Hiện thực đời sống và thân phận con người trong tiểu thuyết bến không chồng của dương hướng - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ TUYẾN

HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ
THÂN PHẬN CON NGƢỜI TRONG
TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG
CỦA DƢƠNG HƢỚNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam HÀ NỘI - 2014

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ văn đặc biệt là các thầy, cô trong tổ Văn học Việt Nam -
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong 4 năm
học nói chung và trong quá trình nghiên cứu khóa luận nói riêng.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm,
động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ và kiến thức còn hạn chế
của người viết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy, cô và các bạn sinh viên để
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Tuyến
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của tôi cùng với
sự giúp đỡ của các thầy, cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị
Tuyết Minh.
Trong quá trình làm khóa luận, tôi có tham khảo những tài liệu có liên
quan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo. Khóa luận Hiện thực
đời sống và thân phận con người trong tiểu thuyết Bến không chồng của
Dương Hướng không có sự trùng lặp với các khóa luận khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, tháng 5, năm 2014


2.2.2. Thân phận người phụ nữ 35
Chƣơng 3. MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN
HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ THÂN PHẬN CON NGƢỜI TRONG
TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG CỦA DƢƠNG HƢỚNG 49
3.1. Sử dụng những biểu tượng có giá trị nghệ thuật cao 49
3.1.1 Biểu tượng “bến” 49
3.1.2. Biểu tượng “ngôi từ đường họ Nguyễn” 52
3.1.3. Biểu tượng “vạt cỏ bằng” 52
3.2. Giọng điệu cảm thương, xót xa 53
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng đề tài về chiến tranh vẫn được
các nhà văn thời hậu chiến dành cho nhiều ưu ái. Các nhà văn đã dồn bút lực
của mình để dựng lại cho hậu thế bối cảnh của hiện thực đời sống, xã hội Việt
Nam trong những năm tháng trong và sau chiến tranh cũng như những nỗi
thống khổ của con người thời chiến. Số lượng tác phẩm viết về chiến tranh
ngày càng tăng từ sau năm 1986. Cuộc đời và con người được soi chiếu dưới
những góc nhìn đa dạng, với những cảm hứng mới mẻ.
Dương Hướng là một trong những nhà văn thời hậu chiến có tác phẩm
viết về chiến tranh. Ông thuộc thế hệ nhà văn cùng thời với Ma Văn Kháng,
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn… Nhưng phải đến
khi ngoài 40 tuổi, danh tiếng của ông mới được bạn đọc biết đến qua tập
truyện ngắn đầu tay “Gót son” (1989). Dường như, ông đến với văn chương
khá chậm nhưng “chậm mà chắc”. Ông sáng tác không nhiều. Tuy nhiên,
bằng tài năng văn chương của mình, Dương Hướng đã có vị trí vững vàng

