!"!"
#$%&&$'()*
#+, , ,
!"/012/
$345(36&$78&9(:;()*#<<=>&15?(3@&$
A/-,B.
!"!"
!"/012/
A/-,B.
!CD
!
"#$%&'#(%)*+!#,-./01%2"3
&.(45!6(27,#89:;<=>
$?;@!2;*AB;9C"DE#8F
E7G#9H!<I=.J#,-"K2K
!8L*./#1M2**. *>
*N
)*+!OP QPOR
)&
/,87! 0
%87!FFG2)0
$87!H %
(87!*B -
-"2 87! 4
087!!!%5
487!)!!%%
5':B 87!%-
87!':B2:7%-
87!':B/7%4
!226'*B"' ',$
%/,! $
$!*B $
(!FFG2)$%
-!H $$
0:I;7JK!$(
4/!9 'L*M!!$(
5/!9 '*M!!$0
/?@!!226'*B"' ',(
/!!N?O(
/!!NPO(%
%87!!N"<O (%
$87!!N*O ((
(87!!N7Q<QO(-
-/K!!226'*B"' ',(4
0!!. (4
4!! (4
5!!F L (4
!!-5
E87*. -
phát triển của ngôn ngữ là lập luận. Biết lập luận là chúng ta biết dùng ngôn ngữ để
dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đó mà ta
muốn. Do đó, “.(.*@.U@ V%,+!*
:("U"=@!*B,*#1!*W=,,<&
” [17, 2].
Chúng ta có thể tìm thấy lập luận ở mọi nơi trong đời sống hàng ngày, từ lời
mặc cả của những người buôn bán ngoài chợ, cho đến lời giảng dạy của cô giáo hay
trong lời bào chữa của luật sư,… Càng ngày, lập luận càng tham gia thiết thực vào
cuộc sống. Trong đó, có một địa hạt lập luận không chỉ thể hiện tư duy sắc sảo và
năng lực hoạt động ngôn ngữ của người nói mà còn tạo ra nguồn giải trí vui vẻ, thú
vị như một thứ vitamin bồi bổ cho cuộc sống, đó là “
”.
Xã hội ngày càng phát triển, sự cạnh tranh và áp lực càng nhiều thì con người
càng cần lắm những tiếng cười vui. Truyện cười hiện đại phát triển nhanh cũng vì lẽ
đó. Nó đã cung cấp một món ăn tinh thần lành mạnh, giàu giá trị giải trí và không
thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Đọc truyện cười, chúng ta không chỉ được
cười vui sảng khoái, xả được bao “stress” từ bộn bề cuộc sống mà còn phát hiện ra
cách tư duy, lập luận thông minh, hài hước của tác giả truyện cười. Từ sự yêu thích
tiếng cười hiện đại và trăn trở cắt nghĩa thủ pháp tạo nên tiếng cười, chúng tôi lựa
chọn đề tài !"#$%. Đề tài hi vọng
đóng góp một hướng khai thác truyện cười Việt Nam hiện đại tương đối mới, qua
đó, tìm thêm những thủ pháp gây cười mới, mở rộng hướng tìm kiếm thi pháp
truyện cười nói chung và truyện cười Việt Nam hiện đại nói riêng.
-< !L*(MN&$(5O&*PQ
&'&' ()*+
Văn chương là một địa hạt chứa rất nhiều lập luận. Chúng ta có thể tìm thấy
lập luận trong những câu tục ngữ, danh ngôn rất ngắn gọn, lập luận trong truyện
1
ngụ ngôn, truyện cười, văn xuôi trung đại, văn xuôi hiện đại… thậm chí nhiều bài
thơ cũng có lập luận. Đã có nhiều công trình nghiên cứu chung hướng đi “lập luận”,
2
@*!3Wc*#;%,a*U9,3
# ,+!3*,%” [17, 2]. Từ những gợi ý thú vị,
hấp dẫn của cuốn sách và niềm yêu thích truyện cười Việt Nam hiện đại, chúng tôi
đã tổng hợp một số phương pháp dưới góc độ lập luận và dẫn chứng bằng tư liệu
truyện cười.
&',' ()*+-.-/
Truyện cười hiện đại là một mảng đề tài lí thú với nhiều hướng khai thác đã
cho hiệu quả bất ngờ như: dưới góc độ ngữ dụng học, dưới góc độ lô-gic, dưới góc
độ ngữ pháp văn bản hay dưới góc độ ẩn dụ tri nhận…
Năm 2005, cuốn luận văn thạc sĩ d;@((#""@#
b@@,%e"5,U1X&f của Chu Thị Thanh Tâm [39] đã
bao quát khá trọn vẹn truyện cười Việt Nam hiện đại trên quan điểm ngữ dụng học.
