DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNTT: Công nghệ thông tin
GV: Giảng viên
NXB: Nhà xuất bản
NLCB: Nguyên lý cơ bản
PP: Phương pháp
PPDH: Phương pháp dạy học
SV: Sinh viên
SGK: Sách giáo khoa
SL: Số lượng
1
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, loài người đã chứng kiến sự
bùng nổ công nghệ thông tin phát triển như vũ bão tạo ra những bước tiến
nhảy vọt, đặc biệt trong khoa học và công nghệ. Đó là sự thay đổi bộ mặt của
thế giới đưa con người bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa
học công nghệ thông tin, kỷ nguyên tiến bộ xã hội. Tất cả những điều này
khiến chúng ta có điều kiện để tìm tòi tri thức mới, phương pháp mới, khoa
học mới tạo nên con người mới.
Những thành tựu này, đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống
xã hội trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu. Để diễn đạt bước ngoặt
trong tiến trình phát triển của nhân loại, người ta đã nói đến một thời đại sự
bùng nổ thông tin và công nghệ đổi mới nhanh đến mức chóng mặt. Đó chính
là nền tảng khoa học công nghệ của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển
của kinh tế tri thức. Những chuyển biến hết sức mạnh mẽ này đã làm thay đổi
và đảo lộn nhiều triết lý, quan niệm, phương thức tổ chức và hoạt động của
hầu hết các lĩnh vực mà trước hết và chủ yếu lại chính là giáo dục và đào tạo.
Tri thức mới được tạo ra với cấp số nhân, được phổ biến nhanh và rộng đến
hiện nay. Tuy nhiên, bất cứ nền giáo dục nào cũng lại chịu sự chi phối rất
mạnh của văn hóa dân tộc và những bệ đỡ tư tưởng xuất phát từ những ý thức
hệ khác nhau nên trong một thời gian dài từng tồn tại sự khác biệt rất xa về
cấu trúc hệ thống giáo dục và cấu tạo chương trình. Quá trình toàn cầu hóa
diễn ra như một xu thế không thể cưỡng lại, từ các nước Châu Âu cho đến
Bắc Mỹ đều tiến hành xem xét lại hệ thống giáo dục của mình và tiến hành rất
nhiều điều chỉnh mang tính cải cách.
4
Đổi mới giáo dục đào tạo, phải được xem là xu thế mang tính toàn cầu
Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Với ý nghĩa này, công cuộc đổi mới
giáo dục đào tạo ở Việt Nam không phải chỉ là vấn đề của riêng nước ta mà
phải thực sự cả trong môi trường quốc tế. Để phát triển giáo dục, cũng như
đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với khoa học công nghệ tại Nghị quyết
TW II (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và
đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện tư duy sáng tạo của
người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho sinh viên”. Chỉ thị 58 CT/TW của Bộ Chính trị, quyết định
81/2001/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, và Chỉ thị 29/2001/ CT/BGD &
ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã xác định mục tiêu tăng cường
giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục
2001-2005, góp phần nâng cao nhận thức vai trò của công nghệ thông tin
trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xác định rõ vai trò của công
nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo tất yếu sẽ lập ra một bước chuyển cơ
bản trong quá trình đổi mới nội dung chương trình, phương pháp, hình thức
giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục trong nhà trường Việt nam.
Những phương pháp truyền thống phải mất quá nhiều thời gian và công
sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cho người học, như máy thu ghi lại tri
thức thầy cô giảng nên không thể phát huy được tư duy sáng tạo.Tình trạng đó
luôn gây ra sự quá tải từ chương trình.Người dạy, người học đều không còn
vào dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường
Cao đẳng, Đại học” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Những tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các tài liệu công trình nghiên nước ngoài cũng như trong nước, chưa
có đề tài nghiên cứu đưa mạng xã hội vào dạy học mà chỉ đề cập đến CNTT
nói chung. Trong khi đó, mạng xã hội là một mảng nhỏ của CNTT. Có thể
nói, ngành CNTT ra đời là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học -
6
kỹ thuật hiện nay. Việc nghiên cứu, ứng dụng CNTT vào giáo dục và đào tạo
đã được thực hiện ở nhiều quốc gia và khu vực như: Bắc Mỹ, Tây Âu… Ở các
nước Đông Á, công nghệ thông tin và truyền thông có một vị trí quan trọng
trong chương trình đổi mới giáo dục.
