Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người
Nguyễn Du đã xuất phát từ quan niệm “đời là bể khổ” để đi đến những nhận định về nhân
sinh trên nền tảng tâm thế Việt – lấy tình cảm, tình yêu thương làm chỗ dựa. Đối với ông,
một mặt, sự đối lập giữa tài năng và số phận (luật" “tài mệnh tương đố”) là sự bất công cơ
bản và lớn nhất; mặt khác, con người vẫn có thể cải hoá được số phận nếu nỗ lực tu tâm,
hành thiện. Quan niệm về số phận con người là sự cụ thể hoá nhân sinh quan ấy. Nguyễn
Du cho rằng, thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh, là tất nhiên và mang tính
tiền định. Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý đến người tài và phụ
nữ. Quan niệm về cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du đã góp một sắc thái đặc
biệt trong nền triết lý nhân sinh Việt Nam.
Hai trăm năm nay, Nguyễn Du được mọi thế hệ người Việt Nam biết tới trước hết như một
đại thi hào dân tộc với tác phẩm thơ bất hủ Đoạn trường tân thanh, còn gọi là Truyện Kiều.
Các giá trị văn học, nghệ thuật, tư tưởng trong tác phẩm của ông đã được nhiều thế hệ các
nhà nghiên cứu quan tâm, phát hiện khiến cho chúng ta ngày càng hiểu biết hơn về chiều
sâu, bề rộng và tầm xa của tư tưởng Nguyễn Du. Nhưng dường như các nghiên cứu đó vẫn
chưa thoả mãn nhu cầu người đọc và chưa khai thác hết chiều kích các giá trị được truyền
tải trong tác phẩm của Nguyễn Du bởi tính cập nhật của các vấn đề xã hội, tư tưởng, nghệ
thuật mà ông đặt ra qua các tác phẩm của mình. Bài viết tìm hiểu quan niệm của Nguyễn
Du về cuộc đời và thân phận con người trên phương diện triết học với mong muốn cung cấp
cho bạn đọc một quan niệm nhân sinh đặc sắc của đại thi hào.
1. Quan niệm về cuộc đời
Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời chịu nhiều ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo
và Lão giáo. Trải qua nhiều biến cố dồn dập của cuộc sống, cuộc đời trôi dạt nhiều nơi, tận
mắt chứng kiến những sự kiện vật đổi sao dời, những cảnh đời thương tâm, ngang trái…,
Nguyễn Du thấm thía triết lý của đạo Phật coi cuộc đời là vô thường. Ông nhìn cuộc đời
bằng con mắt của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, yêu thương, xót xa cho thân phận con
người:
“Cuộc đời trăm năm biết bao nhiêu chuyện thương tâm”(1).
Câu thơ nặng trĩu nỗi niềm xúc cảm của nhà thơ. Xúc cảm ấy trong mạch văn ấy biểu lộ nỗi
đau đời khôn nguôi, nỗi thương đời vô hạn do chính cảm nhận chân thực của nhà thơ về
cuộc đời, nên có sức mạnh truyền cảm, lan toả đến muôn đời sau. Chính vì thế, mệnh đề
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”(2).
Con người dường như quá nhỏ bé, bất lực trước sức mạnh vô hình nhưng hết sức hiện thực
của "ông trời". Cái nhìn bi quan về cuộc đời như vậy đã đẩy Nguyễn Du đi tới những quan
niệm mang nhiều ảnh hưởng của Lão-Trang. Ông quan niệm: “Mắt xem việc đời như đám
phù vân”(3), “Cuộc trần thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mở mắt”(4). Chính nhận thức về
sự bất công xuyên suốt cuộc đời con người đã khiến Nguyễn Du, có những lúc, kiếm tìm
những giải pháp tiêu cực, yếm thế:
“Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn!”(5).
Những tư tưởng trốn tránh cuộc sống, trốn tránh danh lợi, bạc tiền nêu trên cũng đã từng
chế ngự tâm hồn ông, đặc biệt là khi cuộc đời ông trở nên quẫn bách, bế tắc, không lối
thoát trong giai đoạn cuộc nội chiến giữa các thế lực phong kiến ở Việt Nam cuối thế kỷ
XVIII:
“Phú quý trước mắt chẳng khác gì phù vân. Người đời nay chỉ biết cười người đời xưa. Người
xưa chết, mồ mả ngổn ngang đó, người nay sao vẫn bôn tẩu rộn ràng?
Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ còn trơ lại nắm đất. Không ai vượt qua cửa ải sống
chết. Khuyên anh uống rượu rồi vui chơi…”(6).
