Lời Mở Đầu
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển,
KTXH ở mức thấp hơn rất nhiều so với nước khác. Với tốc độ phát triển nhanh
chóng của các nước phát triển, thì khoảng cách kinh tế ngày càng dãn ra.Vì vậy
nhiệm vụ phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới là vượt qua tình
trạng của một nước nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân và từng bước hội
nhập vào quỹ đạo kinh tế Thế Giới.
Tính tất yếu của XKTB với hình thức cao của nó là hình thức đầu tư trực
tiếp nước ngoài là xu thế phát triển của thời đại. Việt Nam cũng không nằm
ngoài trong luật đó nhưng vấn đề đặt ra là thu hút FDI như thế nào.
Với mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và tiến hành
công nghiệp hoá và hiện đại hoá với mục tiêu lâu dài là cải biến nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù
hợp … cộng với thực hiện mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế trong đó có
việc nâng cao GDP bình quân đầu người lên hai lần như đại hội VII của Đảng đã
nêu ra. Muốn thực hiện tốt điều đó cần phải có một lượng vốn lớn. Muốn có
lượng vốn lớn cần phải tăng cường sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nhưng với
tình hình của nước ta thì thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng cũng là một cách
tích luỹ vốn nhanh có thể làm được. Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực
tiếp nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí vai trò ngày càng quan
trọng, trở thành xu thế của thời đại. Đó là kênh chuyển giao công nghệ, thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập, nâng cao
tay nghề cho người lao động, năng lực quản lý, tạo nguồn thu cho ngân sách…
Trên cơ sở thực trạng của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ta cũng cần
phải chú ý tới vấn đề tính tiêu cực của đầu tư TTNN. Cũng không phải là một
nước thụ động để mất dần vị thế mà xem vốn ĐTNN là quan trọng nhưng vốn
trong nước trong tương lai phải là chủ yếu.
Nhận thức đúng vị trí vai trò của đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết.
Chính phủ cũng đã ban hành chính sách đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đồng
thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng ta bằng
những biện pháp mạnh về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh… để thu hút
nền công nghiệp đã phát triển, đầu tư trong nước không còn có lợi nhuận cao
nữa. Mặt khác các nước lạc hậu hơn có lợi thế về đất đai, nguyên liệu, tài
nguyên nhân công… lại đưa lại cho nhà đầu tư lợi nhuận cao, ổn định, tin cậy và
giữ vị trí độc quyền
Theo Lê Nin " Xuất khẩu tư bản" là một trong năm đặc điểm kinh tế của
chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản phát triển thực
hiện việc bóc lột đối với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó: Nhưng
ông không phủ nhận vai trò của nó. Trong thời kỳ đầu của chính quyền Xô Viết,
Lê Nin chủ trương sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài và khi đưa ra "Chính
sách kinh tế mới" đã nói rằng những người cộng sản phải biết lợi dụng những
thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa Tư Bản thông qua hình
thức kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa Tư Bản thông qua hình thức "
Chủ nghĩa Tư Bản nhà nước" đã nói rằng những người cộng sản phải biết lợi
dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản thông
qua hình thức "chủ nghĩa tư bản nhà nước". Theo quan điểm này nhiều nước đã
"chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghiã tư bản để phát triển kinh tế, như
thế có thể còn nhanh hơn là sự vận động tự thân của mỗi nước. Tuy nhiên việc
"xuất khẩu tư bản" phải tuân theo pháp luật của các nước đế quốc vì họ có sức
2
mạnh kinh tế, còn ngày nay thì tuân theo páhp luật, sự điều hành của mỗi quốc
gia nhận đầu tư.
2. Các hình thức xuất khẩu tư bản.
Gồm c ó hai hình thức chính:
Xuất khẩu tư bản cho vay: là hình thức cho chính phủ hoặc do tư nhân
vay nhằm thu được tỷ suất cao.
Xuất khẩu tư bản hoạt động: là đem tư bản ra nước ngoài, mở mang xí
nghiệp tiến hành sản xuất ra giá trị hàng hoá, trong đó có giá trị thặng dư tại
nước nhập khẩu.
Đầu tư hoạt động gồm có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp: là đầu tư chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngaòi đầu tư toàn
phí mà các nước tư bản bỏ ra để củng cố địa vị trong chiến hữu thuộc địa và
cuối cùng là nhằm đạt được lợi nhụân cao hơn.