biệt, chứa ẩn trong Bến không chồng. Theo thời gian, người đọc thấy rằng, sức
hấp dẫn của Bến không chồng chính là sự chân thực và cách nhìn cảm thông,
nhân đạo với số phận con người nhất là người phụ nữ của Dương Hướng.
Năm 2009, trên Tạp chí sông Hương số 248, giáo sư Phong Lê cho rằng:
“Bến không chồng, ở thời điểm mở đầu 90, quả đã góp được một cái nhìn mới
về bức tranh đất nước thời chiến và hậu chiến… với gánh nặng không phải chỉ
là chiến tranh, về phía khách quan, mà còn là những lầm lạc của con người
trong bối cảnh có quá nhiều biến động và thử thách, mà tất cả những ai do lịch
3
sử để lại không đủ tầm và sức để vượt qua… Bến không chồng lại có được một
vẻ đẹp khác trong khuôn hình cổ điển, mộc mạc và chân phương trong cốt
truyện, trong cách dẫn dắt và ngôn từ - một ngôn từ không lấp lánh tài hoa, mà
giản dị, tự nhiên…” [10, 75 – 80]. Phong Lê cũng lí giải căn nguyên đổ vỡ, khổ
đau của những thân phận người trong tác phẩm là “do lịch sử để lại”, một lịch
sử quá nghiệt ngã với con người làng Đông, bởi tất cả những mất mát, hi sinh,
dữ dằn và khốc liệt của chiến tranh đã chà xát tâm hồn họ, đẩy họ tới tận cùng
của bi kịch, đau thương. Điều đáng chú ý, tác giả đã nhìn nhận, tìm hiểu và
đánh giá về Bến không chồng đặt trong hành trình văn nghiệp của Dương
Hướng, để thấy sự tiếp nối, kế thừa những đặc điểm của tác phẩm này ở những
tác phẩm sau đó của nhà văn.
Cùng thời điểm này, năm 2009, trên website của nhà văn Dương
Hướng duownghuongqn.vnwebblogs.com, tác giả Nguyễn Duy Liễm trong bài
viết: “Dương Hướng người ghi mốc son cho văn học thời kì đổi mới” có bàn
luận: “Viết về Bến không chồng Dương Hướng đã nghiễm nhiên rẽ ngoặt. Tác
phẩm của anh là một nhát gạch chéo vào cái lối mòn rỗng tuếch mà nhàm
nhẵn ấy (…). Đọc Bến không chồng, vẫn làm ta lặng đi suy ngẫm về sự “xé
rào” táo tợn của anh [11]. Tạ Duy Liễm đã coi Bến không chồng là một
trong dấu mốc đánh dấu sự thay đổi của nền văn học, từ nền văn học chỉ biết
“thuyết trình và minh họa” sang một nền văn học với những đào sâu và tìm
tòi, những trải nghiệm và đúc rút sâu xa về số phận của cá nhân mỗi con

tiểu thuyết Bến không chồng mà chỉ tập trung vào những bình diện cơ bản
sau:
- Tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng trong đời sống văn
xuôi Việt Nam đương đại. Nghĩa là xem xét mối quan hệ, những điều kiện chi
5
phối, ảnh hưởng, vị trí, ý nghĩa của tiểu thuyết này trong đời sống văn xuôi
Việt Nam đương đại.
- Bức tranh về hiện thực đời sống và thân phận con người trong tiểu
thuyết Bến không chồng.
Chúng tôi xem xét, phân tích và chỉ ra bức tranh xã hội mà Dương
Hướng miêu tả trong tác phẩm và xem xét những yếu tố đó chi phối như thế
nào đến thân phận con người đặc biệt là những người lính trở về sau chiến
tranh và những người phụ nữ nơi hậu phương.
- Một số phương diện nghệ thuật biểu hiện hiện thực đời sống và thân
phận con người trong tiểu thuyết Bến không chồng.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Khẳng định Dương Hướng với tư cách là một tác giả tiêu biểu của
văn học đổi mới nhất là từ những năm đầu 90 và những đóng góp của nhà văn
cho tiểu thuyết Việt Nam thời kì này.
- Nhận thức về hiện trạng xã hội nông thôn Việt Nam trước đổi mới
mà làng Đông trong tác phẩm là một điển hình. Qua đó đồng cảm, xót thương
cho những số phận đầy bi kịch, mất mát đau thương của con người sau chiến
tranh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận chúng tôi đã sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận

sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình
hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được triển khai trong
không gian, thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của
nhân cách (…). Tiểu thuyết trình bày được đời sống cá nhân và đời sống xã
hội như những tố chất có tính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được
nhau, không ngốn nuốt được nhau, đây là đặc điểm quyết định nội dung của
thể loại tiểu thuyết” [1, 327].
Có thể thấy, cả hai quan niệm trên đều nhấn mạnh tới khả năng phản
ánh những biến cố của đời sống riêng tư, đời sống nội tâm của con người
cũng như khái quát lịch sử của nhiều cuộc sống, những bức tranh phong tục
đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp của thể loại
tiểu thuyết. Phan Cự Đệ khái quát: “Tiểu thuyết không phải chỉ miêu tả cuộc
sống riêng tư, không phải chỉ là anh hùng ca của cuộc sống cá nhân, tiểu
thuyết còn là bức tranh bích họa khổng lồ bao quát cả một thời đại”.
Xét về bản chất thể loại của tiểu thuyết, Bakhtin nhấn mạnh “tiểu
thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định
8
hình”. Nghĩa là: Tiểu thuyết không thể có những quy phạm cố định như các
thể loại đã hoàn tất. Với ý nghĩa là một nghệ thuật khám phá thực tại, trong
quá trình vận động, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng biến đổi để phù
hợp với sự phát triển đa dạng, nhiều chiều của cuộc sống và thị hiếu tiếp nhận
của người đọc ở mọi thời đại. Luôn luôn mới đó là yếu tố làm nên điều kì
diệu của tiểu thuyết. Thêm vào đó, tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều
nhất và đồng hóa các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác vào
mình. Điều này tạo ra viễn cảnh: “mở rộng bến bờ của tiểu thuyết”, thúc đẩy
nhanh quá trình tìm tòi, thử nghiệm để không ngừng cách tân tiểu thuyết, đem
lại cho tiểu thuyết những diện mạo mới, hiện đại hơn.
Từ những quan niệm về tiểu thuyết nêu trên, có thể thấy: Tiểu thuyết là
một thể loại văn học có khả năng miêu tả sâu sắc cuộc sống của con người, có
sức khám phá những nguồn mạch biện chứng của tâm hồn, động chạm tới

trong cách nhìn, lối viết và đã cho ra đời những “đứa con tinh thần” thành
công, có giá trị trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Điều
đáng nói là thành phần sáng tác văn học lúc này có sự thay đổi mạnh mẽ, bên
cạnh các nhà văn lão thành, các nhà văn trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến
đã xuất hiện thế hệ những nhà văn hậu chiến, nhà văn thời kì đổi mới và thậm
chí bao gồm cả những cây bút hải ngoại. Tất cả, đã tạo nên những động lực
mới giúp tiểu thuyết Việt Nam vững bước đi lên sánh ngang tầm thế giới.
Đời sống văn học ngày càng dân chủ, cho phép các nghệ sĩ thỏa sức
bộc lộ sự sáng tạo, đổi mới tư duy mà đặc biệt là về mặt tư duy thể loại. Nếu
như tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn trước 1975 thường “cựa quậy” trong cái
khung của thể loại truyền thống là kể lại một câu chuyện sao cho giống với
thực chất, các nhà văn thường khám phá nội dung hiện thực thông qua số
10
phận nhân vật, qua mối quan hệ giữa nhân vật với hoàn cảnh thì nay tiểu
thuyết sau 1975 đã xuất hiện những sinh thể đầy sức sống, dám chối từ lối
mòn xưa để vươn tới sự thể hiện mới mẻ. Sau năm 1986, không khí đổi mới
tiểu thuyết thực sự tràn vào đời sống xã hội và đời sống văn học, tiểu thuyết
có điều kiện cân bằng lại trạng thái tâm lý con người. Dòng tiểu thuyết hướng
nội tập trung khám phá những bí ẩn, những gì tinh tế nhất trong con người đã
xuất hiện. Nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận “văn học chăm chú quan tâm hơn
đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa
dạng, đa chiều, đa tầng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa
dạng với toàn xã hội và với chính mình” không loại bỏ xu hướng “hướng
ngoại” và quan tâm hơn đến xu hướng “hướng nội”, tiểu thuyết giai đoạn này
đã đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, đối thoại với đời sống, đối thoại
với cuộc đời để nắm bắt được “cái hôm nay bề bộn, ngổn ngang bóng tối và
ánh sáng” (Nguyễn Khải), đồng thời lặn sâu vào tâm hồn con người để lắng
nghe tất cả những âm vang của tiếng lòng bí ẩn trong con người: có tiếng yêu
thương, có lời giận hờn, có cả những quanh co, những tính toán ngấm
ngầm…