Lấy tiêu chí đi tìm sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng học, luận văn đã chỉ ra các biện
pháp gây cười trong truyện cười như:
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc chiếu vật, chỉ xuất
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hành động ngôn ngữ
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc lập luận
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hội thoại
- Biện pháp gây cười bằng hàm ngôn
Dưới góc độ lập luận, luận văn phân xuất được một số biện pháp gây cười là:
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc hiện diện của các thành phần
trong lập luận
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc sử dụng chỉ dẫn lập luận
- Biện pháp gây cười bằng sự vi phạm quy tắc vận dụng cơ sở lập luận
Trên thực tế, truyện cười hiện đại không chỉ gây cười bằng cách vi phạm các
quy tắc lập luận. Nhiều truyện cười tuân thủ và vận dụng chính các quy tắc lập luận
để tạo nên tiếng cười, ví dụ: gây cười bằng kết luận tường minh, kết luận hàm ẩn,
gây cười bằng tiền đề sai lầm, tiền đề hàm ẩn, gây cười bằng vận dụng sai lẽ
thường, Luận văn “ !"#$” của
nhận thấy rằng lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại không phải lập luận lô-
gic nên nó liên tục vi phạm các quy tắc của lô-gic hình thức như một điều tất yếu.
Khai thác truyện cười dưới góc độ lô-gic còn có tuyển tập C9#9
của tác giả Nguyễn Đức Dân [10] (được coi là cơ sở cho luận văn của Đặng Thị
Hồng Nhung) và cuốn C"@#J của hai nhà giáo trường Đại học Quốc gia
Huế - Phan Trọng Hòa, Phan Thị Đào [25]. Đây đều là các công trình có mục đích
4
chính là tổng hợp truyện cười. Tuy nhiên, ở phần mở đầu, các tác giả đã thể hiện
quan điểm của mình về truyện cười lô-gic và đúc rút các phương thức gây cười
bằng lô-gic. Nguyễn Đức Dân nghiên cứu các phương thức gây cười trên hai mối
quan hệ: lô-gic và truyện cười, ngôn ngữ và truyện cười. Phan Trọng Hòa và Phan
Thị Đào gọi tên nghệ thuật gây cười là nghệ thuật “ứng xử” và tìm ra các thủ pháp
gây cười trên cơ sở phân tích các hình thức ứng xử trong truyện cười là khái niệm,
phán đoán, suy luận, chứng minh và bác bỏ.
Bên cạnh các công trình công phu như sách, luận văn, một số bài báo trên tạp
chí cũng tiếp cận đối tượng thú vị này. Gần đây nhất là hai bài báo i+3Y((
%*h#""@#=%của tác giả Hoàng Kim
Ngọc [31] và i+393;"#;j của tác giả Trần
Trọng Nghĩa [29]. Trong giới hạn bài báo nhỏ, các tác giả cũng có những khám phá
thú vị về thủ pháp gây cười trong truyện cười hiện đại.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về tiếng cười nói chung và
tiếng cười dân gian nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam làm cơ sở lí luận cho
chúng tôi nghiên cứu truyện cười hiện đại. Có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu mĩ học về cái hài của Scorat, V. Jankelevitch, Henri Bergson,… hay các cuốn
sách, luận văn về truyện cười dân gian như: C"@ #1 b@
(Trương Chính, Phong Châu biên soạn) [7], C"@#*@(="@
# (Đỗ Bình Trị) [44], d*""@#1 (luận án phó tiến sĩ ngữ
văn của Nguyễn Văn Tiêm, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội
năm 1996) [41],…
Như vậy, nhìn vào lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy đề tài và hướng nghiên
&'9' :8+
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ của
luận văn là:
- Dựa trên các thành phần của lập luận, các chỉ dẫn lập luận và cơ sở của lập
luận, chúng tôi tiến hành phân tích truyện cười Việt Nam hiện đại đã vận dụng và vi
phạm quy tắc lập luận như thế nào để tạo nên tiếng cười.
- Bằng phép chứng minh phản chứng, chúng tôi nhận thấy lập luận trong
truyện cười Việt Nam hiện đại là lập luận đời thường, không phải lập luận lô-gic,
nên nó sẽ vi phạm hầu hết các quy tắc lô-gic. Do đó, nhiệm vụ thứ hai của luận văn
là chứng minh truyện cười Việt Nam hiện đại vi phạm một loạt nguyên lí cơ bản
của tư duy và suy luận lô-gic – những cơ sở của lập luận lô-gic.