3
Theo phân tích đánh giá của LêNin thì sự phát triển của đầu tư trực tiếp
nước ngoài luôn gắn với lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư banr. Xuất phát từ
điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới lúc bấy giờ mà Lênin cho rằng
loại vốn được sử dụng dưới sạng đầu tư trực tiếp nước ngoài là công cụ bóc lột,
là hình thức chiếm đoạt của chủ nghĩa tư bản. Và theo quan niệm củaR.Nurkse
quan niệm, dù "đầu tư trực tiếp nước ngoài trước hết phục vụ cho lợi ích của các
nước công nghiệp xuất vốn chứ chưa phải nước nhận vốn"{32, 26} tuy nhiên là
nhân tố quan trọng, là giải pháp tích cực để cho nền kinh tế chậm phát triển có
thể "vươn tới thị trường mới". Mặc dù, đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn
cung cấp một lượng vốn đáng kể cho công nghiệp hoá, cho tăng năng suất lao
động, tăng thu nhập…. làm phá vỡ sự khép kín của vòng luẩn quẩn, nhưng nó
không phải là tất cả mà nó chỉ phát huy tác dụng khi khả năng tích luỹ vốn bằng
con đường tiết kiệm nội bộ của một nước đạt tới mức nhất định. Cũng như
R.Nurkes, quan điểm của A. Samuelson coi vốn là yếu tố quyết định đảm bảo
cho hoạt động có năng suất cao, hay nói cách khác, vốn là yếu tố có sức mạnh
nhất có thể làm cho "vòng luẩn quẩn" dễ bị phá vỡ. Theo quan điểm của hai ông
nhấn mạnh, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp,
chỉ đủ sống ở mức tối thiểu, do đó khả năng tích luỹ hạn chế và để "tích luỹ vốn
cần phải hy sinh tiêu dùng trong nhiều thập kỷ". Vì vậy A.Samuelson đặt vấn
đề: Đối với nước nghèo, nếu có nhiều trở ngại như vậy như vậy đối với việc cấm
thành tư bản do nguồn tài chính trong nước, tại sao không dựa nhiều hơn vào
những nguồn vốn nước ngoài?
2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
a. Khái niệm
Về mặt kinh tế: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế đặc trưng bởi quá
trình di chuyển tư bản từ nước này qua nước khác. FDI được hiểu là hoạt động
kinh doanh, một dạng kinh doanh quan hệ kinh tế có quan hệ quốc tế. Về đầu tư
thế cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh trước đây. Hiện nay một cơ cấu được coi là
hiện đại là cơ cấu kinh tế trong đó các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ
chiếm một tỷ lệ lớn. Tại sao trong cơ cấu đầu tư vẫn lựa chọn tối ưu vào hai
ngành này mà không phải là ngành công nghiệp nặng,… Bởi vì có những
nguyên nhân sau. Thứ nhất, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất ngày một nâng cao, vì vậy mà nhu cầu về các loại dịch
vụ phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh tăng lên mạnh mẽ, nhất là dịch vụ
kỹ thuật, tài chính, du lịch, đòi hỏi ngành dịch vụ phải được phát triển tương
ứng. Thứ hai, ngành công nghiệp chế biến là ngành có nhiều phân ngành, mà
những phân ngành đó thuộc các lĩnh vực mũi nhọn của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ, như điện tử, thông tin liên lạc, vật liệu mới… Thứ ba, do đặc
tính kỹ thuật của hai ngành này là dễ dàng thực hiện sự hợp tác. Ví dụ như
ngành công nghiệp chế tạo có những quy trình công nghệ có thể phân chia ra
nhiều công đoạn và tuỳ theo thế mạnh của mỗi nước có thể phân chia ra nhiều
công đoạn và tuỳ theo thế mạnh của mỗi nước có thể thực hiện một trong những
khâu mà hai ngành này cho phép nhà đầu tư thu được lợi nhuận cao, đỡ gặp rủi
ro hơn và nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư. Vì vậy mà hầu hết các nước đều tập
trung mọi cố gắng điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
hai ngành này. Xuất phát từ yêu cầu phát triển một cơ cấu kinh tế hiện đại theo
hướng CNH mà chính phủ của nhiều nước đang phát triển đã dành nhiều ưu đãi
cho những nước ngoài đầu tư vào hai ngành này, điều đó tạo ra sức hấp dẫn
mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
* Hiện tượng hai chiều trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ những năm 70 và đầu những năm 80 trở lại đây, đã xuất hiện hiện
tượng hai chiều, tức là hiện tượng một nước vừa tiếp nhận đầu tư vừa đầu tư ra
nước ngoài. Điển hình như Mỹ, các nước thuộc nhóm G7, các nước công nghiệp
mới (NICs)… nhận vốn đầu tư nhiều và trực tiếp đầu tư lớn. ở các nước NICs là
5
những nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nhiều nhất từ Mỹ và Nhật Bản. Đài Loan
và Hồng Kông là hai trong số 10 nước đầu.
