[ Bản Full ] Vị trí, vai trò của Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự (trên cơ sở số liệu của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình) - Pdf 29



LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HÀ NỘI – 2014
KHOA LUẬT

HÀ ANH TUẤN

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN
CẤP TỈNH TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ
(TRÊN CƠ SỞ SỐ LIỆU CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH
BÌNH) Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 0104



Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TUÂN HÀ NỘI – 2014

1.1

1.1.1
1.1.2

1.2

1.2.1
1.2.2

1.2.3
1.3

1.3.1
1.3.2
1.4

1.4.1
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT
XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ


12

13
14

15
17

17
23
24

24

1.4.2
1.5
1.5.1
1.5.2 2.1 2.1.1

2.1.2

Những kết quả đã đạt được trong hoạt động xét xử các vụ án
hình sự của Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình
Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự
của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động xét xử
các vụ án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TOÀ
ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
34
38
38
44
49

49 49

54

62

62

67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

91

91

98
98

100

103
105
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Xã hội chủ nghĩa
Bộ luật tố tụng hình sự
Bộ luật hình sự
Toà án nhân dân
Toà án quân sự
Viện kiểm sát nhân dân

từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc Việt Nam XHCN;
hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu
quả và hiệu lực cao”.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến đổi mới tổ
chức và hoạt động của Toà án, tuy nhiên quá trình này diễn ra còn chậm, chưa
đồng bộ và toàn diện, hoạt động xét xử của Toà án chưa đáp ứng yêu cầu của
cải cách tư pháp. Chất lượng xét xử của TAND các cấp vẫn còn thấp, tình
trạng xét xử oan sai, án tồn đọng kéo dài vẫn còn chiếm tỷ lệ cao. Bên cạnh
đội ngũ Thẩm phán vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng, cơ sở vật
chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, nghèo nàn và
lạc hậu. Những tồn tại trên đã được chỉ rõ trong Báo cáo chính trị của Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI:
“Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu cả về
phẩm chất và năng lực, quá trình cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ.

2
Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa
chính xác, án tồn đọng, án bị huỷ, bị sửa còn nhiều”.
Tỉnh Ninh Bình là một tỉnh ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ có diện tích:
139 km
2
; dân số gần 900.000 người. Cơ cấu tổ chức của ngành Toà án tỉnh
Ninh Bình hiện nay gồm: TAND tỉnh Ninh Bình có 05 Toà chuyên trách, 03
phòng giúp việc và 08 TAND cấp huyện. Toàn ngành TAND tỉnh Ninh Bình
có 140 công chức, trong đó có 100 người có trình độ đại học. Trong những
năm qua, cùng với ngành Toà án toàn quốc, TAND tỉnh Ninh Bình đã không
ngừng nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân
dân giao phó. Chất lượng hoạt động xét xử đã được nâng lên từng bước, góp
phần giải quyết tốt các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tạo môi trường ổn

- Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự của tác giả Mai Thanh
Hiếu và Võ Chí Công (NXB Lao động).
Các công trình trên phần nào đã đề cập đến những khía cạnh nhất định
của chế định Thẩm phán, nhưng chủ yếu nhìn nhận dưới góc độ tổ chức và
quản lý Thẩm phán chưa nghiên cứu hoàn thiện những bất cập liên quan đến
vị trí, vai trò của Thẩm phán trong quá trình cải cách tư pháp theo tinh thần
chỉ đạo của Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt
động xét xử các vụ án hình sự.
Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng về vai
trò, vị trí của Thẩm phán trong hoạt động xét xử vụ án hình sự và các vụ án

4
hình sự của Thẩm phán TAND ở tỉnh Ninh Bình. Từ đó tác giả của luận văn
đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò của Thẩm
phán TAND cấp tỉnh trong hoạt động giải quyết án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu vị trí, vai trò của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình
sự theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành. Làm rõ những đặc trưng
riêng của hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Thẩm phán TAND cấp tỉnh
hiện nay.
- Phân tích vị trí, vai trò của Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh trong
hoạt động xét xử các vụ án hình sự ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian 05 năm
(từ 2009 đến 2013), làm rõ các nguyên nhân dẫn đến việc các bản án, quyết
định còn oan, sai, bị huỷ, cải sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán trong quá
trình áp dụng pháp luật.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản bảo đảm chất lượng xét xử