Một số quan niệm, yêu cầu và thao tác của việc sử dụng phương tiện kỹ
thuật dạy học nói chung, bao gồm CNTT, đã được đề cập trong nhiều công
trình nghiên cứu đã được công bố, đáng kể nhất là: Đề án “Tin học cho mọi
người”(Informatique pourtous) - Pháp, 1970; Chương trình MEP
(Microelectronics Education Program) - Anh, 1980; Các chương trình và
phần mềm các môn học cho trường trung học được cung cấp bởi NSCU
(NationalSoftware - Cadination Unit) - Australia, 1984; Đề án CLASS
(Computer Literacy And Studies in School) - Ấn Độ, 1985; Hội thảo về “Xây
dựng phần mềm tin học”, các nước châu Á - Thái Bình Dương, tổ chức tại
Malaysia, 1985; Hội thảo quốc tế lần 2 về “Công nghệ thông tin và truyền
thông trong giáo dục - đào tạo”, tổ chức tại Hà Nội, 2004 Các đề tài, nội
dung hội thảo tập trung nghiên cứu, trao đổi việc sử dụng CNTT trong giảng
dạy và xem đây là nguồn lực quan trọng cho việc đổi mới phương pháp dạy
học ở trường cao đẳng, đại học.
Bên cạnh các đề tài nghiên cứu, một số tài liệu tiêu biểu như
“Intructional Technology for Teaching and Learning”của Timothy J. Newby
và các cộng sự (1996) đã đề cập đến ba vấn đề chủ yếu: phát triển các ý tưởng
cực nhằm giúp cho sinh viên những cơ hội, điều kiện tiếp cận tri thức tốt hơn và
tạo ra những khả năng trao đổi thông tin, nghiên cứu, học tập vừa tiện ích, vừa
tích cực giữa giảng viên - sinh viên và giữa sinh viên - sinh viên. Ở các nước
phát triển, cùng với những phần mềm dạy học chuyên ngành, các phần mềm
công cụ luôn được giảng viên và sinh viên quan tâm sử dụng.
8
Nhìn chung, các bài viết, tài liệu trên đã đem lại cho chúng tôi những
nhận thức và hình dung rõ nét hơn về xu hướng, ý tưởng, biện pháp sử
dụng mạng xã hội trong dạy học nói chung và dạy học môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói riêng ở trường cao đẳng, đại học. Tuy
nhiên, cần có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể ở
nước ta, điều kiện trang bị phương tiện kỹ thuật dạy học, hệ thống mạng
internet, mạng xã hội năng lực và thói quen chủ động sử dụng mạng xã
hội của giảng viên, sinh viên chưa trở nên phổ biến rộng như các nước công
nghiệp phát triển mà các tác giả nước ngoài đã đề cập.
2.2. Những tài liệu và công trình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, CNTT đã được đưa
vào trường phổ thông thử nghiệm với tư cách là một môn học. Từ những năm
cuối của thập niên này, CNTT mới được quan tâm ứng dụng vào dạy học các
bộ môn khác, nhất là sau khi có các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước
và Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề này. Nhiều bài viết, công trình nghiên
cứu về vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường cao đẳng, đại học ngày
một phong phú hơn. Tiêu biểu là các bài: “Một số điểm về cơ sở lý luận dạy
học của việc sử dụng máy tính điện tử” của Nguyễn Quang Lạc, Lê Công
Triêm,1992; “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí giáo
dục” của Trần Kiều, Nguyễn Thanh Lương, 1994; “Công nghệ thông tin với
việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường” của
Phan Trọng Luận, 1998; “Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng công nghệ
thông tin - Xu thế của thời đại” của Quách Tuấn Ngọc, 1999; “Sự hỗ trợ của
máy vi tính với hệ thống multimedia trong dạy học” của Lê Công Triêm,
đã khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong dạy học trên cơ sở
đảm bảo sự phù hợp nội dung, chức năng và đặc trưng bộ môn. Tuy nhiên,
vẫn chưa có những công trình nghiên cứu về các sử dụng mạng xã hội trong
dạy học phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và điều kiện dạy học ở trường cao
đẳng, đại học hiện nay.
