giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân tập đoàn dệt may việt nam hiện nay theo tư tưởng đạo đức hồ chí minh - Pdf 18

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN
TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM HIỆN NAY 11
1.1. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 11
1.1.1. Nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 11
1.1.2. Đặc điểm và bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 15
1.1.3. Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 21
1.2. Yêu cầu về việc giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân
Tập đoàn Dệt May Việt Nam 31
1.2.1. Đặc điểm công nhân Tập đoàn Dệt May Việt Nam 31
1.2.2. Yêu cầu về việc giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công
nhân Tập đoàn Dệt may Việt Nam 35
Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÔNG
NHÂN TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ
TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 43
2.1. Thực trạng vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo
đức cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt Nam
hiện nay 43
2.1.1. Thực trạng đạo đức của đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May
Việt Nam 43
2.1.2. Những nội dung giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công
nhân Tập đoàn Dệt May Việt Nam theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh 48
2.1.3. Những kết quả và hạn chế trong giáo dục đạo đức cách mạng cho
đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt Nam 53
2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức
cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt Nam 65
1

thời kỳ giai cấp công nhân giành được chính quyền, trở thành chủ thể của xã
hội mới. Người dạy: “Về đạo đức vô sản, công nhân phải hiểu mình làm chủ
xí nghiệp, chủ nước nhà, hiểu lao động là vẻ vang, phải giữ gìn của công,
chống tham ô, lãng phí, bảo vệ kỷ luật lao động, phải thi đua làm tốt, nhiều,
mau, rẻ. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở gia tăng sản xuất và thực hành
tiết kiệm” [30, tr.298]. Người nhấn mạnh: “công nhân trẻ tốt lắm, họ nghe và
làm theo Đảng” [34, tr.570] nên cần phải giáo dục, bồi dưỡng cho họ về
“phẩm chất đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của giai
cấp công nhân” [34, tr.570].
3
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai
cấp công nhân Việt Nam đã và đang đi đầu trong việc xây dựng cơ sở vật chất
- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên, giai cấp công nhân Việt Nam số
lượng còn ít, chưa được rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ
văn hóa và tay nghề còn thấp, chính trị tư tưởng còn hạn chế. Để khắc phục
những nhược điểm này Đảng ta đặc biệt chú trọng xây dựng giai cấp công
nhân phát triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị tư
tưởng, có trình độ học vấn, tay nghề cao để làm tròn sứ mệnh lịch sử của
mình. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Quan tâm giáo
dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất
lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng
nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bảo vệ quyền lợi,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân” [9, tr.49]. Chính vì vậy,
Đảng ta đã coi việc bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cách mạng cho công nhân là
nhiệm vụ quan trọng hiện nay.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng trong đó có sự đóng góp
đáng kể của đội ngũ công nhân ngành Dệt May Việt Nam. Là ngành thu hút

tưởng, kim chỉ nam cho hành động, các tác phẩm viết về tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung và tư tưởng đạo đức của Người nói riêng không thể thống kê
hết được. Tuy nhiên, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực
tiễn là vấn đề lý luận phức tạp và có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống xã hội
hiện nay, nên những năm gần đây càng có nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề
này hơn.
5
Công tác giáo dục tuyên truyền tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chỉ thực
sự được phát triển mạnh mẽ, sâu rộng kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ IX năm
2001. Nhằm phục vụ công tác giáo dục trong các nhà trường, cung cấp cho
người học một cách có hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh nhiều công
trình nghiên cứu đã ra đời:
Tác phẩm:“ Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” của GS
Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1997), tác giả đã phân tích
những điều kiện lịch sử quê hương và gia đình ảnh hưởng đến sự hình thành
tư tưởng cũng như nhân cách và đạo đức của Người. Giáo trình “Tư tưởng
Hồ Chí Minh” của hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia
các môn khoa học Mác-Lênin ban hành năm 2003 với 12 chương; chương mở
đầu trình bày khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh, các chương tiếp theo tập trung luận chứng các nội dung chủ yếu của tư
tưởng Hồ Chí Minh, chương cuối là việc vận dụng, phát triển tư tưởng của
Người trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Cuốn Giáo trình “Tư
tưởng Hồ Chí Minh” do Bộ Giáo dục - Đào tạo biên soạn Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia xuất bản 2004 đã trình bày một cách có hệ thống toàn bộ nội dung
tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong
đó, các tác giả cũng đã giành một phần cho việc trình bày tư tưởng đạo đức và
nội dung học tập tư tưởng đạo đức của Người.
Nghiên cứu về tình hình đạo đức ở nước ta trong nền kinh tế thị trường
hiện nay nói chung cũng như thực trạng suy thoái đạo đức của giới trẻ trước
những du nhập của các luồng văn hoá mới và một số biện pháp khắc phục sự

tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và tác dụng của nó đối với người cách mạng.
Đồng thời bài viết cũng khái quát tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và khẳng
định sự cần thiết của việc học tập tư tưởng đạo đức của Người.
7
Bên cạnh đó nhằm phục vụ cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, Bộ
Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác đã có nhiều tác
phẩm xuất bản với nội dung đa dạng:
Tác phẩm “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2007, tác phẩm đã phân tích thực
trạng suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và chỉ ra
yêu cầu của việc giáo dục đạo đức trong thời kỳ đổi mới. Tác phẩm “117
chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Ban Tuyên giáo Trung ương
2007, đã sưu tầm những câu chuyện kể về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh từ lời kể của nhiều người và từ nhiều cuốn sách khác nhau. Tác
phẩm “Mãi mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia 2008 đã khai thác nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
theo ba phần: phần một là đoạn trích và bài viết về đạo đức cách mạng, phần
hai là tư tưởng đạo đức của Bác với nhiều bài viết của nhiều tác giả, phần ba
là những câu chuyện kể về tấm gương đạo đức của Người.
Những năm gần đây, sự suy thoái đạo đức trong xã hội nước ta nói
chung và đạo đức của công nhân nói riêng càng trở nên nghiêm trọng. Thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa X năm 2008: Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhiều
công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân đã ra đời:
Tác phẩm “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 -
2020” do TS. Đặng Ngọc Tùng chủ biên, Nhà xuất bản Lao động (2010), tác
phẩm đã nêu rõ ai là công nhân; những đặc trưng và bản chất của giai cấp
công nhân nước ta hiện nay; vai trò, nhiệm vụ của giai cấp công nhân Việt
Nam trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội

giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt
Nam theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Dựa trên những quan điểm cơ bản trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh, luận văn phân tích thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức cách
mạng theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ công nhân Tập đoàn
Dệt May Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho công nhân Tập đoàn Dệt
May Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên luận văn tập trung thực hiện những nhiệm
vụ sau:
- Trình bày khái quát nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và yêu
cầu của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn
Dệt May Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng đạo đức và việc giáo dục đạo đức cách mạng
theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt
Nam hiện nay, nguyên nhân và những thành tựu, hạn chế của nó.
- Đề xuất một số kiến nghị vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
vào việc giáo dục đạo đức cách mạng cho công nhân Tập đoàn Dệt May Việt
Nam giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó vào việc
giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt
Nam giai đoạn hiện nay.
10
* Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ luận văn chúng tôi chỉ đề cập đến tư tưởng đạo đức

Chương 1: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và yêu cầu của việc giáo
dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt Nam
hiện nay.
Chương 2: Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ công nhân Tập đoàn Dệt May Việt
Nam hiện nay theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
12
Chương 1
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀ YÊU CẦU
CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ
CÔNG NHÂN TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
1.1.1. Nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Mỗi học thuyết, mỗi tư tưởng đều được hình thành trong những điều
kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư
tưởng đạo đức của Người nói riêng cũng có điều kiện và tiền đề nhất định của
nó. Đạo đức truyền thống Việt Nam và giá trị văn hóa của quê hương, gia
đình đã ảnh hưởng đến sự ra đời tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm đã hun đúc nên những
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong những truyền thống tốt đẹp ấy
nổi bật nhất phải nói đến chủ nghĩa yêu nước. Điều này được Bác chỉ rõ trong
việc trình bày nguyên nhân đầu tiên dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng
nước ta, Bác viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta” [28, tr.176]. Chính chủ nghĩa yêu nước là hành trang
lớn nhất mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành mang theo trong quá trình
tìm đường cứu nước của mình. Bên cạnh truyền thống yêu nước thì tính cộng
đồng, tinh thần đoàn kết, sự cần cù lao động, độc lập tự chủ, sáng tạo, hiếu
học, lạc quan, yêu đời, sống có tình có nghĩa là những truyền thống ảnh
hưởng không nhỏ đến Hồ Chí Minh. Những truyền thống này được bồi đắp và
làm giàu thêm từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó ăn sâu và trở thành cội rễ