cải cách tư pháp, theo tinh thần nghị quyết 08_NQ/TW; 49_NQ/TW của Bộ
chính trị về vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của TAND trong giai đoạn
hiện nay, nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của lộ trình cải cách tư pháp.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là: Phân tích,
tổng hợp, so sánh, lịch sử và lôgic, phương pháp thống kê, trong đó chú trọng
các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vị trí, vai
trò của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự nói chung và trong hoạt
động xét xử án hình sự của TAND qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình nói riêng, luận
văn đề xuất một số yêu cầu và giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao chất

6
lượng xét xử các vụ án hình sự của Thẩm phán TAND cấp tỉnh đáp ứng nhu cầu
công cuộc cải cách Tư pháp hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về vị trí, vai
trò của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự, làm sáng tỏ các đặc điểm
của áp dụng pháp luật của Thẩm phán TAND cấp tỉnh trong việc xét xử các
vụ án hình sự.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nâng cao
trình độ lý luận, chuyên môn cho Thẩm phán, Thư ký Toà án, những người
trực tiếp làm công tác xét xử các vụ án hình sự tại các TAND, góp phần nâng cao
chất lượng giải quyết án hình sự của TAND. Luận văn có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, học tập trong các
trường Đại học chuyên ngành luật. Luận văn góp phần nâng cao nhận thức và
trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

và là người có quyền lực cao nhất. Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản
phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế
dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xoá bỏ Nhà nước phong kiến. Trong thời
gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm
“Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận điểm: Phải tách các hoạt động ban hành
pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực
nhà nước thành ba loại quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với
nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền
của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực Nhà

8
nước. Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Toà án ra khỏi hai nhánh quyền
lực lập pháp, hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ
máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa từng có đó là Thẩm
phán [28, tr.16].
Trong Luận án tiến sĩ Luật học của mình, theo tác giả Đỗ Gia Thư
“Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Toà án, chuyên xét xử các vụ án
và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Toà án, ra các bản án, quyết
định nhân danh Nhà nước” [28, tr.17].
Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 đã
đưa ra khái niệm “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp
luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc
thẩm quyền của Toà án” [tr.41].
Theo khái niệm này thì Thẩm phán là một chức danh quan trọng được bổ
nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định. Tức là chế độ bổ nhiệm Thẩm phán
được thực hiện đối với Toà án các cấp. Việc bổ nhiệm Thẩm phán phải do
người có thẩm quyền bổ nhiệm, tương ứng với ba cấp Toà án có ba ngạch
Thẩm phán và thẩm quyền bổ nhiệm với các ngạch Thẩm phán này cũng khác
nhau. Để được bổ nhiệm làm Thẩm phán thì cán bộ Toà án phải đáp ứng
những tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thẩm phán do pháp luật quy định.

luật sâu rộng, phải có kinh nghiệm tích luỹ nhiêu năm trong quá trình xét xử
các vụ án thì mới có thể làm tốt vị trí, vai trò của mình được.
Khác với công việc khác, để đưa ra được một phán quyết thấu tình đạt
lý, Thẩm phán phải huy động nhiều tố chất trong một con người. Đó là sự am
hiểu về pháp luật, sự am hiểu về kiến thức thực tế, tích luỹ kiến thức về xã
hội, lương tâm của người Thẩm phán. Cơ sở của các phán quyết là pháp luật,
những kết quả của các phán quyết có công bằng, vô tư và khách quan hay
không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong sáng, chỉ khi nào có sự
kết hợp giữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của
Thẩm phán thì lúc đó mới đảm bảo cho phán quyết của Thẩm phán thấu tình

