Cách đặt nhan đề tác phẩm trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp - Pdf 29



TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
********
TRẦN THỊ NGA

CÁCH ĐẶT NHAN ĐỀ
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Người hướng dẫn khoa học
Th.S LÊ KIM NHUNG HÀ NỘI - 2014

LỜI CẢM ƠN

phẩm trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” được hoàn thành do sự cố
gắng của bản thân, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Lê Kim Nhung.
Tôi xin cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của tôi và không
trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác. Nếu sai, tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Trần Thị Nga MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2

KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM

KHẢO 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học phản ánh cuộc sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Đó
là cách cảm nhận về thế giới hiện thực của mỗi tác giả với những quan niệm
và thái độ khác nhau. Cho nên, khi nghiên cứu bất kì một tác phẩm văn học
nào, người nghiên cứu cũng không thể thoát ly khỏi yếu tố ngôn ngữ. Tiếp
cận tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ do đó là một điều tất yếu. Khi sáng tác, nhà
văn bao giờ cũng đặt tên cho tác phẩm tinh thần của mình. Vì thế, nhan đề
chính là điểm tiếp xúc đầu tiên giữa độc giả và tác phẩm văn học.
Nhan đề có thể được đặt ngẫu nhiên nhưng phần lớn là có chủ ý, nhằm
thể hiện một dụng ý nghệ thuật nào đó của nhà văn. Tên tác phẩm tạo ấn
tượng ban đầu, tạo sự hấp dẫn, thu hút sự chú ý của bạn đọc. Nó gợi sự bí ẩn,
kích thích trí tò mò để đọc giả tìm hiểu tác phẩm nhằm lí giải được những băn
khoăn với nhan đề mà mình vừa đọc, từ đó suy ngẫm về nội dung tác phẩm.
Không chỉ tạo sự hấp dẫn, ấn tượng ban đầu, nhan đề còn làm nổi lên
chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nói khác đi, giữa nhan đề và nội dung có mối
quan hệ, chi phối nhau. Do đó, nhan đề cũng chính là căn cứ xác định sự
thống nhất, hoàn chỉnh của văn bản. Nó không chỉ nhằm nhận diện văn bản,
mà còn là một yếu tố giữ vai trò định hướng giao tiếp cho độc giả khi tiếp

Vẫn trong Phong cách học văn bản, khi tìm hiểu tính định hướng trong
giao tiếp của văn bản, Đinh Trọng Lạc cũng nói tới “dấu hiệu đặc tả” trong đó
có đề cập tới những chỉ dẫn về đầu đề của tác phẩm. Tác giả quan niệm: “Đầu
đềlà một căn cứ để nhận ra tính toàn vẹn của một văn bản. Những văn bản
miệng thường không có đầu đề” [2,177-178], sau đó đưa ra một số ví dụ minh
họa. Trong các bài giảng về các biện pháp tu từ văn bản, Đinh Trọng Lạc
cũng có nói tới vấn đề đặt nhan đề. Ông cũng có nhắc tới vấn đề đặt nhan đề,
nội dung, ý nghĩa của một số nhan đề. Giáo sư cho rằng đặt nhan đề có vai trò
rất quan trọng, có loại nhan đề “đa trị” (nhiều nghĩa) và loại nhan đề “đơn

3
trị”. Ở nhan đề “đa trị”, người đọc phải đọc kĩ tác phẩm để hiểu nghĩa chính
hay cái mà tác giả muốn gửi gắm ở đây là gì. Ở nhan đề “đơn trị”, tác giả cho
rằng phải hiểu “lùi lại”, khi đọc xong tác phẩm phải suy nghĩ lại nhan đề tác
phẩm [4].
Giáo sư Hà Minh Đức trong Lý luận văn học đã quan niệm dấu hiệu về
chủ đề hay được bộc lộ qua tên gọi (nhan đề, đầu đề, tiêu đề) của tác phẩm.
Điều này có cơ sở ngay trong tâm lí sáng tạo của mỗi nhà văn, sao cho tên gọi
của mỗi tác phẩm có thể bao quát một cách cô đọng nhất toàn bộ hiện thực
được thể hiện.
Trong báo Văn nghệ, ở mục “Sổ tay người yêu thơ”, tác giả Bùi Mạnh
Nhị đã viết bài “Về nhan đề bài thơ”. Trong đó, ông dẫn ra một số cách đặt
nhan đề bài thơ và coi nhan đề là một chi tiết, một tín hiệu nghệ thuật mang
tính khái quát. Vì vậy, việc đặt nhan đề tác phẩm rất quan trọng [16,21].
Ở góc độ Ngữ pháp học, có nhiều khóa luận đã nghiên cứu về câu tiêu
đề và hiệu quả nghệ thuật của câu tiêu đề:
- “Tìm hiểu cách đặt câu tiêu đề trong các truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan” (tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, năm 2009, trường ĐHSP Hà
Nội 2).
- “Cách đặt câu tiêu đề trong các truyện ngắn của Nam Cao” (tác giả