6
\< ]5J3@&$XKT(^?X5&$(5O&*PQ
&';' <=+
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là truyện cười Việt Nam hiện đại có
phương thức gây cười bằng lập luận.
&'>' ? :+
Truyện cười Việt Nam hiện đại là nguồn ngữ liệu rất rộng, phong phú lại liên
tục được bổ sung và có thể lẫn với các truyện cười dịch nên chúng tôi lựa chọn 153
truyện cười đã được tuyển tập trong 13 cuốn sách và một số truyện cười được lấy
trên các trang báo mạng làm tư liệu nghiên cứu. Cụ thể là:
1. Phan Trọng Hòa, Phan Thị Đào (2006), C"@#J, NXB Văn học,
Hà Nội.
2. Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), ^@*;H, NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội.
3. Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), d#*#, NXB
Văn hóa thông tin, Hà Nội.
4. Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), d#@,%, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
5. Việt Hùng (sưu tầm và biên soạn) (2013), d##*, NXB Văn hóa
Việt Nam hiện đại.
9'4'?@--
Phương pháp so sánh giúp chúng tôi tìm ra đâu là cơ chế hay được sử dụng để
gây cười trong truyện cười Việt Nam hiện đại
9'7'?@-
Phương pháp tư duy và hệ thống giúp chúng tôi tiến hành khái quát , tổng hợp
kết quả phân tích trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn theo một hệ
thống hợp lí, chặt chẽ.
9'9'?@-+ C+
Phương pháp chứng minh phản chứng được chúng tôi áp dụng để chứng minh
lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại là lập luận đời thường.
8
a< bQJ=c*VQW&XY&
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được chia
thành ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận
Trong chương này, chúng tôi xem xét hai vấn đề sau: lí thuyết lập luận và khái
quát về truyện cười.
Chương 2. Cấu trúc lập luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu cấu trúc của lập luận trong truyện cười
Việt Nam hiện đại bao gồm: kết luận, luận cứ, các chỉ dẫn lập luận và quan hệ lập
luận. Từ đó, chúng tôi khái quát thành các thủ pháp gây cười bằng cấu trúc lập luận.
Chương 3. Cơ sở lập luận và một số thủ pháp gây cười do vi phạm quy tắc của
lập luận lô-gic trong truyện cười Việt Nam hiện đại
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu lẽ thường - cơ sở của lập luận trong
truyện cười Việt Nam hiện đại , đồng thời chỉ ra sự vi phạm một loạt các quy tắc
của lập luận lô-gic để tạo ra tiếng cười.
9
(3_&$B
DE!de
**("US",`!*#"6Y#b@<[>
q là: “*(m@.%/H,%Y[>
k là: “*.(",1%&[>
l là: “K"S 7FS*_Y1+[>
10
&'&'&','G5HI.-J!6K
Không có diễn ngôn nào không phải lập luận. Đơn giản, một diễn ngôn miêu
tả cũng không phải chỉ để phản ánh một hiện thực, sự kiện bên ngoài ngôn ngữ
bằng lời nói. Rất ít khi chúng ta miêu tả chỉ để miêu tả. Thông thường, chúng ta
miêu tả là để hướng người nghe đến một điều gì đó nằm ngoài sự vật, hiện tượng
được miêu tả. Cái mà thông tin miêu tả hướng tới chính là một kết luận rút ra từ nó.
Do đó, một diễn ngôn miêu tả cũng tiềm ẩn một lập luận.
Lập luận có thể xuất hiện trong một phát ngôn, một diễn ngôn đơn thoại hoặc
trong văn bản viết một chiều nhưng cũng có thể xuất hiện trong đoạn thoại. Vậy, lẽ
dĩ nhiên mỗi truyện cười ít nhất chứa một lập luận. Xét truyện cười sau đây:
L,MNFOPQRST
JT2:o
Jp#+ka>
Jb*7U9/2:o
JC`*q>C/Y*;`N
ed#L#" f
Cuộc hội thoại giữa đôi bạn trẻ yêu nhau trên chứa một lập luận. Chàng trai đã
khẳng định hai luận cứ: thứ nhất là Ze2f#+ka[ và thứ hai
là Z/Y*;`[. Từ đó, chàng đi đến kết luận: ZD[eT
U9/2f.
&'&'&'0'(: $A- E
'(U:KV
Nếu hình dung lập luận là một quá trình tổng quát bao gồm: cấu trúc lập luận,
mối quan hệ của các thành phần trong cấu trúc lập luận, nội dung, cách thức suy
luận,…thì nội hàm của khái niệm “suy luận” và “lô-gic” bó hẹp hơn.