10
đạt lý. Khi xét xử người Thẩm phán phải có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin
vào công lý bởi vì cho dù hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đầy đủ đến đâu
chăng nữa thì cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi tình huống xảy ra
trong thực tế. Thậm chí quy định của pháp luật còn chồng chéo, không đồng
bộ, song khi xét xử người Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc xét xử
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đặc biệt là phải đảm bảo công lý.
Trong con mắt của người dân, Toà án không chỉ là bảo vệ pháp luật mà còn là
biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội. Khi phải đối mặt với quan toà,
với công đường người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt. Toà án là người
đại diện của công lý và quan toà là người thực thi công lý.
Chức năng của Toà án là xét xử và Thẩm phán là người thực hiện chức
năng đó. Chức năng xét xử của Thẩm phán được thực hiện thông qua quyền
hạn, trách nhiệm được pháp luật quy định.
Pháp luật đã quy định quyền hạn và trách nhiệm cho Thẩm phán trong
các văn bản quy phạm như: Luật tổ chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh Thẩm
phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự… Các quy định
của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là cơ sở pháp lý quan
trọng đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt chức năng xét xử của mình. Khi

- Thẩm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất
mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định pháp luật.
- Thẩm phán phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của
pháp luật.

12
- Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật có
cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng tham gia
tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
- Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại,
thì Toà án nơi Thẩm phán đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm
bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Toà án
theo quy định của pháp luật.
Trên đây là những nhiệm vụ và quyền hạn chung nhất mà pháp luật quy
định cho Thẩm phán. Tuy nhiên vai trò, vị trí của Thẩm phán được thể hiện rõ
nét nhất trong phiên toà, bởi vì nhiệm vụ chính của Thẩm phán là xét xử. Do
vậy trong phần này chúng tôi chú trọng tới nghiên cứu nhiệm vụ và quyền hạn
của Thẩm phán trong xét xử.
Việt Nam đã lựa chọn mô hình tố tụng kết hợp giữa xét hỏi và tranh
tụng, xuất phát từ việc lựa chọn mô hình tố tụng như vậy nên quyền hạn và
nghĩa vụ của Thẩm phán Việt Nam được quy định cũng kết hợp cả hai đặc thù
của mô hình tố tụng xét hỏi và tranh tụng.
1.2. Những nguyên tắc tố tụng hình sự liên quan đến vị trí, vai trò
của Thẩm phán
Để thể hiện được sức mạnh của một nền pháp chế, đảm bảo được
quyền lợi của Nhà nước, cá nhân và tổ chức thì nhà làm luật đã xây dựng một
số nguyên tắc tố tụng tạo ra hành lang pháp lý cho việc áp dụng pháp luật tố
tụng khi giải quyết vụ án hình sự. Các nguyên tắc này đảm bảo cho việc mọi

tôi lựa chọn để phân tích dưới đây.
1.2.1. Nguyên tắc pháp chế
Pháp chế là yêu cầu đặt ra với mọi nhà nước hiện đại. Hiến pháp nước
ta quy định: "nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" (Điều 12). Nội dung chủ yếu của pháp chế
là các hoạt động của nhà nước và xã hội đều dựa trên cơ sở pháp luật nghiêm

14
chỉnh chấp hành pháp luật [9, tr. 224].
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hoá tại Điều 3
BLTTHS: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định
của Bộ luật này". Theo nguyên tắc này thì khi giải quyết vụ án hình sự mọi
hoạt động tố tụng của Thẩm phán phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục
quy định của BLTTHS bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý
công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội; không để lọt tội phạm không làm
oan người vô tội. Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS được
coi là nhiệm vụ của Thẩm phán. Thẩm phán được làm những gì mà pháp luật
không cấm, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật đã trao
cho họ khi giải quyết vụ án hình sự. Nếu Thẩm phán không tuân theo nguyên
tắc pháp chế sẽ dẫn đến việc xét xử oan sai, vi phạm các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, làm tổn hại uy tín của hoạt động tư pháp, làm giảm lòng
tin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật.
1.2.2. Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xét xử các thành viên trong Hội đồng xét
xử độc lập với nhau trong suy nghĩ, trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá
chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội
phạm. Trong quá trình nghị án Thẩm phán giải thích cho Hội thẩm Toà án
biết những quy định của pháp luật và đường lối xét xử cần được áp dụng xử
lý đối với vụ án đó nhưng Thẩm phán phải tôn trọng ý kiến, quan điểm của

mối quan hệ ràng buộc. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ
dẫn đến tình trạng xét xử tuỳ tiện, độc đoán. Tóm lại, đây là một trong những
nguyên tắc tố tụng quan trọng bậc nhất đảm bảo cho việc xét xử đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
1.2.3. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Sự thật của vụ án đó chính là diễn biến của sự việc phạm tội, hành vi