Dương Hướng trở thành một cây bút văn chương tiêu biểu thời hậu chiến.
Dương Hướng bắt đầu bước vào sự nghiệp văn chương khá muộn khi
ông đã ngoài 40 tuổi. Tác phẩm đầu tay của Dương Hướng là tập truyện ngắn
Gót son (1989). Tác phẩm ra đời nhưng chưa gây được sự chú ý của người
đọc. Tuy nhiên, điều này không làm ông “nhụt chí”, không ngăn cản được
niềm đam mê sáng tác văn học ở Dương Hướng. Bằng chứng là liền ngay sau
đó, năm 1990 Dương Hướng cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Bến không chồng.
12
Tác phẩm đã dấy lên ở bạn đọc yêu văn những rung cảm, phá toang ở họ sự
thật về chiến tranh nghiệt ngã. Dư luận xôn xao và cái tên Dương Hướng
nhanh chóng gây được thiện cảm và vị trí trong lòng độc giả Việt Nam. Tiểu
thuyết Bến không chồng đã đánh dấu bước thành công đầu tiên của nhà văn.
Đồng thời, nó cũng ghi danh nhà văn trên đỉnh cao của văn học Việt Nam thời
kì đầu đổi mới. Không bằng lòng với những gì mình có, Dương Hướng tiếp
tục thể hiện tài năng văn chương của mình với việc cho ra đời cuốn tiểu
thuyết Trần gian đời người vào năm sau đó. Tuy nhiên, do cái bóng của Bến
không chồng quá lớn nên tác phẩm này không được nhiều bạn đọc chú ý.
Công việc ở cơ quan trở nên bận rộn hơn, nên mãi đến năm 1995 nhà văn
người Thái Bình ấy mới có điều kiện xuất bản tập truyện ngắn Người đàn bà
trên bãi tắm. Ba năm sau cuốn tiểu thuyết Bóng đêm mặt trời được khai sinh
nhưng cũng giống như những tác phẩm trước, nó cũng bị chìm đi dưới cái
bóng của Bến không chồng… Thời gian sau đó Dương Hướng dường như “im
hơi lặng tiếng” trên văn đàn. Bạn đọc ngỡ như sẽ không còn thấy bóng dáng
những tác phẩm – đứa con tinh thần của ông xuất hiện nữa. Nhưng không, sau
chín năm lặng lẽ “ấp ủ”, “thai nghén” ông cho ra mắt tiểu thuyết Dưới chín
tầng trời. Cuốn tiểu thuyết này làm bạn đọc ngỡ ngàng bởi sự bứt phá tài
năng văn chương ở Dương Hướng. Không giống như hai cuốn tiểu thuyết
trước, Dưới chín tầng trời đã rẽ sang một lối khác và được đông đảo bạn đọc
đón nhận. Cuốn tiểu thuyết Dưới chín tầng trời xuất bản năm 2007, đã chứng
tỏ độ chín của một cây bút tài năng.

