010,
thấy rằng vào năm 2005, Hà nội tiêu thụ 100.000 tấn lợn hơi /năm (tương đương với
159.000 con lợn loại 90 kg, hay 100.000 tấn thịt móc hàm). Nếu gộp cả phần dự tính
xuất khẩu, thì con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều.
b) Các đơn vị tham gia cung ứng:
Trên địa bàn Hà Nội có công ty thực phẩm Hà Nội, công ty Haprosimex, Hợp
tác xã Liên Minh các trang trại chăn nuôi lợn siêu nạc và chế biến xuất khẩu là có dây
chuyền giết mổ. Công suất dây chuyền giết mổ của 3 đơn vị trên dự tính như sau:
Tên đơn vị Côngsuất
(con/giờ)
Sản lượng
(tấn hơi/năm)
Sản lượng
(tấn xẻ thịt/năm)
Công ty TP Hà Nội 50 9.450 6.615
Haprosimex 80 15.120 10.584
HTX Liên Minh 50 9.450 6.615
Tổng cộng 180 34.020 23.814
Các giả thiết tính toán
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Tỷ trọng bình quân 90kg/ con
+ Tỷ lệ cân móc hàm 70%
+ Thời gian vận hành dây chuyền 7h/ ca/ ngày
+ Số ngày hoạt động trong năm 300 ngày
Nếu khả năng tiêu thụ được tốt thì thời gian vận hành dây chuyền giết mổ của 3 đơn
vị trên có thể tăng thêm. Tuy nhiên, việc tăng sản lượng giết mổ còn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác trong đó quan trọng nhất là cung ứng yếu tố đầu vào.
lợi như sau:
+ Đội ngũ cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có năng lực, nhanh nhạy và khả năng nắm
bắt xử lý thông tin cao.
+ Đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong tổ chức vùng nguyên liệu.
+ Kinh nghiệm sản xuất kinh doanh thương mại sẽ giúp sản phẩm của nhà máy nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trường.
g) Khả năng về nguồn vốn đầu tư:
Dự kiến nguồn vốn đầu tư sẽ được huy động từ các nguồn sau đây:
+ Ngân sách cấp
+ Vay Quỹ hỗ trợ phát triển
+ Vốn tự có
Xác định công suất
Từ những số liệu và phân tích trên đây, thấy rằng để thay thế loại trừ các lò mổ
không đạt tiêu chuẩn về VS & ATTP, đáp ứng toàn bộ nhu cầu thịt sạch cho riêng
khu vực Hà Nội, cần ít nhất 5 nhà máy giết mổ hiện đại có công suất 100- 120 con
lợn (90kg)/giờ.
Do đó, dự kiến công suất lựa chọn cho các dây chuyền giết mổ và chế biến của dự án
như sau:
+ Dây chuyền giết mổ:
Công suất 100 con lợn ( bình quân 90kg)/giờ, tương ứng 210.000 con/năm hay
18.900 tấn hơi/ năm (nếu nhà máy chỉ hoạt động 1 ca/ ngày và 300 ngày/năm).
Số liệu Bảng 1 cho thấy, nhu cầu thịt lợn hơi của Hà Nội vào năm 2005 tối thiểu
khoảng 100.000 tấn. Với công suất giết mổ như trên thì Nhà máy đáp ứng được xấp
xỉ 1/5 nhu cầu.
+ Thiết bị chế biến sản phẩm:
Từ 4 đến 6 tấn sản phẩm ca/ ngày. Dự kiến nhà máy sẽ sản xuất pa-tê, xúc xích, giăm
bông và một số sản phẩm truyền thống. Trong đó sản phẩm pa-tê hộp, giăm bông,
xúc xích sẽ được sản xuất ngay từ thời kỳ đầu.