10
Các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã bước đầu trình bày một cách
khái quát những vấn đề về lý luận và thực tiễn, về vị trí, ý nghĩa, khả năng,
biện pháp sư phạm… của việc ứng dụng CNTT trong dạy học trường cao
đẳng, đại học. Tuy nhiên, các tài liệu, công trình nghiên cứu này chưa đề cập
đến việc sử dụng mạng xã hội và nhất là vẫn chưa có hệ thống về cơ sở lý
luận và thực tiễn cũng như các yêu cầu, quy trình thiết kế và biện pháp sư
phạm cụ thể của việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
Nhìn chung, ở những mức độ khác nhau, các giáo trình, tài liệu tham
khảo và các bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên là những tư liệu quý báu,
là cơ sở rất quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp chúng tôi đi sâu nghiên
cứu, giải quyết tốt những mục đích, nhiệm vụ của luận văn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ cơ sở lí luận và nâng
cao khả năng dạy học qua mạng, qua đó giúp cho sinh viên phương pháp tự
học và khả năng khai thác xử lý thông tin học môn Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin qua các trang mạng xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn
Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phương pháp sử dụng trang mạng xã
hội vào quá trình dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
12
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO DẠY HỌC
MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm mạng
Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bùng nổ công nghệ thông tin truyền
thông và phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế…
đó là vấn đề được cả nhân loại quan tâm. Đặc biệt giáo dục là nơi đào tạo
nhân lực cho toàn xã hội nên rất cần chú trọng đưa công nghệ thông tin vào
giảng dạy để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập
suốt đời, phát triển năng lực cốt lõi dành cho sinh viên, sinh viên trong tương
lai. Chính lý do trên chúng tôi đi tìm hiểu về mạng nơi trao đổi lên kết mọi
thông tin và có rất nhiều quan niệm khác nhau về mạng như sau:
Mạng: là hệ thống những đường đan nối với nhau có một chức
năng chung.
Mạng cục bộ: là toàn bộ mạng các máy tính được liên kết với nhau
trong phạm vi xí nghiệp, công ty, hay nói chung trong một phạm vi địa lý hẹp
nhất định.
Mạng diện rộng: là hai hay nhiều mạng cục bộ nối liên kết với nhau sẽ
tạo thành mạng nội bộ, từ đó hình thành nên khái niệm mạng diện rộng WAN
(Wide Area Network) hay mạng Extranet.
Mạng Internet (thường được đọc theo khẩu hiệu âm tiếng Việt là ‘‘in-
tơ-nét’’) là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng
gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau.
13
1.1.1.2. Khái niệm mạng xã hội
nhiều các mối quan hệ khác đã có.
Một đặc tính độc đáo của các mạng xã hội là yếu tố cảm xúc. Trong khi
các trang web trước đây đã tập trung vào việc cung cấp thông tin cho khách
truy cập, mạng xã hội thực sự cung cấp cho người dùng với cảm giác an toàn
chia sẻ thông tin và ý thức rằng không có vấn đề gì là khó khăn, bế tắc, bạn bè
của họ luôn ở bên cạnh họ, lắng nghe họ nói bất cứ gì lúc nào.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học
được hình thành và phát triển trên những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết
thực tiễn thời đại, là thế giới quan khoa học. Phương pháp luận phổ biến của
nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, là khoa học về sự nghiệp giải
phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động, khỏi chế độ áp bức, bóc
lột và tiến tới giải phóng con người.