W'(:KV
Vấn đề phân biệt lập luận đời thường với lập lập lô-gic đã được Đỗ Hữu Châu
thể hiện rất rõ trong $%#&, tập 2. Xét hai ví dụ sau:
(3)
Đại tiền đề Tất cả trẻ em bảy tuổi phải tới trường.
Tiểu tiền đề Năm nay, Minh bảy tuổi.
Kết luận Minh phải tới trường.
(4)
12
Đại tiền đề Hàng hóa càng rẻ thì càng nên mua.
Tiểu tiền đề Chiếc xe này rẻ.
Kết luận Nên mua chiếc xe này.
Về cấu trúc, dễ nhận thấy, cả lập luận lô-gic và lập luận đời thường đều có cấu
trúc tam đoạn luận, bao gồm : một đại tiền đề, một tiểu tiền đề và một kết luận. Tuy
nhiên, chúng khác nhau ở những điểm sau đây :
- (P&(bJXIJG&(T(f&VWTVQW&. Ở tam đoạn luận lô-gic, kết luận là hệ quả
tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề và thao tác suy diễn. Nếu đại tiền đề đúng, tiểu
tiền đề đúng và thao tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu sẽ đúng. Kết luận Zi
("#[ không thể bác bỏ bởi vì tiền đề Z`"k2;<(
"#[ và tiểu tiền đề “ !i;<[ đều đúng. Ở tam đoạn luận đời
thường thì không như vậy. Đại tiền đề không phải là một chân lí khoa học, khách
quan mà là những lẽ thường, những kinh nghiệm sống được đúc kết lại dưới dạng
nguyên lí cho nên chúng không tất yếu đúng. Như ví dụ 4, đại tiền đề “)*7
*"k/*” chỉ là quan niệm chủ quan, bị chi phối bởi cá nhân trong
một hoàn cảnh nhất định. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta còn thấy tồn tại
một số quan niệm khác là : “dY"k*Y[ hay “K*Y`”,… phản lại
đại tiền đề trên. Như vậy, tam đoạn luận đời thường có phản lập luận còn tam đoạn
luận lô-gic thì không.
- (P(;5XIJG&(J=;&(g5[&. Kèm theo hiện tượng có phản lập luận là hiện
tượng trong một lập luận đời thường có thể dẫn ra hàng loạt luận cứ cùng một kết
góc độ lập luận trong ngôn ngữ, tức là lập luận đời thường. Chúng tôi nhận thấy lập
luận trong truyện cười Việt Nam hiện đại là lập luận đời thường với các lí do sau:
- Phần lớn lập luận trong truyện cười có tính tranh biện. Tính tranh biện thể
hiện ở cơ chế gây cười của truyện cười. Cơ chế đó chứa đựng các phản lập luận tồn
tại song song. Ví dụ: (8) XOYXZ
C",#(3,,6792,,*>i+*9
,9yr
Ji*_*o
C*9Sy7%r
JT7_odz(,-,"62"a,7o
ed#@,%FQRf
Lập luận của anh tài xế bị đâm là:
Mù thì mất khả năng nhìn.
Anh mất khả năng nhìn nên đâm phải xe tôi.
Anh bị mù à? (Anh mù)
Anh tài xế gây tai nạn đã phản lại đại tiền đề “mù thì mất khả năng nhìn” bằng
tiền đề “mù thì không thể nhắm trúng mục tiêu” để đảo lộn kết luận và gây tranh biện.
14
Mù thì không thể nhắm trúng mục tiêu.
Tôi đâm trúng xe anh.
Ai nói tôi mù? (Tôi không mù)
Cơ chế gây cười của truyện cười Việt Nam hiện đại có thể tóm lại như sau:
một nhân vật trong truyện cười đưa ra một tiền đề, hướng người nghe đến một suy
luận nào đó nhưng ngay sau đó một nhân vật khác (hoặc có thể chính là nhân vật
cũ) xuất hiện bẻ ngược hướng suy luận của độc giả để độc giả tiến hành quá trình
nhận thức lại và suy luận theo một tư duy khác, ngược với tư duy ban đầu. Từ xu
hướng .:%, người đọc sẽ (@ ra tiếng cười và đạt
8, bùng nổ tiếng cười giòn giã. Không có cơ chế ấy thì không có tiếng cười. Nói
cách khác, không có tranh biện thì không có tiếng cười, nghệ thuật tranh biện là
nghệ thuật gây cười.