bạn đọc một cái nhìn mới về chiến tranh đất nước trong thời chiến và hậu
chiến. Cuộc chiến tranh trong Bến không chồng kéo dài hơn 40 năm với
những gánh nặng không phải chỉ là chiến tranh mà còn là những lầm lạc,
những tăm tối của con người trong đêm trước Đổi mới. Với phương châm
14
sáng tác: “Tôi luôn cố đặt vấn đề một cách thẳng thắn, trực diện, không né
tránh hiện thực cho dù hiện thực nghiệt ngã nhất, quan trọng là tấm lòng
người cầm bút gửi vào đâu?” đã giúp tiểu thuyết Bến không chồng của
Dương Hướng trụ vững trong trái tim của độc giả.
Tiểu thuyết Bến không chồng mở đầu bằng hình ảnh Nguyễn Vạn
khoác ba lô về làng sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Điện
Biên. Làng Đông – quê hương của Nguyễn Vạn là một vùng đất có những câu
chuyện kì lạ, bí ẩn và hoang đường như chuyện: “mắt tiên”, “gò ông Đổng”,
“con ma mặt đỏ chuyên đi hiếp đàn bà góa chồng…”. Ở làng lại có một bến
sông với “vẻ quyến rũ kì lạ” mà các cụ gọi đó là Bến không chồng. Bây giờ,
người ta lại gọi đó là bến Tình. Cũng chính vì sự “quyến rũ kì lạ” của bến
Tình mà biết bao chuyện đau lòng đã xảy ra. Bi thảm nhất là câu chuyện của
hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ. Chuyện là cô con gái rượu của cụ tổ dòng họ
Nguyễn bị chàng trai dòng họ Vũ hãm hiếp trên bến Tình. Cụ tổ đã khắc một
lời thề độc đối với họ Vũ. Éo le thay những thế hệ sau như: Nguyễn Vạn,
Nghĩa, Hiệp của dòng họ Nguyễn lại đem lòng yêu thương những người phụ
nữ bên dòng họ Vũ. Đau đớn và bi kịch nhất vẫn là tình yêu giữa Nghĩa và
Hạnh. Họ không giống như chú Vạn và chị Nhân yêu thương nhau nhưng
không đủ can đảm để vượt qua định kiến, dư luận xã hội. Vì vậy cho đến cuối
đời họ vẫn đi bên cạnh nhau như hai cái bóng. Còn Hiệp (trai họ Vũ) đem
lòng yêu thương Dâu nhưng cũng đành lỡ dở vì chiến tranh. Vượt lên trên tất
cả: lời nguyền của cụ tổ, ngăn cản của gia đình, dư luận, Nghĩa và Hạnh đã tổ
chức đám cưới với nhau. Vợ chồng chưa sống với nhau được bao lâu, Nghĩa
lên đường đi bộ đội. Ở nhà, ông Khiên vì thương nhớ con, lo sợ dư luận mà
chết đột tử. Nghĩa nhận được tin bố chết liền trở về. Sáng hôm sau, Hạnh lại

BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ THÂN PHẬN
CON NGƢỜI TRONG TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG
CỦA DƢƠNG HƢỚNG

2.1. Hiện thực đời sống
2.1.1. Đời sống nông thôn thời hậu chiến
Trong tác phẩm Bến không chồng, nhà văn Dương Hướng đã đặt câu
chuyện của mình trong bối cảnh làng Đông – một làng quê được đặc tả với
những đường nét văn hóa điển hình của Bắc Bộ. Không gian bao trùm trong
tác phẩm là không gian của làng Đông với ngôi đình làng Đông, cây quéo,
cầu đá bạc, sông Đình. Cảnh quê hồn hậu ấy đã chắp cánh thành những câu
hát ru con trẻ: “À ơi… chẳng to cũng gọi đình Đông - có cầu Đá Bạc bắc qua
sông Đình - chàng ơi có nhớ đến mình - nhớ cầu Đá Bạc, nhớ đình làng
Đông” [8, 10]. Hay câu ca: “Sông làng Đông vừa trong vừa mát – Đồng làng
Đông ngan ngát hương thơm” [8, 10]. Người đọc ngỡ như Dương Hướng đặt
nhân vật của mình trong bối cảnh thôn dã, nên thơ ấy thì cuộc sống con người
cũng phẳng lặng, êm ả như thế. Nhưng không, làng quê ấy lại đang bị bao
phủ, kìm thúc trong những năm tháng miền Bắc hối hả vừa lo xây dựng xã hội
chủ nghĩa vừa lo chi viện cho miền Nam. Ngòi bút sâu sắc của nhà văn đã bóc
tách thành công hiện thực miền Bắc sau kháng chiến chống Pháp đầy khốc
liệt nhưng vẻ vang của dân tộc. Sau chiến tranh, đất nước như mang một hình
bóng mới, khoác lên một tấm áo mới. Người nông dân được làm chủ cuộc đời
mình. Cách mạng đã đổi đời cho họ, cho họ quyền công dân. Chính quyền
mới thông qua công cuộc cải cách ruộng đất đã cho phép người nông dân
được đấu tố lại địa chủ để đòi lại ruộng đất và quyền bình đẳng. Cuộc đấu tố
17
gay gắt ấy đã trừng trị triệt để địa chủ - giai cấp thống trị người nông dân thấp
cổ bé họng từ ngàn đời xưa. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tố tràn lan ấy chúng ta
mắc phải không ít những sai lầm đáng tiếc như: quy kết nhầm những người
giàu có là địa chủ. Làng Đông cũng hòa trong không khí ấy, người dân lao