Với ý nghĩa như vậy, nội dung chủ nghĩa Mác - Lênin bao quát các lĩnh
vực tri thức hết sức rộng lớn mang nhiều giá trị khoa học và thực tiễn. Thế
nhưng nếu nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách khoa học về sự
nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ
áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người thì có thể thấy nội dung chủ
nghĩa Mác - Lênin được cấu thành từ ba bộ phận lý luận cơ bản, có mối quan
hệ nhất biện chứng với nhau. Đó là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị
Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Triết học Mác - Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật
vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế
giới quan và phương pháp luận chung nhất khoa học và thực tiễn cách mạng.
15
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chính
trị Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế xã hội, đặc biệt là những
quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời phát triển phương thức sản xuất mới -
- Trong quá trình học tập sinh viên luôn hào hứng, say mê tập trung chú
ý vào những dữ liệu thông tin mà giảng viên đưa ra dưới dạng những hình ảnh
trình chiếu đẹp mắt. Từ đó sinh viên kiên trì hoàn thành các bài tập được
giảng viên giao, không nản lòng trước những vấn đề khó khăn… Ngoài những
biểu hiện trên, giảng viên còn có thể nhận biết được tính tích cực học tập của
sinh viên cũng như thấy được vai trò của mạng xã hội thông qua những biểu
hiện cử chỉ, nét mặt, ánh mắt khi theo dõi bài giảng.
- Sử dụng mạng xã hội cũng giúp cho sinh viên tính sáng tạo, khả quan
làm việc độc lập và tự giải quyết các vấn đề khi tự mình tìm kiếm thông tin
dưới sự hướng dẫn của giảng viên.
- Học tập bằng mạng xã hội sẽ rèn luyện cho sinh viên khả năng chủ
động chiếm lĩnh tri thức trong cuộc sống, đó cũng là điều phù hợp với xu thế
chung của thời đại ngày nay.
Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin sử dụng
mạng xã hội vào dạy học có một vai trò vô cùng quan trọng. Do phân phối
chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học hiện
nay, số tiết dành cho lý thuyết chiếm gần hai phần ba tổng số tiết của môn. Vì
vậy, việc giảng dạy của giảng viên rất cần đến sự đổi mới để khắc phục tình
trạng nhàm chán của sinh viên khi nghe giảng và ghi chép lý thuyết quá nhiều
trong giờ học. Việc lựa chọn và sử dụng mạng xã hội trong truyền đạt kiến
thức hiện nay đang ngày càng tạo ra hứng thú và có vai trò quan trọng nhiều
hơn trong quá trình dạy và học cho cả giảng viên và sinh viên.
17
Thực tế hiện nay phương pháp dạy học ở nước ta chưa đáp ứng được
nhu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phần lớn giảng viên vẫn sử dụng
phương pháp truyền thống: thầy đọc - trò ghi, phương pháp này, biến lớp học
trở thành nơi phổ biến kiến thức, còn sinh viên trở thành những máy ghi chép,
không phát huy được tính năng động, sáng tạo của người học, làm cho họ thụ
động, trì trệ lệ thuộc hoàn toàn vào những gì giảng viên cung cấp. Giảng viên
chỉ quan tâm đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình truyền đạt hết nội
hợp tác lẫn nhau. Trong quá trình sinh viên vừa tự mình tìm tòi, nghiên cứu
thông tin cùng hợp tác với bạn để củng cố kiến thức đã tìm được chính thầy
giáo là người định hướng cho cá nhân người học hành động. Đồng thời giảng
viên là người đạo diễn, tổ chức lớp. Sinh viên tự tìm ra các tri thức mang tính
xã hội, khách quan, khoa học hơn. Khi những thông tin mà cá nhân thu được,
có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau, thì lúc này vai trò không thể thay thế được
người thầy là phát huy vai trò người trọng tài khoa học. Thầy là người kết
luận, có tính chất khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận ở tập thể
lớp, giúp sinh viên xử lý đúng đắn các tình huống phức tạp nổi lên trong quá
trình hoạt động học tập.