Mặt khác, thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển chưa từng có trong
lịch sử về khoa học kỹ thuật công nghệ. Việt Nam cũng như các nước đang phát
triển khác có thể tiếp cận được những kỹ thuật tiên tiến mà thường tốn thời gian,
chi phí tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm. Và Việt Nam lựa chọn sao cho phù hợp
với yêu cầu của công nghiệp hoá của nước mình và tính kinh tế tức là nhanh
chóng ứng dụng được vào sản xuất và đưa lại hiệu quả kinh tế cao.
Quá trình toàn cầu hoá đã giúp Việt Nam tăng thu hút đầu tư nước ngoài,
viện trợ phát triển chính thức và giải quyết được vấn đề nợ quốc tế. Điều này đã
góp phần ổn định cán cân thu chi ngân sách tập trung nguồn lực cho trương trình
phát triển kinh tế xã hội trong nước. Tham gia hội nhập kinh tế cũng góp phần
cho ta tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý, và cán bộ
kinh tế. Điều này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp
với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
7
Nếu xét ở phạm vi hẹp hơn, Việt Nam nằm trong vùng Châu á- Thái Bình
Dương hiện đang là khu vực kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng tương đối
cao, có nhiều nước thực hiện công nghiệp hoá thành công, tạo ra một sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động quốc tế theo hướng tích cực. Châu á-
Thái Bình Dương hiện đang là khu vực có sự hình thành một tổ chức hợp tác
kinh tế có hiệu quả như AITA, APEC…. Các tổ chức này là điều kiện quan
trọng để phá bỏ những hạn chế, cản trở, không những trong lĩnh vực mậu dịch,
mà nó còn là cơ sở mở đường cho sự dịch chuyển vốn, công nghệ và các yếu tố
sản xuất quan trọng giữa các nước trong khu vực.
Vì thế, Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở điểm xuất
phát thấp so với các nước đi trước tuy còn ở mức thấp hơn nhiều về thực lực
kinh tế nội sinh nhưng có bối cảnh kinh tế quốc tế có nhiều thuận lợi.
b) Mục tiêu và các yếu tố đảm bảo cho sự thành công trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
Đối với Việt nam thực chất "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và
lao động trong nền sản xuất hiện đại. Do đó, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc
CNH, HĐH thì việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo được đặt ra như một quốc sách
hàng đầu. Thực hiện có hiệu quả việc đào tạo và đào tạo lại, đa dạng hoá các
loại hình và hình thức đào tạo là một trong những cách thức để chúng ta có thể
tạo ra được một cơ cấu nhân lực thích hợp, quyết định sự thành công của công
cuộc CNH, HĐH đất nước.
Thứ ba, có được một hệ thống thể chế kinh tế - xã hội đồng bộ, đúng
hướng, phù hợp với đặc điểm và trình độ của lực lượng sản xuất nhằm làm cho
chính bản thân yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh quyết định sự
chuyển biến về cơ cấu theo hướng cơ cấu của một nền kinh tế CNH, HĐH. Và,
sự chuyển biến này cũng là điều kiện để có được những tiềm lực khoa học kỹ
thuật và công nghệ thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế CNH, HĐH.
Thứ tư, có quan hệ kinh tế đối ngoại rộng rãi và hiệu quả. Đây là luồng
quan trọng nhằm thu hút tốt nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tri thức
quản lý tiên tiến và khả năng hoà nhập với nền kinh tế thế giới để giảm bớt
những bước tìm tòi, thử nghiệm, tiếp cận nhanh những tri thức, thanh tựu tiên
tiến của thế giới, rút ngắn những bước đi của công cuộc CNH, HĐH.
Thứ năm, có một thị trường đầy đủ, rộng khắp (kể cả thị trường trong và
ngoài nước) và hoàn chỉnh như là điều kiện thực hiện các yêu cầu CNH, HĐH.