Cuộc đấu tố địa chủ và xử bắn những người bị nghi là Việt gian (chú
Xèng, Xình) đã làm cho vùng quê vốn yên bình bỗng sôi động hẳn lên. Có
những mảnh đời đói khát, tả tơi đã được cách mạng cải cách ruộng đất đổi đời
nhưng cũng có những người lại trở thành nạn nhân luôn quằn quại, rên xiết,
đau đớn bởi căn bệnh ấu trĩ, cực đoan, duy ý chí của một bộ phận người. Đó
là mụ Hơn đã phải chịu bao đau khổ, cay đắng, tủi hờn. Trong lời đối thoại
với Vạn, mụ thống thiết: “Con lạy ông ! Con cắn rơm cắn cỏ lạy ông bà nông
dân. Ông đi lâu ngày nên không biết rõ con. Con về làm dâu nhà này nhưng
con không ác với ai, không bóc lột ai. Con còn lén giúp đỡ nhiều người nghèo
khổ ở thôn này” [8, 55]. Đó là thằng cu Tốn con trai mụ Hơn bị hai thằng
choai choai choai con nhà Đan, nhà Hồng lấy quả xoan làm đạn, giương súng
cao su thi nhau bắn thẳng vào đầu thằng Tốn. Sợ hãi cuống cuồng, thằng cu
Tốn khóc thét lên. Mụ Hơn không có tội, thằng cu Tốn chỉ là một đứa trẻ
trong trắng thơ ngây làm gì có tội? Nhưng họ phải âm thầm, chui lủi sống
trong góc bếp nhà địa chủ Hào mà không dám biện minh nửa lời vì sợ: “ông
bà nông dân lại bảo con chống đối lại giai cấp nghèo khổ” [8, 55].
Chú Vạn - người hăng hái nhất trong cuộc đấu tranh chống lại địa chủ,
cường hào ác bá và Việt gian bán nước cũng không tránh khỏi cảm giác bất
nhẫn “Vạn lau súng. Trong đời Vạn đã không biết bao lần lau súng. Nước
thép khẩu súng Vạn giữ vẫn đen bóng, Vạn có cảm giác là lạ, cái khó là mũi
súng của Vạn lần này lại nhằm vào đầu hai thằng con trai ông Xung. Mới
19
hôm nào Vạn còn ngồi cùng mâm ở từ đường họ, cùng véo một đĩa xôi gấc đỏ
au” [8, 53]. Còn địa chủ Hào lại là đích bắn của thằng Thước – con nuôi lão.
Tại sao con người ta lại có thể mông muội đến thế? Họ hăm hở đấu tố, kết tội
địa chủ và sẵn sàng giết cả người thân của mình để thể hiện sự trung thành và
trong sạch. Chính những lầm lẫn, ấu trĩ ấy đã che mắt họ, họ không nhận ra kẻ
thù nguy hiểm, gián tiếp đẩy họ vào đau thương, mất mát, chà đạp, bóc lột họ
không phải là địa chủ, Việt gian mà chính là thực dân Pháp. Dương Hướng
không ngần ngại nhìn thẳng vào sự thật, phơi bày hiện thực đời sống của nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status