Cơ cấu sản phẩm:
Thời kỳ 1(6/2009 đến tháng 6/2010) được dự kiến như sau:
+ Pa-tê: 25%
2.3. Lựa chọn dây chuyền thiết bị
2.3.1.Các đặc trưng của dây chuyền thiết bị được mô tả dưới đây:
A. Qui trình giết mổ:
a) Khu chuồng nhốt lợn trước khi giết mổ
Lợn được tập kết vào một khu chuồng tập trung, xây dựng trong một khu vực tách
riêng với khu vực giết mổ. Ngoài ý nghĩa tập trung lợn ở khu đầu vào, khu chuồng
này còn có chức năng dự phòng nguyên liệu nên số lượng đầu lợn thường xuyên phải
đảm bảo cho nhà máy hoạt động ½ đến 1 ca trong thời kỳ đầu và 2 ca trong những
năm tiếp theo. Chính vì vậy, quy mô chuồng phải đủ chố chứa 700 con ( thời kỳ đầu)
và mở rộng công suất lên 1.400 con ( những năm tiếp theo).
Từ chuồng nhốt, lợn được đưa đến khu vực tiếp nhận. Ở đó có một phòng kiểm định
lợn sống. Tại đó, lợn sẽ được đếm và kiểm định trước khi giết mổ bởi bác sỹ thú y.
Lợn sẽ được kiểm định sẽ được đưa đến khu chờ. Để lợn không gây tiếng ồn và tránh
xô đẩy nhau, sẽ có đường dẫn lợn từ khu tiếp nhận lợn đến khu chờ. Khu chờ sẽ được
chia thành từng ngăn để xếp lợn thành từng nhóm nhỏ vì vậy giữ được lợn trật tự yên
tĩnh.
b) Gây mê và chọc tiết:
Có hai phương pháp gây mê: Gây mê bằng điện hoặc gây mê bằng khí. Thông thường
người ta sử dụng gây mê bằng điện.
Dụng cụ gây mê bằng điện gọi là kìm kẹp điện hoặc que gây sốc điện. Từ khu chờ,
lợn được dẫn vào cũi gây mê làm bằng kim loại và có cửa. Trong cũi này bố trí các
thiết bị gông thủy lực tự động. Khi lợn được đẩy đến cuối cũi, thiết bị gông sẽ giữ
chặt thân lợn lại, còn đầu thò ra ngoài. Người công nhân đứng phía ngoài. Người
công nhân đứng phía ngoài sẽ dùng kìm điện hoặc gí đầu que gây sốc điện vào đầu
lợn. Sau khi bị ngất, thiết bị gông tự động mở ra và con lợn được được đưa đến bàn
chọc tiết bằng băng tải. Tại đây một công nhân sẽ thao tác chọc tiết bằng dao khử
trùng. Tiết chảy đến ngăn dưới bàn chọc tiết. Mặt bàn chọc tiết là hệ thống băng
chuyền con lăn. Chiều dài của bàn chọc tiết được tính toán sao cho đủ thời gian sao
cho tiết chảy hết khi con lợn lăn đến cuối bàn. Đến cuối bàn, một chân sau của con
Nếu không sử dụng máy làm sạch và đánh bóng da tự động, người ta có thể thực hiện
công đoạn này theo phương pháp thủ công (cạo hết những lông tơ còn sót bằng dao).
e) Lông lợn:
Thông qua việc bơm tuần hoàn nước qua sàng chữ U, lông lợn sẽ được tách ra khỏi
nước nóng, rồi được chuyển đến bể chứa lông bằng băng chuyền. Từ đây bể chứa,
lông sẽ được ép hết nước, đóng thành bánh. Nếu không sử dụng băng chuyền, có thể
cho lông vào các xe đẩy và chuyển đến các thùng chứa lông để chuyển đi.
f) Lấy nội tạng
:Sau khi được làm sạch, lợn được đưa đến khu vực mổ và lấy nội tạng. Chu trình mổ
được tiến hành bởi nhiều thao tác được thực hiện bởi các công nhân đứng trên các
bục thứ tự. Trong quá trình thao tác mổ và lấy nội tạng thì lợn vẫn được treo trên các
ray. Tại bục (1), công nhân sẽ cắt bỏ hậu môn và mổ bụng bằng dao. Bục (2), lợn sẽ
được mổ để bóc tách dạ dày và cắt các bộ phận nội tạng mầu trắng. Phần nội tạng
màu trắng sẽ được vào các thùng đựng trên băng chuyền tự động và được đưa vào
băng chuyền màu trắng. Bục (3), ức lợn được xẻ ra bằng cưa điện (cũng có thể bằng
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dao). Bục (4), cắt cơ hoành. Công nhân tại bục (5) sẽ cắt các phần nội tạng mầu đỏ
(tim, cật, phổi,…) và chuyển vào các thùng đựng trên băng chuyền này sẽ được đưa
vào các thùng đựng trên băng chuyền tự động và các băng chuyền này sẽ được đưa
vào các băng chuyển nội tạng mầu đỏ. Cuối cùng, tại bục (6), lợn sẽ được xẻ đôi dọc
theo xương sống bằng cưa điện.