Thị trường là điều kiện thực hiện các yêu cầu CNH, HĐH. Thị trường là điều
kiện vì chỉ có thông qua nó thì mọi yếu tố đầu vào, đầu ra mới có thể được đáp
ứng và phần lớn các quan hệ sản xuất - kinh doanh mới được giải quyết. Thị
trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường kỹ thuật - công nghệ, thị
trường lao động… đi vào hoạt động càng hoàn chỉnh thì tác dụng thúc đẩy sản
xuất phát triển cũng như tiến trình hoàn thành CNH, HĐH càng cao.
c) Một số yêu cầu và những vấn đề đặt ra của tiến trình CNH, HĐH ở
Việt Nam đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Thu hút vốn nước ngoài, một mặt góp phần giải quyết một trong những
tiền đề cơ bản, mang tính chất quyết định sự khởi động cho sự nghiệp CNH,
HĐH. Mặt khác, làm điều kiện kết hợp các yếu tố nội lực để khai thác tốt các
FDI là một hình thức huy động vốn để hỗ trợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh
tế. Hơn thế nữa FDI còn có nhiều ưu thế hơn so với hình thức huy động khác, ví
dụ việc vay vốn nước ngoài luôn đi cùng với một mức lãi suất nhất định và đôi
khi trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, hoặc là các khoản viện trợ thường đi
kèm với điều kiện về chính trị.
Trong khi đó liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh
nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính. Bởi vì: Thứ nhất là, họ
có nhiều kinh nghiệm nên hạn chế và ngăn ngừa được rủi ro. Hai là, trong tình
huống xí nghiệp liên doanh giữa họ với chúng ta, có nguy cơ rủi ro thì các công
ty mẹ sẽ có các biện pháp hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, trợ giúp tài chính.
Trong tình huống xấu nhất thì họ cũng sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các
công ty của các nước sở tại.
FDI vào Việt Nam sẽ tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động
các nguồn vốn khác như ODA, NGO. Nó tạo ra một hình ảnh đẹp đáng tin cậy
về Việt Nam trong các tổ chức và cá nhân nước ngoài. Mặt khác, ngay trong
quan hệ đối nội, FDI còn có tác dụng kích thích đối với việc thu hút vốn đầu tư
trong nước.
Tích luỹ vốn ban đầu cho công nghiệp hoá bằng cách khai thác tối đa
nguồn vốn trong nước và tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài là phù hợp với thời
đại hiện nay, thời đại của sự hợp tác và liên kết quốc tế.
2. Chuyển giao công nghệ mới
Với chiến lược xây dựng Việt Nam thành nước công nghiệp, theo đuổi
con đường CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN, tuy nhiên khoảng
cách về phát triển khoa học công nghệ giữa các nước phát triển, nhất là Việt
Nam, với các nước công nghiệp phát triển. Vì thế một trở ngại một trở ngại rất
10
lớn trên con đường phát triển kinh tế là trình độ kỹ thuật - công nghệ lạc hậu.
Tuỳ vào hoàn cảnh của mỗi nước mà có cách đi riêng để giải quyết vấn đề này.
Việc mà các nước đang phát triển tự nghiên cứu để phát triển khoa học kỹ thuật
cho kịp với trình độ của các nước phát triển là việc khó khăn và tốn kém. Con
xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở nước nhận đầu tư. 2) Giúp vào
sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế,
góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỉ trọng
của nó trong nền kinh tế. 3) Một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư
trực tiếp nước ngoài, nhưng cũng sẽ có nhiều ngành bị mai một đi rồi đi đến chỗ
bị xoá bỏ.
Về cơ cấu ngành kinh tế (ở Việt Nam) được thể hiện ở tỷ trọng của các
ngành trong GDP. Tỷ trọng của Việt Nam trong thời gian từ 1990 đến nay có sự
thay đổi đáng kể. Các ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, tất cả các
11
nhóm trong ngành đều tăng. Do có sự tăng cường đầu tư nhiều hơn, nhất là trang
bị máy móc thiết bị, công nghệ, nền sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã
đạt tốc độ nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong GDP. Trong 9 tháng
đầu năm 1996, giá trị sản lượng trong khu vực có vốn FDI chiếm 21,7% tổng
sản lượng công nghiệp. Hiện nay khu vực này chiếm 100% về khai thác dầu thô,
44% về sản lượng thép, hầu hết lĩnh vực lắp ráp ô tô, xe máy, và sản xuất bóng
hình là do các cơ sở này nắm giữ. Qua đây thấy vai trò FDI trong sản xuất công
nghiệp của Việt Nam hiện nay.