Đối với việc tiếp thu các giá trị văn hóa đạo đức của phương Đông,
chúng ta phải khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh mang dấu ấn đậm nét
14
của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến Người là
Nho giáo. Điều này được minh chứng bởi khi nói về nguồn gốc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh, Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “…Nho giáo thì đúng
là có phần hẹp, hẹp là vì, nếu tôi không lầm thì trong tác phẩm và tác phong
của cụ Hồ ngoài dấu ấn của Nho giáo còn có không ít dấu ấn của Lão giáo,
của bách gia chư tử” [13, tr.32]. Cùng với những hiểu biết uyên bác về Hán
học, Hồ Chí Minh đã biết chắt lọc lấy những gì tinh túy trong các học thuyết
của Khổng Tử, Lão Tử. Đó là các triết lý hành động, tư tưởng nhập thế hành
đạo, giúp đời, đó là ước vọng về một xã hội bình trị, hòa đồng, là triết lý nhân
sinh, tu thân dưỡng tính mà theo Bác, học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là
tu dưỡng đạo đức cá nhân. Về Phật giáo, Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh
hưởng sâu sắc tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, là nếp sống có
đạo đức trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện, là tinh thần bình đẳng
không phân biệt đẳng cấp… Đến khi trở thành người Mácxít Người lại tiếp
tục tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên vì thấy trong đó “phù hợp
với điều kiện nước ta”.
Cùng với việc tiếp thu những tư tưởng phương Đông, Hồ Chí Minh còn
chịu sự ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây. Người đã tiếp thu giá trị
nhân văn của Thiên chúa giáo bởi “Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái
cao cả”. Đồng thời, tư tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái của văn hóa phương
Tây có một tác động không nhỏ đối với Hồ Chí Minh. Chính tư tưởng này đã
làm thức dậy lòng mong muốn giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi sự thống trị
ngoại bang làm cho đất nước được hòa bình, độc lập; dân được ấm no, hạnh
phúc. Có lẽ chưa một nhà cách mạng của một nước thuộc địa nào như Hồ Chí
Minh, lại có 30 năm hoạt động liên tục ở nước ngoài. Trong 30 năm đó,
Người đã có những khảo nghiệm thực tế vòng quanh thế giới cho nên những
hiểu biết về tình hữu ái giai cấp, về tinh thần yêu hòa bình, về sự cảm thông

cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Người. Kế thừa những truyền thống
tốt đẹp từ quê hương, gia đình, thâu thái những tinh hoa của dân tộc và nhân
loại, tài năng và nghị lực, bản lĩnh và nhân cách Hồ Chí Minh được thể hiện
rõ ràng. Đó là một con người sống có hoài bão, có lý tưởng, yêu nước, thương
dân, có bản lĩnh kiên định, có lòng tin vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, ham
học hỏi, nhạy bén với cái mới, thông minh, có hiểu biết sâu rộng, có đầu óc
thực tiễn Chính những yếu tố này đã tạo nên tư tưởng đạo đức riêng có của
Hồ Chí Minh mà vẫn đậm nét dân tộc, vẫn phù hợp xu thế thời đại.
Như vậy, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không phải tự nhiên có được,
cũng không phải là sản phẩm thuần túy được rút ra từ trong đầu Hồ Chí Minh
mà là sản phẩm của sự tổng hòa và phát triển tư tưởng đạo đức truyền thống,
tư tưởng đạo đức của phương Đông và phương Tây với tư tưởng đạo đức của
chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp với phẩm chất đạo đức cá nhân Hồ Chí Minh.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng là kết quả của quá trình tự rèn luyện, tự
giáo dục; là kết quả của quá trình học tập không ngừng nghỉ, có ý thức, trách
nhiệm. Từ đó, Hồ Chí Minh đã xây dựng được hệ thống luận điểm của mình
về đạo đức: về vị trí và vai trò của đạo đức trong xã hội, về chuẩn mực đạo
đức của con người Việt Nam mới, về nguyên tắc xây dựng chuẩn mực đạo
đức. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cùng với tấm gương đạo đức của Người
có một sức sống mãnh liệt và sự cổ vũ lớn lao đối với nhân dân Việt Nam và
thế giới trong cuộc đấu tranh vì dân chủ và tiến bộ xã hội.
1.1.2. Đặc điểm và bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Tư tưởng về đạo đức chiếm một vị trí đặc biệt, là vấn đề thường trực
trong con người Hồ Chí Minh. Sinh thời, Bác là một trong những lãnh tụ bàn
nhiều nhất và viết nhiều nhất về đạo đức và đạo đức cách mạng. Điều này
được minh chứng trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), bàn về đạo đức
Người đã có gần 50 bài viết và tác phẩm về đạo đức. Đáng kể nhất là tác
phẩm: “Đường cách mệnh” năm 1927, tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” năm
17
1947, tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá

Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép.
Đối với công việc phải tận tụy.
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo” [27, tr.406]
Việc xem xét đạo đức một cách toàn diện như Hồ Chí Minh đã phản
ánh đúng đắn những đòi hỏi về đời sống đạo đức của con người mới Việt
Nam giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, điểm đặc sắc trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là các tư
tưởng lý luận đạo đức thống nhất với việc thực hành đạo đức, nói và làm đi
đôi với nhau, lý luận gắn với thực tiễn, hoạt động gắn với hiệu quả đạo đức.
Sinh thời, Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và
thực tiễn. Về lý luận, Người để lại cho chúng ta hệ thống quan điểm sâu sắc
và toàn diện về đạo đức. Đó là quan điểm về vị trí, vai trò của đạo đức và đạo
đức cách mạng đối với sự phát triển xã hội; là tư tưởng về các chuẩn mực đạo
đức của con người mới xã hội chủ nghĩa; là những nguyên tắc xây dựng
chuẩn mực đạo đức. Về thực tiễn, Người coi thực hành đạo đức là yếu tố quan
trọng bậc nhất trong quá trình hình thành đạo đức của cán bộ, Đảng viên. Cho
nên, ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX Người đã chú trọng đến việc
xây dựng đạo đức cho người cán bộ. Đến sau cách mạng Tháng Tám thắng lợi
Người chỉ ra những biểu hiện của thói đạo đức giả ở một số cán bộ, “vác mặt
làm quan cán bộ” nói mà không làm. Người cho rằng, “lý luận mà không có
liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”, thực tiễn và lý luận cần nương tựa vào
nhau, bổ sung cho nhau thì mới khắc phục được bệnh kinh nghiệm, giáo điều.
Hơn bất cứ ai khác, Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức vô song, chính
Người đã thực hành một cách nghiêm túc các chuẩn mực đạo đức mà Người
đã đưa ra. Điều này được thể hiện qua những việc làm cụ thể của Hồ Chí
19
Minh như: sau khi giành được chính quyền Người đã kêu gọi nhân dân thực
hành tiết kiệm và chính Người là người thực hiện nghiêm túc, hay sự tự giác
rèn luyện bản thân của Bác trong suốt cuộc đời. Chính vì vậy, tư tưởng và tấm