“Tướng Về hưu” xuất hiện” in trong sách Tài năng và người thưởng thức. Đa
số đều công nhận đây là sản phẩm của một tài năng độc đáo. Tháng 4/1988,
chùm truyện lịch sử “Kiếm sắc - Vàng lửa - Phẩm tiết” ra đời thì dư luận
càng trở nên sôi nổi. Người khen cũng khen hết lời mà người chê cũng không
tiếc chữ. Tạ Ngọc Liễn trong bài báo viết về Nguyễn Huy Thiệp cho rằng tác
giả đã “bôi nhọ các anh hùng dân tộc”, một số người còn cho rằng Nguyễn
Huy Thiệp thiếu cái tâm trong sáng trong sáng tác. Ngược lại Nguyễn Diệp

5
nhân đọc Phẩm tiết thì cho rằng nhà văn đã “có bản lĩnh đi theo một con
đường sáng tác của mình”. Lại Nguyên Ân bênh vực tác giả với bài viết:
“Đọc văn phải khác đọc sử”, ông viết “Qua những Kiếm sắc, Vàng lửa, tôi
nghĩ anh có điểm nhấn riêng, theo kiểu văn học”. Đại đa số ý kiến cho rằng:
Văn của Nguyễn Huy Thiệp đã đi gần đến cảm quan văn học hậu hiện đại.
Các yếu tố huyền thoại trong những sáng tác của ông như một phương thức
phản ánh hiện thực và con người đương đại. Cái thực và cái ảo trộn lẫn với
nhau khó tách bạch như: Những ngọn gió Tua Hát, Con gái thủy thần, Chảy
đi sông ơi… Đặng Anh Đào tìm thấy chất thơ bay bổng trong Con gái thủy
thần là yếu tố huyền thoại với “bản thân huyền thoại thực sự bao giờ cũng là
một hệ thống chứ không phải một cốt truyện có đầu có đuôi” (bài viết “Từ
một nguyên tắc đa âm đến một số hiện tượng văn học Việt Nam”). Tính chất
đa thanh như một nguyên tắc chủ đạo trong tiểu thuyết hiện đại. Đọc Nguyễn
Huy Thiệp, Châu Minh Hùng phát biểu: “Nguyễn Huy Thiệp tạo ra nhiều
tiếng nói của nhiều quan điểm, tư thưởng khác nhau bên ngoài môi trường xã
hội để tạo ra cuộc đối thoại không khoan nhượng giữa các nhà văn” [6, 278].
Nếu như văn chương là một cuộc thám hiểm sức mạnh của ngôn ngữ
thì Nguyễn Huy Thiệp là một nhà thám hiểm đang đi vào tìm kiếm và khám
phá sức mạnh của ngôn từ. Lấy ngôn từ để diễn đạt tình ý, nhà văn đã “lạ
hóa” cách viết. Có thể nói “lạ hóa” là một nguyên tắc sáng tác chủ yếu trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Nguyên tắc này tạo nên dấu ấn hậu hiện đại ở

Nguyễn Huy Thiệp. Dù lên tiếng chỉ trích gay gắt nhưng không ai không thừa
nhận tài năng văn chương của cây bút truyện ngắn này. Nói như Nguyễn Hải
Hà và Nguyễn Thị Bình: “Hiện tượng Nguyễn Huy Thệp là sản phẩm tất yếu
của sự gặp gỡ tài năng với khát vọng dân chủ và đổi mới mà sự vận động ý
thức xã hội cũng như văn học sau 1975 đem lại” [14,545].