FDI thực sự đã có vai trò to lớn với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế thông
qua việc đầu tư nhiều hơn vào ngành công nghiệp. Vì ngành công nghiệp có
năng suất lao động cao nhất và tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, nên FDI đã góp
phần to lớn vào tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân.
Để trở thành một quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020 và để nền kinh
tế Việt Nam có thể hội nhập với khu vực và thế giới, một đòi hỏi bức xúc là phải
đẩy nhanh hơn nữa quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế
giới.
Hoạt động của đầu tư đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần nước
ngoài. Góp phần làm chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hướng của một nền
kinh tế hàng hoá. Đối với Việt Nam, vốn FDI đóng vai trò như lực khởi động,
lần sửa đổi. Luật bổ sung thứ nhất được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-6-1990 và luật sửa đổi thứ hai là vào 23-12-
1992. Trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn về hoạt động đầu tư nước
ngoài, chúng ta đã có quan điểm rõ ràng về thu hút và sử dụng nguồn lực bên
ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế.
Chúng ta coi trọng nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực bên ngoài là
quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền kinh tế.
a) Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua
Giai đoạn trước 1996: FDI liên tục gia tăng cả về số dự án và vốn đầu tư,
đạt mức kỷ lục là 8,6 tỷ USD về tổng số vốn đăng ký vào năm 1996. Trong giai
đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đạt khoảng 50% một năm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng đáng kể từ
mức 37 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 342 triệu USD năm 1988 lên 326
dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký 8640 triệu USD năm 1996.
Giai đoạn sau 1996: FDI vào Việt Nam liên tục giảm. Trong giai đoạn
1997-2000 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm trung bình khoảng 24% một
13
năm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu tư đăng ký
khoảng 8,6 tỷ USD năm 1996 xuống còn 1,9 tỷ USD năm 2000. Ngoài ra, trong
giai đoạn này, còn có một xu hướng khác rất đáng lo ngại và vốn đầu tư giải thể
tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước. Tổng số vốn đầu tư giải thể giai đoạn
1997-2000 khoảng 2,56% tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của năm trước đó cộng
lại.
Tính đến cuối năm 2002 đã có hơn 4500 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
(ĐTTTNN) được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký và tăng vốn đạt
trên 80 tỷ USD. Trừ các dự án giải thể trước thời hạn hoặc đã hết hạn hoạt động,
hiện có trên 3670 dự án đang có hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt trên 39 tỷ
USD. Trong đó có gần 2000 dự án đang triển khai hoạt động kinh doanh. 980 dự
án đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản và làm các thủ tục hành chính, gần 700
dự án chưa triển khai do nhiều nguyên nhân. Tổng số vốn đầu tư thực hiện của
Mặt khác, nhà nước cũng tạo điều kiện và giúp đỡ các doanh nghiệp trong
nước liên doanh với nước ngoài nhằm sử dụng có hiệu quả mặt bằng và nhà
xưởng, máy móc thiết bị hiện có.
Hiện nay, hình thức này chiếm 66,4% trong tổng số 815 xí nghiệp liên
doanh đã được cấp giấy phép, 51% số vốn đăng ký và 30% số dự án.
+ Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Hình thức này ngày càng phát triển trong những năm gần đây, từ 5% năm
1989 đến 27% năm 1995 trong tổng số các dự án đã được cấp giấy phép.
Hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
lựa chọn ngày càng nhiều vì nó có phần dễ thực hiện và thuận lợi hơn cho họ.
nhưng bằng hình thức đầu tư này, về phía nước nhận đầu tư thường chỉ nhận
được các lợi ích trước mắt, về lâu dài, hình thức đầu tư này không hứa hẹn
những lợi ích tốt đẹp, mà thậm chí nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều
hậu quả khó lường.
Khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, hoặc áp dụng
các hoạt động xây dựng- vận hành- chuyển giao(BOT) hay xây dựng chuyển
giao vận hành (BTO)
Hiện nay hình thức này chiếm 36% vốn đăng ký và 66% số dự án
+ Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Là hình thức mà theo đó bên nước ngoài và bên Việt Nam cùng nhau thực
hiện một hợp đồng đã được ký giữa hai bên, quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi
và nghĩa vụ của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh mà không thành lập một
pháp nhân mới.
Hình thức này đã xuất hiện sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho đến nay
vẫn chưa hoàn thiện được các qui định pháp lý cho nó. Điều đó đã gây không ít
khó khăn cho việc giải thích hướng dẫn và vận dụng vào thực tế.