đức đứng trên lập trường của giai cấp công nhân Việt Nam, phải không ngừng
học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lý luận, tự phê bình và phê bình để
nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác của mình và cùng giúp đồng chí mình
tiến bộ.
Đạo đức cách mạng giúp cho con người giữ vững được niềm tin, lý trí,
có thêm nghị lực để vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Theo Hồ Chí Minh:
“làm cách mạng là để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất
vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất
phức tạp, lâu dài, gian khổ, có sức mạnh mới gánh nặng và đi được xa. Người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được
nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [31, tr.282]. Đạo đức cách mạng không chỉ có
tác dụng trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn có tác dụng to
lớn khi cách mạng thành công. Vì vậy, Người ý thức rằng đạo đức cách mạng
sẽ giúp người cách mạng tránh được cám dỗ trong cuộc sống.
Đồng thời, Bác chỉ rõ phải thực hành đạo đức cách mạng trong công
việc, trong tổ chức, trong các phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống,
trong hành vi của mỗi người. Bởi có đạo đức cách mạng thì mới không bị
quyền lực làm cho tha hóa, mới công tâm chính trực giải quyết mọi việc lớn
nhỏ, mới không tham ô tham nhũng hay làm thất thoát của cải của Nhà nước.
Điều này được Bác dạy khi về thăm nhà máy Dệt Nam Định năm 1963: Cán
bộ, công nhân đều tích cực cố gắng; lãnh đạo không gần gũi với công nhân thì
là quan liêu, nhà máy có thành tích thì chủ quan tự mãn, cán bộ, công nhân
không chú trọng tự phê bình và phê bình thì không tiến bộ… [29, tr.614].
21
Với bản chất như vậy, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh khác với
các hình thức đạo đức trước đó. Theo Hồ Chí Minh đạo đức cũ là lộn đầu
xuống đất, hai chân chổng lên trời, đạo đức cũ trái tự nhiên, hướng vào ngọn,
vào một bộ phận giàu sang trong xã hội, không hướng vào số đông. Đạo đức
mới là đạo đức hai chân đứng vững trên mặt đất và ngẩng đầu lên trời, là đạo
đức hướng vào số đông quần chúng nhân dân lao động và phát huy được sức

đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng một nền đạo đức mới phù hợp với
Việt Nam. Cụ thể là:
Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức là cái gốc, cái nền tảng và là sức mạnh
của mọi người cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đối với con người phải có sức
mạnh mới gánh nặng và đi xa được, người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống,
từ rất sớm Hồ Chí Minh coi đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con
người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “Cũng
như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải
có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không
có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn
giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà
tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì
còn làm nổi việc gì” [31, tr.283].
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra, đạo đức có vai trò to lớn đối với hành vi của
con người: đạo đức tốt thì hành vi hợp quy luật phát triển của tự nhiên và xã
hội, người không có đạo đức tất yếu hành động trái quy luật. Người quan
niệm rằng, đạo đức không phải trên trời rơi xuống mà do con người tích cực
và bền bỉ rèn luyện mà nên. Muốn làm cách mạng phải có cái tâm trong sáng,
23
cái đức cao đẹp đối với giai cấp vô sản, với nhân dân lao động, với dân tộc và
nhân loại. Nhưng không phải mọi người có tâm, có đức đều đi đến với chủ
nghĩa cộng sản, song nhất thiết phải có tâm và có đức thì mới tiếp thu được
học thuyết cao quý đó.
Mục đích của đạo đức Hồ Chí Minh là suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho
cách mạng, nên khi nói đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm
quyền. Người luôn trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm
về đường lối và sự suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, Đảng viên.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” thì

đại. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bao giờ Hồ Chí Minh cũng phân
biệt mặt tốt với mặt xấu, mặt thiện với mặt ác trong động cơ và hành vi của
con người, cho nên để làm rõ những mặt này cần phải xây dựng, cần tu dưỡng
để hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ của cuộc sống con người. Người đã
thực hiện một cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức và được coi là người
đặt nền móng cho đạo đức mới - đạo đức cách mạng. Từ đó, Người đưa ra
một số chuẩn mực đạo đức cách mạng:
Một là, trung với nước, hiếu với dân
Những khái niệm “trung”, “hiếu” đã có từ lâu đời trong tư tưởng đạo
đức truyền thống phương Đông trong đó có Việt Nam. Khái niệm này phản
ánh mối quan hệ lớn nhất, bao trùm nhất của con người nói chung và người
quân tử nói riêng trong xã hội cũ là “trung với vua, hiếu với cha mẹ”. Theo
Hồ Chí Minh trong thời đại mới những khái niệm này là “trung với nước, hiếu
với dân”, có như vậy, quan niệm về đạo đức trước đó mới phù hợp với thực
tiễn nước ta hơn. Khác với “trung với vua”, “trung với nước” được Bác mở
rộng là chung với cộng đồng, là yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Theo Người,
“trung với nước” là trung thành với sự lựa chọn con đường phát triển của dân
25

Trích đoạn Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức Xây dựng môi trường làm việc trong các công ty, xí nghiệp thực Tăng cường và kết hợp nhiều hình thức giáo dục đạo đức nó
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status