7
Ngoài ra cũng có thể kể đến một số khóa luận, luận văn nghiên cứu về
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như:
- “Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp” (Đại học Vinh, 2002).
- “Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”
(Nguyễn Thành Nam, ĐHSP Hà Nội, 2006).
- “Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn nguyễn Huy Thiệp” (Đỗ Thị
Liên, ĐH Cần Thơ, 2007).
- “Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Nguyễn
Mạnh Hà, 2009), tác giả đã phân tích và làm nổi bật tư duy tiểu thuyết trong
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
- “Đặc điểm lời văn trong truyện ngắn Nguyên Huy Thiệp” (Lê Thị
Nguyên Trong, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, 2011).
- “Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Bùi Đức
Thiện, 2012).
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về đầu đề trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào. Nếu có thì nó mới dừng
lại ở góc độ lí luận, khái quát, mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về vai trò
định hướng giao tiếp của nhan đề trong các truyên ngắn của ông.
Do đó, tiếp nối hướng nghiên cứu của các tác giả, đồng thời với mong
muốn nghiên cứu một cách có hệ thống đầy đủ hơn về vai trò của nhan đề tác
phẩm trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi lựa chọn đề tài:

6.2. Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian và khuôn khổ của đề tài, khóa luận giới hạn
phạm vi nghiên cứu trong cuốn Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp do
Đỗ Hồng Hạnh tuyển chọn và hiệu đính năm 2005, Nxb Văn hóa, Sài Gòn.

9
7. Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần:
- Mở đầu:
- Nội dung:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận
+ Chương 2: Phân tích kết quả khảo sát, thống kê
- Kết luận

11
Văn bản xuất hiện với tư cách là một thể thống nhất phong cách học
ngôn ngữ, một khách thể phân tích phong cách độc lập. Chính vì văn bản
được đưa vào hệ thống các đơn vị có giá trị tu từ hoặc có giá trị tu từ tiềm
tàng như vậy, cho nên cần thiết phải tiến hành việc miêu tả văn bản từ quan
điểm các khái niệm xuất phát của phong cách học, cũng như việc nghiên cứu
các phạm trù cơ bản và những khả năng sử dụng chúng nhằm mục đích tu từ.
1.2. Nhan đề văn bản
1.2.1. Khái niệm
Nhan đề còn được gọi là đầu đề, tiêu đề, tựa đề… là tên gọi của văn
bản, là một bộ phận hợp thành của văn bản. Theo Từ điển tiếng Việt: “Đầu đề
là tên của một bài thơ, bài báo”. “Nhan đề là tên đặt cho một cuốn sách hoặc
một bài viết” [16]. Trong Lý luận văn học Giáo sư Hà Minh Đức lại định
nghĩa: “Nhan đề là dấu hiệu của chủ đề tác phẩm” [1].
Dấu hiệu của nhan đề: dòng chữ được đặt ở vị trí đầu văn bản, nó được
trình bày khác biệt với phần nội dung bởi cỡ chữ, kiểu chữ, màu chữ… Nhan
đề văn bản có tác dụng giới thiệu sơ bộ, khái quát và cô đọng nội dung văn
bản. Nhan đề cũng là một căn cứ để nhận ra sự hoàn chỉnh trong cả nội dung
và hình thức của văn bản.
1.2.2. Đặc điểm nhan đề tác phẩm
Trong cuộc sống, không chỉ văn bản mới có tên gọi nhiều sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên và xã hội thông qua quá trình tìm hiểu và nhận thức của
con người đều mang cho mình một tên gọi. Khái niệm “tên gọi” được dùng
với nhiều thuật ngữ không giống nhau tùy thuộc vào đối tượng (đối với người
hay sự vật thì đó là “tên”, với cửa hiệu hay nhà cửa, đường phố… là “biểu
hiện”, đối với sản phẩm là “nhãn hiệu”, đối với các ấn phẩm thì đó là “nhan
đề”, “tiêu đề”, “tựa đề”…”). Các tên gọi khác nhau và nhan đề của văn bản có
điểm chung: đều có chức năng định danh và khu biệt. Nhưng giữa chúng cũng
khác nhau mấy điểm: tên (người, sự vật), biển hiệu, nhãn hiệu… là những tín