Lợi dụng sơ hở này, một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn tránh sự quản
lý của nhà nước, đầu tư chui vào Việt Nam. Hoặc khi thực hiện các dự án lớn,
các bên hợp doanh thường gặp khó khăn trong việc điều hành dự án.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức dễ thực hiện và có ưu thế lớn
trong năm 2002.
d) Thực trạng đầu tư của mỹ vào Việt Nam.
Tính đến ngày 31-8-2001, Mỹ có dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu
tư đăng ký là 1058 triệu USD và vốn đầu tư thực hiện đạt 489,4 triệu USD, Mỹ
có 82 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm 58,6% tổng số vốn đầu tư là
306,2 triệu USD, tiếp đến là ngành dầu khí, công nghiệp nhẹ, xây dựng và thực
phẩm. Nông, lâm nghiệp có 16 dự án chiếm 13,5% tổng vốn đầu tư.
Theo hình thức đầu tư, Mỹ có 83 dự án 100% vốn nước ngoài (chiếm
64,3% tổng số dự án), với tổng số vốn đầu tư là 554,3 triệu USD (chiếm 52,4%
tổng vốn đầu tư); Tiếp theo là hình thức liên doanh có 33 dự án (25,6%) với vốn
đầu tư là 369,8 triệuUSD (34,9%) và hợp đồng hợp tác liên doanh có 11 dự án
(10,1%) với tổng vốn đầu tư là 134,1 triệu USD (12,7%).
Các dự án đầu tư của Mỹ đầu tư tại 26 tỉnh thành phố nhưng tập trung chủ
yếu tại thành phố HCM với 37 dự án, với vốn đầu tư là 187,5 triệu USD; Hà
Nội: 22 dự án với 158,1 triệu USD và Đồng Nai với 14 dự án, với vốn đầu tư là
181,4 triệu USD; 3 địa phương này chiếm 56% tổng số dự án và 50% tổng vốn
đầu tư của Mỹ tại Việt Nam. Đây là những địa bàn có cơ sở hạ tầng và điều kiện
sản xuất kinh doanh tốt hơn so với các tỉnh thành trong cả nước.
Tác động của hiệp định thương mại Việt - Mỹ đến triển vọng thu hút đầu
tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam.
Cơ hội đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam thể hiện ở những điểm
chính sau:
Thứ nhất, với mức thuế suất của nhiều mặt hàng giảm từ 40-60% xuống
còn 3%, xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ sẽ tăng. Ngân hàng Thế giới dự báo xuất
khẩu Việt Nam sang Mỹ sẽ tăng từ 368 triệu USD (mức năm ngoái) lên 1 tỷ
USD/năm trong vòng 4 năm tới. Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp
Mỹ đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt có lợi cho ngành sản xuất quần áo, giày dép
16
vì các doanh nghiệp Mỹ muốn tận dụng lợi thế nhân công rẻ ở Việt Nam "Việt
Nam thực sự là nơi lý tưởng cho sản xuất, và điều này sẽ còn trở nên tốt hơn
không kém phần quan trọng đó là sự giảm sút về khả năng hấp dẫn do điều kiện
nội tại của nền kinh tế Việt Nam. Trong đó có việc do giảm bớt một số ưu đãi
trong luật đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1996 so với trước.
Số lượng vốn cùng được thể hiện qua các dự án, quy mô dự án bình quân
của thời kỳ 1988-2000 là 11,44 triệu USD/1 dự án theo số lượng vốn đăng ký.
Tuy nhiên quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân năm 1999 bị nhỏ đi một
cách đột ngột (5,04 triệu USD/1 dự án). Quy mô dự án theo vốn đăng ký bình
quân của năm 1999 chỉ bằng 40,06% quy mô bình quân thời kỳ 1988-2001 và
chỉ bằng 28,5% của năm cao nhất là năm 1995. Quy mô vốn bình quân của các
dự án mới được cấp phép trong năm 2000 tuy đã tăng lên, nhưng sang năm 2001
mặc dù có thêm dự án với quy mô đầu tư lớn (nhà máy điện Phú Mỹ III số vốn
đăng ký là 412,9 triệu USD, mạng điện thoại di động số vốn đăng ký 230 triệu
USD) dự án chế biến nông sản phẩm tại TP HCM có vốn đăng ký 120 triệu
USD…). Nhưng quy mô vốn bình quân của các dự án đạt bằng 97,4% mức bình
quân năm 2000. Điều đó chứng tỏ năm 2001 có nhiều dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam với qui mô nhỏ.