Ngày nay, chúng ta bước vào cuộc cách mạng mới: cách mạng siêu
công nghiệp, tương ứng với nó là một xã hội mới đang manh nha - xã hội “cú
sốc tương lai”. Một xã hội mà “kiến thức là quyền lực” thì các nhà giáo siêu
công nghiệp không nên áp đặt giá trị cho sinh viên mà phải biết tổ chức một
cách có hệ thống những hoạt động chính thức và bán chính thức nhằm giúp
sinh viên tự xác định, thử nghiệm những giá trị của bản thân mình. Alvin
Toffer nhà tương lai học người Mỹ, trong cuốn : Fetere Shock – 1970 nói “các
trường học ngày mai không chỉ dạy thông tin dữ liệu mà còn dạy cách xử lý
nó… Học là một cách học” thì sử dụng mạng xã hội trong học tập đã làm
được việc đó.
Như vậy, khi sử dụng mạng xã hội trong học tập, thầy là người đạo
diễn, tổ chức cho trò biết cách hành động và hợp tác với các bạn, tự mình tìm
19
tòi tri thức khoa học và biết cách ứng dụng những thông tin tri thức đó vào
thực tế cuộc sống.
1.2. Cơ sở Thực tiễn
1.2.1. Thực trạng sử dụng mạng xã vào dạy học môn Những nguyên
lý cơ bản của chủ nnghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học.
1.2.1.1. Vài nét Khoa Giáo dục chính trị của Trường Đại học Sư phạm Huế
Ngày 4 háng 4 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định
hệ khác nhau. Tổng số sinh viên đã và đang theo học tại Khoa Giáo dục chính
trị là 1985 sinh viên thuộc 20 dân tộc đến từ 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam và
một số tỉnh, thành phố của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào anh em.
Trong 10 năm qua, có 1355 sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành
Giáo dục chính trị. Các anh, các chị đang tích cực tham gia công tác trên
nhiều vị trí khác nhau, ở nhiều cương vị khác nhau, dù ở nơi giảng đường cao
đẳng, đại học, nơi bục giảng trường phổ thông, hay tham gia công tác chính
quyền, đoàn thể, hoặc trong lực lượng vũ trang nhân dân … ở cương vị nào
các anh, các chị cũng đang nỗ lực hết mình để hoàn hành tốt những nhiệm vụ
được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.
Hơn 10 năm qua, bên cạnh nhiệm vụ đào tạo cho sinh viên chuyên
ngành Giáo dục chính trị, tập thể cán bộ và giảng viên Khoa Giáo dục chính
trị đã phối hợp với Khoa Mác - Lênin (Đại học Khoa học), Khoa Kinh tế
chính trị (Đại học Kinh tế) để giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh cho hàng ngàn sinh viên thuộc các khối không chuyên
của trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Ngoại ngữ Huế; Khoa Giáo dục
thể chất - Đại học Huế, phối hợp với Đại học Khoa học - Đại học Huế đào tạo
các lớp Chứng chỉ Nghiệp vụ Sư phạm; phối hợp với các Sở Giáo dục và Đào
tạo Quảng Bình, An Giang, Quảng Trị, Khánh Hoà, Đồng Tháp, và Trường
Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh(nay là Đại học Sài Gòn) mở các
lớp Chuyên tu đào tạo Giáo dục Công dân; tích cực tham gia bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ…cho giáo viên cốt cán Giáo dục công dân các Sở
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng
21
Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Đồng Tháp, Sóc
Trăng, Ninh Thuận… Ngoài ra, Khoa Giáo dục chính trị còn phối hợp với
Trung tâm Đào tạo Từ xa - Đại học Huế trong việc đào tạo hàng ngàn cử
nhân Giáo dục chính trị (hệ từ xa).