bao giờ cũng nhằm vào một nhóm người đọc nhất định. “Tính định hướng thể

13
hiện thông qua các yếu tố ngôn ngữ” (có thể là một từ, một câu, hoặc một
đoạn) cũng có thể thông qua cấu trúc bố cục văn bản. Những yếu tố đó có vai
trò định hướng trong quá trình tiếp nhận văn bản.
Trong Phong cách học văn bản, tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa ra một số
yếu tố có vai trò định hướng trong việc tiếp nhận văn bản mà tác giả gọi là
những “dấu hiệu đặc tả” (hay những “dấu ghi”) của văn bản nghệ thuật. Đó là
những “chỉ dẫn”: về nhà xuất bản, về loại sách, về tác giả, về tính chất của bút
danh tác giả, về cách đặt đầu đề, về tính chất của văn bản, về thể loại văn bản…
1.3.2. Những chỉ dẫn của nhan đề của tác phẩm
Một văn bản hoàn chỉnh là một văn bản phải có nhan đề, bởi vì nhan đề
có các chức năng hết sức quan trọng trong kết cấu - nội dung chung của văn
bản. Lâu nay, khi nghiên cứu về tác phẩm văn học nói chung người ta thường
ít chú ý đến tín hiệu này. Những văn bản miệng thường là không có nhan đề.
Nếu có chỉ trong trường hợp như các báo cáo tham luận miệng trong các hội
nghị người nói “thông báo” nhan đề ngay trong đoạn mở đầu văn bản của
mình. Trong những văn bản viết nhan đề được đặt theo những cách rất khác
nhau, theo từng thể loại văn bản, theo hứng thú người viết và cả theo thời
thượng của công chúng.
Nhan đề trong phong cách nghệ thuật thường đa dạng và phức tạp hơn
nhan đề ở các thể loại văn bản khác. Nhan đề có thể đặt theo đề tài như Chí
Phèo, hay đặt theo cảm xúc: Băn khoăn. Nhan đề có thể bộc lộ rõ chủ đề của
văn bản: Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Đi tìm bãi cá (Nguyễn Trinh),
Nhớ (Nguyễn Đình Thi), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)… Có loại nhan đề
không bộc lộ rõ trực tiếp chủ đề của văn bản mà có tình hàm ẩn. Nó đòi hỏi
người đọc phải tự giải mã qua lần tìm nội dung như: Đôi mắt (Nam Cao), Bão
(Tế Hanh), Hai nửa vần trăng (Hoàng Hữu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy
Thiệp)…

15
nhan đề cho văn bản không phải là tất yếu.Và tác dụng chủ yếu của nhan đề là
để nhận diện văn bản hơn là phản ánh hướng, đích và cấu trúc nội dung của
văn bản. Tuy nhiên, vấn đề sẽ rất khác nếu đề cập đến nhan đề trong tác phẩm
văn học.
Cái nhan đề (đầu đề, tiêu đề) của tác phẩm (thơ cũng như văn xuôi) là
một tín hiệu nghệ thuật mang tính khái quát. Với nhà văn, trong quá trình
sáng tác, đầu đề có thể đến trước, nhưng có khi bài thơ, bài văn thành hình hài
rồi nó mới xuất hiện. Còn người đọc thì tiếp xúc với tác phẩm bắt đầu từ cái
nhan đề đó.
Giáo sư Đinh Trọng Lạc nhận xét: “Tên bài thơ thường chứa đựng tứ
thơ của toàn bài. Nó đảm nhiệm vai trò tâm điểm của vòng tròn đồng tâm, từ
đó cảm xúc tỏa ra trở về hội tụ. Nó “hướng dẫn” người đọc trong quá trình
lĩnh hội tác phẩm. Nó đề lại cho người đọc những rung cảm và suy nghĩ sâu
sắc” [2,178]. Đầu đề bài thơ rất đa dạng. Mỗi dạng khơi gợi ở người đọc một
cách tiếp nhận, một lối rung cảm riêng. Có khi đầu đề là một cảm xúc vút lên
(Bác ơi - Tố Hữu, Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên), có
khi là một lời nhận xét, một hình tượng khái quát (Sự sống chẳng bao giờ
chán nản - Xuân Diệu, Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân), có khi là âm
vang của một ngọn núi, dòng sông, một địa danh (Núi đôi - Vũ Cao, Vàm Cỏ
Đông - Hoài Vũ) hoặc là những khúc hát (Bài ca chim Chơ rao - Thu Bồn,
Khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)… Với văn xuôi
nghệ thuật, tác giả cho rằng: “Vai trò của nhan đề có tác dụng trong thủ pháp
dùng yếu tố hồi chỉ trong câu mở đầu […]. Những nhan đề thành công nhất
phải là những nhan đề chứa đựng được các chủ đề, tư tưởng - nghệ thuật của
tác phẩm. Nó đảm nhiệm vai trò điểm xuất phát và cũng là điểm kết thúc của
quá trình lĩnh hội tác phẩm. Trong quá trình này, người đọc thường xuyên làm
công việc liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng được tường thuật, miêu tả với