ông.
Lập luận trong truyện cười đã hợp lí hóa những phát ngôn mâu thuẫn trong
thực tế để tạo nên những tình huống gây cười. Như vậy, cũng giống như tính tranh
biện, nghệ thuật tạo ra sự phi mâu thuẫn chính là nghệ thuật tạo ra tiếng cười.
Với những lí do trên, trong luận văn này chúng tôi tiến hành nghiên cứu truyện
cười Việt Nam hiện đại dưới góc độ lập luận đời thường hay còn gọi là lập luận
ngôn ngữ.
0' Ie.
Khi nói tới các thành phần của lập luận, phần lớn các nhà ngôn ngữ học đều
chỉ nói tới hai yếu tố chính là : luận cứ và kết luận. Do mục đích nghiên cứu, luận
văn muốn đề cập tới tất cả các yếu tố về hình thức của lập luận bao gồm : kết luận, luận
cứ, các chỉ dẫn lập luận, quan hệ lập luận nên chúng tôi gọi chung các yếu tố đó là cấu
trúc của lập luận.
4' D_
Kết luận là một thành phần không thể thiếu của lập luận. Có kết luận là có lập
luận. Thậm chí có lập luận chỉ có kết luận, các luận cứ đã bị hàm ẩn và trong hoàn
cảnh nhất định, người nghe có thể khôi phục lại luận cứ để hiểu toàn bộ lập luận. Ví
dụ: một nhóm bạn trẻ đang chuẩn bị cho chuyến đi mua sắm nhưng bỗng dưng trời
đổ mưa, một người kêu lên: “C,,” và tất cả đều buồn chán quay trở vào
nhà. “C,,[ là một kết luận và cũng là một lập luận mà luận cứ đã bị ẩn
đi. Dựa vào hoàn cảnh, có thể đưa ra các lí lẽ như sau: "#*,c
!1\;S%!2+!57U;S#!.=9,#
7U;S3>
16
Kết luận có thể ở vị trí đầu, vị trí giữa hoặc vị trí cuối trong một lập luận, có thể tường
minh hoặc hàm ẩn nhưng luôn là mục tiêu cuối cùng của một lập luận. Ví dụ:
eOPfd7&A*+%s>d1_7},7
,9,!sW3/,#8&*>
ed=1J)dif
Trong lập luận này, r đứng sau p, r là một kết luận tường minh.
Các căn cứ để rút ra kết luận rất đa dạng. Có thể chỉ một luận cứ đã đủ sức
thuyết phục cho cả lập luận nhưng có thể cần đến nhiều luận cứ. Ví dụ:
eORfD"k2LB/,K,7"`U>
eOtfd`K!?1\%7 @*9!
*"*W3`*8>
Mối quan hệ giữa các luận cứ trong một lập luận có thể đồng hướng hoặc nghịch
hướng lập luận. Điều này sẽ được chúng tôi làm rõ hơn ở phần quan hệ lập luận.
Giống như kết luận, luận cứ có thể tường minh hoặc hàm ẩn trong lập luận.
Luận cứ tường minh tường minh hóa những căn cứ để rút ra kết luận. Luận cứ hàm
ẩn là những luận cứ vì một lí do nào đó có thể vắng mặt trong lập luận nhưng người
nghe vẫn có thể tự suy ra được và không làm thay đổi hiệu quả lập luận.
9' -i!j
Zd01M.(.*1`@/:6*#2.
",#8#Y.(.*,?=Y.:"+5@.(
.[~v!O•P€>
Các chỉ dẫn lập luận bao gồm các tác tử lập luận, kết tử lập luận và các dấu hiệu
giá trị học. Tìm hiểu hướng của lập luận cũng như đặc tính của luận cứ trong truyện
cười, luận văn lần lượt căn cứ vào các yếu tố trên.
'-*
ZC.(.*+93,#8,#*+1*,`c*
,<K .(.Y7!,+.(37Y7[~v!O•P€>
Ví dụ: Cùng một nội dung thông tin miêu tả: “w"a”, chúng ta sử
dụng các tác tử lập luận khác nhau thì sẽ cho các kết luận hướng về các hành vi
khác nhau:
eOvf<w"a,`N
eOwf"7w*N
Ví dụ (16) sử dụng cặp tác tử lập luận ,-q"a khiến cho kết luận thể hiện
quan niệm của người nói về khoảng thời gian 7 giờ sáng là muộn để làm một việc gì
18
đó. Do đó, kết luận hướng tới hành vi thúc giục, ra lệnh người nghe cần phải khẩn