1.2.1.2. Thực trạng việc sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học
việc sử dụng mạng xã hội là rất cần thiết đối với mỗi sinh viêntrong quá trình
22
học tập ở Trường Đại học Sư phạm Huế. Trong tổng số 60 giảng viên được
hỏi có 52 giảng viên (86,7%) cho là rất cần thiết, 8 giảng viên (13,3%) cho là
cần thiết. Như vậy, đại đa số giảng viên đã nhận thức được vai trò quan trọng
việc việc sử dụng mạng xã hội trong nhà trường cho sinh viên, từ đó đề ra
những hướng đi cho riêng bản thân để có thể tích hợp sử dụng mạng xã hội
cho sinh viên thông qua nội dung các bài học.
- Từ phía sinh viên: Qua (bảng 1.1) cho thấy, trong tổng số 268 sinh
viên được hỏi có 197 em (chiếm 73,5%) đánh giá sử dụng mạng xã hội là “rất
cần thiết”, 56 em (20,9%) cho là “cần thiết”. Tuy nhiên vẫn có 2 em (chiếm
0,7%) chưa nhận thức đúng đắn nên cho là “không cần thiết”. Như vậy, đa số
sinh viên đã nhận thức được việc sử dụng mạng xã hội sẽ giúp sinh viên tiếp
thu bài học tốt hơn.
Nhận xét của giảng viên về sử dụng mạng xã hội cho sinh viên thông
qua nội dung các môn học:
Stt Nội dung nhận xét
GV bộ môn khác
GV môn Những
NLCB Mác-Lênin
SL % SL %
1 Rất dễ 1 2 0 0
2 Dễ 5 8,1 0 0
3 Bình thường 11 18,3 4 40
4 Khó 23 38,3 6 60
5 Rất khó 20 33,3 0 0
Tổng 60 100 10 100
Bảng 1.2. Nhận xét của giảng viên về sử dụng mạng xã hội cho sinh viên
thông qua nội dung các môn học
- Đối với giảng viên bộ môn: Đa số giảng viên đều cho rằng việc sử
Bảng 1.3. Đánh giá mức độ hứng thú của sinh viên
khi dạy học có sử dụng mạng xã hội
Kết quả trên cho thấy, với 268 phiếu thì có 120 phiếu (chiếm 44,8%)
cho rằng rất hứng thú học những giờ có sử dụng mạng xã hội, 82 phiếu
24
(chiếm 30,6%) cho là hứng thú, có 59 phiếu (chiếm 22%) cho là bình thường
và 7 phiếu (2,6%) là không thích học những giờ có sử dụng mạng xã hội qua
môn học.
Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số sinh viên thì đa số các em rất
hứng thú và thích học những giờ học mà giáo viên có sử dụng mạng xã hội,
đặc biệt là trong môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Một số Em lớp 3A tâm sự: “Các Em rất hứng thú khi học giờ sử dụng mạng
xã hội vào giảng dạy, ngoài kiến thức có trong sách thì bài giảng sử dụng
mạng xã hội giúp cho các em rất nhiều kỹ năng khả năng khai thác và xử lý
thông tin tư liệu, tiếp nhận kiến thức mới”. Như vậy, sử dụng mạng xã hội vào
trong môn học đã đem lại hiệu quả nhất định trong việc trang bị cho các em
những bước khởi đầu cần thiết giúp các sinh viên khai thác, xử lý thông tin
đạt kết quả cao.
Thực trạng trên nói lên rằng, việc sử dụng mạng xã hội qua dạy học
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin chưa làm tốt được
yêu cầu đặt ra. Bởi việc sử dụng mạng xã hội vào trong các bài học bên cạnh
những thuận lợi còn không ít khó khăn.
1.2.2. Sự cần thiết sử dụng mạng xã hội vào dạy học môn Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng, đại học
Sự bùng nổ công nghệ thông tin giúp việc truyền đạt, trao đổi thông
tin, hợp tác, giao lưu giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắp hành
tinh diễn ra nhanh chóng và cực kỳ tiện ích, góp phần vào sự phát triển của
quyền tự do ngôn luận trên toàn thế giới. Chính vì vậy, mạng internet, mạng
xã hội là phương tiện giúp cho mọi người trên toàn thế giới gần gũi nhau
hơn, là đòn bẩy giúp phát huy sức mạnh cộng đồng, trong đó có sức mạnh của