16
phạm tội có xảy ra hay không nếu có đã xảy ra như thế nào, ai là người tham
gia và toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Theo luật tố tụng hình
sự, xác định sự thật của vụ án thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố
tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án). Bởi vì cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng là đại diện cho nhà nước được áp dụng các biện
pháp mà luật tố tụng hình sự đã quy định, đó là phương tiện để xác định sự
thật khách quan của vụ án; mặt khác để buộc một người phải chịu trách
nhiệm hình sự trước nhà nước thì phải đưa ra chứng cứ chứng minh rằng họ
đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Do đó, bị can, bị cáo không có
nghĩa vụ chứng minh họ vô tội. Tất nhiên, BLHS cũng không có điều luật
nào quy định cấm bị can, bị cáo không có quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ để
bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ sự vô tội của mình. Chung quy lại mọi
hoạt động tố tụng, áp dụng biện pháp tố tụng của các cơ quan điều tra khi
giải quyết vụ án hình sự đều nhằm mục tiêu tìm ra sự thật khách quan của vụ
án từ đó để truy tố, xét xử đối với người có tội. Đối với Thẩm phán khi được
giao nhiệm vụ giải quyết một vụ án cụ thể, đáp số cuối cùng, mục tiêu cuối
cùng mà người Thẩm phán phải tìm ra đó là sự thật khách quan của vụ án.
Nếu người Thẩm phán không tìm ra được sự thật khách quan của vụ án mà
cố tình đưa vụ án đó ra xét xử hoặc đình chỉ vụ án thì cả một hệ luỵ kéo theo
rất nặng nề: người không có tội thì bị xét xử và phải chịu hình phạt, người có
tội thì lại nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật
Sự thật của vụ án phải được xem xét một cách toàn diện

- Mối quan hệ của Thẩm phán với Thẩm phán: Mối quan hệ này phát
sinh trong hoạt động xét xử và trong hoạt động bình thường của một cơ quan
với nhau. Vì thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh là xét xử các vụ
án có mức án đến chung thân hoặc tử hình nên Hội đồng xét xử gồm hai
Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Khi đó Thẩm phán tham gia cũng phải
nghiên cứu hồ sơ, xem xét các vật chứng (nếu có), lên kế hoạch xét hỏi…Tóm
lại cũng giống như Thẩm phán Chủ toạ phiên toà, nhưng chỉ khác không giữ
vai trò điều khiển phiên toà và giữ kỷ luật tại phiên toà.

18
Ngoài mối quan hệ này ra, còn mối quan hệ giữa Thẩm phán Chủ toạ
phiên toà với Thẩm phán dự khuyết: Theo qui định của pháp luật thì Thẩm
phán muốn được trở thành Thẩm phán dự khuyết phải được ghi tên ngay
trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm phán dự khuyết phải có mặt tại
phiên toà kể từ khi phiên toà bắt đầu xét xử thì mới có thể thay thế Thẩm phán
Chủ toạ phiên toà. Điều 186 BLTTHS quy định thay thế thành viên của Hội
đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt:
1. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu
cho đến khi kết thúc.
2. Trong quá trình xét xử, nếu có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục
tham gia xét xử được thì Toà án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thẩm phán,
Hội thẩm dự khuyết. Thẩm phán hoặc Hội thẩm dự khuyết phải có mặt tại
phiên toà từ đầu thì mới được tham gia xét xử. Trong trường hợp Hội đồng
xét xử có 2 Thẩm phán mà Thẩm phán chủ toạ phiên toà không tiếp tục tham
gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ
phiên toà và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
Mặc dù luật không quy định cụ thể về việc Thẩm phán Chủ toạ phiên toà
phải giao hồ sơ cho Thẩm phán dự khuyết nghiên cứu như thế nào, tuy nhiên
trên thực tế Thẩm phán Chủ toạ phiên toà phải giao hồ sơ cho Thẩm phán dự
khuyết nghiên cứu để đảm bảo sao cho Thẩm phán dự khuyết hiểu rõ hồ sơ vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status