2. Cơ cấu vốn đầu tư
a) Cơ cấu vốn đầu tư FDI tại Việt Nam theo vùng lãnh thổ
Trong thời kỳ này thì vùng Đông Nam Bộ đã chiếm hơn nửa tổng số vốn
đầu tư 54%. Tiếp theo là Đồng bằng sông Hồng với 30%. Còn các vùng khác thì
con số này là rất thấp. Duyên hải Nam Trung Bộ là 8%. Đồng bằng Sông Cửu
Long là 2%, Bắc Trung Bộ (2%) và Đông Bắc (4%). Còn hai vùng Tây Nguyên,
Tây Bắc con số này là 0%. Qua đây ta thấy tỉ lệ vốn đầu tư vào các vùng không
đồng đều nhau. Tập trung ở vùng có các tỉnh thành phố phát triển. Còn các vùng
khác thì cơ cấu vốn lẻ tẻ, ít ỏi. Đây cũng là điều bất cập làm cho đất nước phát
triển không đều, gây nên khoảng cách giàu nghèo. Mặt khác ở từng vùng thì tỉ lệ
vốn cũng khác nhau. Nếu hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh đã chiếm hơn nửa (50,3%) tổng số vốn đầu tư của cả nước thì 10 địa
phương có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8%. Thành phố Hồ Chí Minh
với số vốn đăng ký 9991,3 triệu USD (chiếm 28,3% tổng vốn đăng ký cả nước.
hiện CNH, HĐH ở nông thôn, nông nghiệp, để tạo ra việc làm, thu nhập cho một
số đông lao động cũng như tác động làm chuyển biến đáng kể đến sản xuất và
đời sống của đa số dân cư Việt Nam.
3. Tình hình sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án.
Năm Vốn thực hiện
(triệu USD)
So với vốn đăng ký
mới trong năm (%)
Vốn nước ngoài
(triệu USD)
Vốn trong nước
(triệu USD)
1991 478 37,49 432 46
1992 542 26,74 478 64
1993 1097 42,37 871 226
1994 2213 59,08 1936 277
1995 2761 41,79 2363 398
1996 2837 32,84 2447 390
1997 3032 62,53 2768 264
1998 2189 56,17 2062 127
19
1999 1933 123,36 1758 175
2000 2100 105,69 1900 200
2001 2300 94,42 2100 200
Tổng 21482 51,72 19115 2367
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002 Việt Nam và thế giới, tr50.
Đến hết năm 2001 tổng số vốn đã thực hiện bằng 51,72% của tổng số vốn
đăng ký. Trong điều kiện của Việt Nam kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng
lạc hậu, các nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều
hiện là 1079 triệu USD.
+ Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp: Vốn đăng ký là 1,86 tỷ USD và vốn
thực hiện là 852 triệu USD.
4. Tác động tích cực của đầu tư nước ngoài đối với công nghiệp hoá- hiện
đại hoá.
20
Thứ nhất: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng và là
một trong những điều kiện kiên quyết để Việt Nam thực hiện và đẩy nhanh sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Thực tế cho thấy, từ khi thực hiện chính sách FDI cho đến nay, vốn đầu tư
nước ngoài thực hiện Việt Nam bình quân 1.111,75 triệu USD/năm; vốn đầu tư
xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư nước ngoài bình quân 16291 tỷ tỷ
đồng/năm, thời kỳ 1991 - 1999.
Đối với một nền kinh tế như của nước ta, thì đây là một lượng vốn đầu tư
không nhỏ thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến, không chỉ về
qui mô mà còn có vai trò như "chất xúc tác - điều kiện" để việc đầu tư của ta đạt
được hiệu quả nhất định. Nếu so với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản xã hội
thời kỳ 1991 - 1999 thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các dự án FDI chiếm
26,51% và lượng vốn đầu tư này có xu hướng tăng lên.
Vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng, giúp Việt Nam
phát triển một nền kinh tế bền vững theo yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH.
Hoạt động FDI còn là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân
sách nhà nước, điều này được chứng minh thông qua số tiền thực hiện nộp ngân
sách nhà nước tăng lên qua các năm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Về định tính, sự hoạt động của đồng vốn có nguồn vốn từ FDI như là một
trong những động lực gây phản ứng dây chuyển làm thúc đẩy sự hoạt động của
đồng vốn trong nước.