g) Kiểm dịch thú y đối với các bộ phận của lợn:
Việc vận chuyển lợn đã mổ trên các ray làm sạch được tiến hành đồng thời với hoạt
động của các băng tải kiểm dịch nội tạng và các bộ phận nội tạng và các bộ phận màu
đỏ nằm ở phía trên. Hai hệ thống này được thiết kế sao cho tất cả các bộ phận khác
nhau của cùng một con lợn đều đến vị trí kiểm dịch cùng một lúc. Sau kiểm dịch, các
mảnh thịt xẻ sẽ được cân và chuyển đến khu phân phối để chuyển đi hoặc đưa vào
phòng lạnh.
Những con lợn bị thải loại sau kiểm dịch thú y hoặc còn nghi ngờ sẽ được chuyển
9) Thiết bị đánh bóng
10) Cưa xẻ thiệt
11) Cân kiểm tra
12) Sàn thao tác
13) Bộ phận pha thịt, lọc xương
14) Thiết bị thu gom và tách nước cho lông
C. Thiết bị vệ sinh:
1) Bồn rửa tay
2) Thiết bị thanh trùng dao
3) Thiết bị thanh trùng cưa
D. Hệ thống băng chuyền trên cao:
1) Xe đẩy cùm cho lợn
2) Hệ thống nâng lợn lên ray ống.
3) Hệ thống ray chuyền móc.
4) Hệ thống băng chuyền tháo cùm tự động
5) Thiết bị tháo cùm tự động
6) Xe đẩy móc cho lợn
7) Thiết bị nâng móc cho lợn
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
8) Hệ thống ray mổ lợn
9) Băng chuyền mổ lợn
10) Băng chuyền phủ tạng
11) Hệ thống treo thứ cấp bằng thép
E. Hệ thống điện:
1) Tủ điện chính
2) Bảng điều khiển
3) Màn hình hiển thị các thông số hoạt động và nguyên nhân sự cố
F. Thiết bị chế biến:
a) Xúc xích:
C.
Sau thời gian lưu trong kho làm mát khoảng 12-14 giờ, nhiệt độ mảnh thịt giảm còn
±7
0
C. Thông thường, quá trình pha chế được thực hiện sau khi thịt đã đạt đủ độ lạnh
( khi được làm lạnh, miếng thịt sẽ không mất nước và săn lại. Do đó tránh được hao
hụt và việc pha chế thuận lợi hơn).
Để phục vụ nhu cầu xuất khẩu thịt mảnh đông lạnh, từ kho làm mát, sản phẩm sẽ
được hạ xuống - 18
0
C sau 14- 18 giờ. Khâu cuối cùng, chuyển sang kho lạnh bảo
quản lạnh sản phẩm luôn ở nhiệt độ - 18
0
C.
Tuy nhiên, theo tính toán thì trong giai đoạn 1 và 2, sản phẩm của nhà máy sẽ được
tiêu thụ tại thị trường nội địa, nên chủ trương chưa đầu tư xây dựng kho lạnh và kho
bảo quản lạnh mà chỉ trang bị kho làm mát với công suất lưu trữ được tính dự phòng
cho cả thời kỳ 2 khi nhà máy hoạt động 1 ca/ ngày.
Kho làm mát
Các thông số của kho lạnh hoàn chỉnh với thiết bị nhập toàn bộ:
+ Công suất trữ của kho: 80 tấn thịt mảnh.
+ Kích thước kho (DxRxC): 10.000 mm x 9.000 mm x 3.500mm.
+ Điện áp: 380V, 3 pha, 50 Hz
+ Tiêu thụ điện: 10 kW/ giờ.
Về phương tiện vận tải:
Nhu cầu phương tiện vận tải được tính toán trên cơ sở phân kỳ hoạt động của nhà
máy như sau:
25