16

rất được coi trọng. Bởi vì, từ đặc điểm của mình, nhan đề có khả năng kích
thích mặt tích cực trong tâm lí của người đọc, khơi dậy trí tò mò ở độc giả.
Suy cho cùng, nhan đề là điểm xuất phát nhưng cũng là điểm kết thúc của quá
trình lĩnh hội tác phẩm văn học.
1.4. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
1.4.1. Cuộc đời
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950, quê ở Thanh Trì,
Hà Nội. Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên Nông thôn và những người lao
động vì thế để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong nhiều sáng tác của ông. Ông
thường nói: “Mẹ tôi là nông dân còn tôi sinh ra ở nông thôn”. Nguyễn Huy
Thiệp chịu ảnh hưởng sự giáo dục chủ yếu của ông ngoại vốn là người am
hiểu Nho học và mẹ là người sùng đạo Phật. Năm 1960, ông cùng gia đình về
quê quán và định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ sinh sống.
Nguyễn Huy Thiệp là một bông hoa nở muộn trên văn đàn. Vài truyện
ngắn của ông xuất hiện lần đầu tiên trên báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt
Nam năm 1986. Chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài
nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. Có người lên
án ông gay gắt, thậm chí coi văn chương của ông có những khuynh hướng
thấp hèn. Người khác lại hết lời ca ngợi ông và cho rằng ông có trách nhiệm
cao với cuộc sống hiện nay.
1.4.2. Sự nghiệp
Nguyễn Huy Thiệp viết cả kịch bản văn, phê bình văn học, tiểu thuyết
nhưng sở trường của ông là truyện ngắn. Truyện ngắn của ông có thể tạm
được phân loại như sau:
- Về lịch sử và văn học: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị
Lộ, Mưa Nhã Nam, Chút thoáng Xuân Hương.

18
- Truyện ngắn mang hơi hướng huyền thoại hoặc cổ tích: Những ngọn

- Kết cấu truyện đặc biệt: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hầu như chỉ
đi theo dòng thời gian tuyến tính. Rất ít sự xáo trộn về mặt kết cấu trong nội
bộ câu chuyện. Song, nếu khảo sát kỹ, ta sẽ thấy có điều đặc biệt trong cách
mở đầu và kết thúc ở mỗi truyện. Cụ thể, nhà văn thường dùng cách mở đầu
mỗi truyện theo lối truyền thống. Lối mở đầu này gần giống như các truyện
dân gian (truyện cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn…). Có nghĩa là nhà văn sẽ
giới thiệu những nét chung nhất về các nhân vật có mặt trong truyện. Cách
giới thiệu của Nguyễn Huy Thiệp thường ngắn gọn, súc tích nhưng mang tính
khái quát cao.
- Trái với cách mở đầu mang tính truyền thống, kết thúc của truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp luôn là kết thúc mở. Đặc biệt, ở nhiều truyện, nhà
văn tạo dựng nhiều giả thuyết khác nhau cho đoạn kết câu chuyện. Điều này
thể hiện rõ nét tính khách quan trong phong cách Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả
cho phép người đọc tự do chọn lựa một kết cục phù hợp chứ không áp đặt.
Kết thúc mở được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng nhiều trong nhóm truyện đề tài
lịch sử. Điển hình như trong Kiếm sắc, nhân vật Lân đã bị Nguyễn Phúc Ánh
xử chém bằng thanh kiếm thần. Tuy nhiên, tác giả lại thêm một đoạn kể về
giai thoại Đặng Phú Lân và Ngô Thị Vinh Hoa trốn vua Gia Long lên Hà Bắc,
giờ vẫn còn con cháu sống trên vùng ấy.
- Trong các truyện ngắn của ông thường có sự nhào nặn lịch sử.Tuy
nhiên Nguyễn Huy Thiệp không hề sử dụng các cứ liệu của chính sử để viết
mà ông chỉ dùng những tư liệu mang tính hư cấu, những giai thoại dân gian,
những lời đồn đoán mang tính huyền thoại để viết
.
Trong quá trình sáng tác,
nhà văn luôn chú trọng đến yếu tố tiền giả định. Tuy nhiên, ta nhận thấy, nhà
văn đã sử dụng những tiền giả định này như một phương tiện nghệ thuật

20
nhằm tạo hiệu ứng cho tác phẩm. Cụ thể, nhà văn đã nhào nặn, đã làm khác đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status