Thứ hai: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo nên năng
lực sản xuất mới, ngành nghề mới, công nghệ mới, phương thức sản xuất kinh
tích theo logic, cùng với đánh giá thực tế của một số cơ quan chuyên môn thì
thấy rằng: Các nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng đặt lợi nhuận và thời gian
thu hồi vốn là mục tiêu hàng đầu. Tiếp theo là thiết bị công nghệ. Mặc dù chưa
phải là hiện đại nhất của thế giới nhưng phần lớn là hiện đại hơn những thiết bị
đã cố trước đây của Việt Nam.
Một vấn đề cũng rất quan trọng là, nếu như trước đây, các doanh nghiệp
Việt Nam chỉ biết sản xuất kinh doanh thụ động thì sự xuất hiện của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh
làm thay đổi cản bản phương thức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Việt Nam theo hướng thích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị
trường. Các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu với vấn đề xác định khả
năng tồn tại hay phá sản. Để có thể tồn tại các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn
cách là thay đổi một cách canư bản từ công nghệ cho đến phương thức sản xuất
kinh doanh.
Thứ ba: Hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra
một số lượng lớn chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời
góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực sản xuất cho người
lao động.
Tính đến ngày 31/12/1999 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã
tạo ra 296.000 việc làm trực tiếp và khoảng 1 triệu lao động gián tiếp. Như vậy,
số lao động làm việc trong các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự
án đầu tư nước ngoài chiếm khoangr 39% tổng số lao động bình quân hàng năm
trong khu vực nhà nước.
Thu nhập bình quân của lượng lao động này là 70 USD/ tháng bằng
khoảng 150% mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực Nhà nước.
Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam do đó đã tạo ra sự cạnh tranh
nhất định trên thị trường lao động. Tuy nhiên, lao động làm việc trong các doanh
nghiệp này đòi hỏi cường độ lao động cao, kỷ luật nghiêm khắc, trình độ cao là
yếu tố tạo nên người Việt Nam có ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ
tay nghề.
những thế. Nó còn góp phần hình thành nhiều ngành nghề sản xuất mới cũng
như nhiều sản xuất mới.
5. Hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
a. Khu vực đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ
và kỹ thuật của nhiều ngành sản xuất để tạo điều kiện nâng cao tay nghề, kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
CNH - HĐH đất nước, ngoài ra khu vực này đã thu hút được một lượng lao
động đáng kể, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, thu nhập của người lao động được tăng
lên, mức sống được cải thiện. tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được đầu tư
trực tiếp nước ngoài còn có một số hạn chế sau:
b. Cơ cấu vốn đầu tư nhìn chung còn bất hợp lý so với định hướng phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. Thực tế hoạt động FDI trong những năm qua
cho thấy vốn đầu tư vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào những ngành dễ thu lợi
nhuận, thời gian thu hồi vốn ngắn như; Các ngành sản xuất chất tẩy rửa, ngành
gia công may mặc, giày dép lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, dân dụng, sắt thép, xi
măng, khách sạn, văn phòng cho thuê… Còn các dự án thuộc lĩnh vực nông,
lâm, ngư nghiệp, thuỷ sản, công ngghiệp cơ khí và dịch vụ có giá trị lớn như
23
giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng lĩnh vực công
nghệ cao chiếm tỷ lệ rất thấp cả về số lượng dự án và vốn đầu tư.
- Một số dự án hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài dẫn đến tình trạng
bị phá sản, công nhana bị sa thải. Từ năm 1998 đến năm 2001 có xu hướng
nhiều liên doanh đã phải chuyển sang hình thức Công ty 100% vốn nước ngoài
để cải thiện hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một số liên doanh do vốn đầu tư
của Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư (trung bình khoảng
30% vốn pháp định, bằng khoảng 10% tổng vốn đầu tư, chủ yếu góp bằng giá trị
quyền sử dụng đất), cộng với nưững yếu kém về trình độ chuyên môn, quản lý
nên nhiều dự án bị các chủ đầu tư nước ngoài thao túng, tự động tăng giá thiết bị
nguyên liệu đầu vào, thực hiện chuyển giá trong nội bộ Công ty. Nhiều công
nghệ lạc hậu quá cũ, gây ô nhiễm môi trường.
côn nghiệp phụ trợ của Việt Nam kém phát triển, điển hình là các ngành sản
24
xuất, lắp ráp ô tô, xe máy và may mặc. Các doanh nghiệp phải nhập khẩu phần
lớn các linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu, và chỉ thực hiện công đoạn lắp ráp, gia
công tại Việt Nam, nên giá trị gia tăng thực tại Việt Nam thấp, đồng thời thực tế
này làm giá thành sản phẩm cao, hạn chế sức cạnh của sản phẩm.
25