Tuy nhiên, đó không phải là tư tưởng quán triệt của Nguyễn Du. Xem xét toàn bộ di sản
nghệ thuật mà ông để lại, ta lại thấy một Nguyễn Du tràn đầy niềm yêu thương cuộc sống,
yêu thương con người. Đặc biệt, trong Truyện Kiều, thông qua xử lý diễn biến số phận nàng
Kiều, chúng ta thấy rõ một Nguyễn Du đau đời, thương đời nhưng cũng tràn đầy lạc quan
vào chân - thiện - mỹ sẽ chiến thắng trong cuộc đời, khi đưa ra thông điệp về nỗ lực tu tâm,
hành thiện con người sẽ cải hoá được số phận, từ đó thay đổi được thiên mệnh. Cổ vũ mục
đích cuối cùng của con người là hướng tới một cuộc sống hài hòa chân - thiện - mỹ, Nguyễn
Du đã nói lên được mơ ước, niềm mong mỏi hướng tới tương lai tốt đẹp của quảng đại nhân
dân. Những con người chịu nhiều đau khổ, tầng lớp bình dân sẽ không thể tồn tại nếu họ
thiếu niềm hy vọng, trước hết và tột cùng, rằng chân lý, sự công bằng, tốt đẹp sẽ ngự trị
sau khi con người đã nỗ lực phấn đấu cho sự thay đổi, hoán cải bằng toàn bộ trái tim, sức
lực cuộc đời của mình, như cô Kiều sau 15 năm lưu lạc lại được đoàn tụ, vui vầy cùng gia
đình. Hy vọng đó, chân lý đó, theo cách biểu đạt của Nguyễn Du, là khúc khải hoàn của chữ
Mã Giám Sinh… đều được nhìn dưới góc độ triết lý Phật giáo, là những thân phận phải hứng
chịu mọi kiếp nạn đã bị quy định từ các hành vi của kiếp trước:
“Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.
Mỗi người mỗi nghiệp khác nhau,
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ”(8).
Mỗi con người bước vào cuộc đời với một nghiệp riêng do kiếp trước quy định, là sung
sướng, là anh hùng, là khổ đau, là bất hạnh…, cho đến khi rời cõi thế cũng mỗi người một
vẻ chết khác nhau không ai giống ai, nhưng tất cả đều có một điểm chung, đó là đều chung
thân phận bơ vơ, lạc loài. Nếu như lý luận về tha nhân của chủ nghĩa hiện sinh khẳng định
sự lạc loài, phi lý của kiếp người trên chính cuộc đời trần thế thì, với Nguyễn Du, do chịu
ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Phật giáo, sự lạc loài phi lý đó là thuộc về thế giới phi trần
gian, ở những linh hồn đã rời cõi thế, không nơi nương tựa, lang thang phiêu bạt đi tìm điểm
dừng của duyên nghiệp, đi tìm tới cái ngã đích thực tồn tại trong vĩnh cửu. Với Nguyễn Du,
những thân phận con người trong cõi thế vẫn là sự tồn tại theo duyên cảnh, không mang
tính phi lý, mà là một tất nhiên và mang tính tiền định:
“Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”(9).
Những thân phận này, dù có cố gắng đến nhường nào, nhưng nếu chưa giác ngộ được lẽ vô
thường, chưa ngộ được chân tâm thì vẫn không thoát khỏi số phận trớ trêu mà trời đã định.
Trong cuộc đời mà mỗi thân phận người tồn tại theo tự tính trời ban của mình, theo số phận
đã định của mình, thì tính chủ thể của con người trở nên thật là bé nhỏ và vô vọng:
“Kẻo khi sấm sét bất kỳ
Con ong cái kiến kêu gì được oan”(10).
Trong quan niệm về con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý tới hai loại người - người tài và
người phụ nữ. Chính ở đó, quan niệm của ông về con người chứa đựng những nét đặc sắc
nhất. Đồng thời, sắc thái tư duy Việt trong tư tưởng Nguyễn Du về con người cũng bộc lộ rõ
nhất khi ông thể hiện các quan niệm này. Trước Nguyễn Du, trong văn học Việt Nam nói
chung, trong quan niệm về con người nói riêng luôn đặt trọng tâm sự chú ý của xã hội vào
người quân tử, vào người làm quan, người có học vấn, bậc Nho sĩ. Theo quan niệm của họ,
Những người tài hoa khi sống phải chịu số phận long đong như một sự chuộc tội cho nhân
quần, bởi họ cũng chính là những con người có tình nhất, yêu thương đồng loại nhất và là
những người cảm biết được trách nhiệm của mình trước đồng loại, nên dù thấy chết vẫn tự
nguyện chấp nhận như một tất yếu, giống như nàng Kiều coi việc bán mình chuộc cha là
nghĩa vụ đương nhiên của người con thực hiện đạo hiếu. Những người tài hoa ấy, dù thể xác
đã trở về với cát bụi, nhưng những giá trị tinh thần, những ảnh hưởng tinh tuý của họ vẫn
tồn tại như những hiện hữu tất yếu. Đó mới là sự tồn tại đáng kể. Và biết bao nhiêu thân
phận đi qua trái đất này đã để lại những đóng góp của họ vào cuộc sống tinh thần chung
của xã hội, được người đời coi trọng, gìn giữ và làm nên các giá trị chung nhất, gọi là văn
hoá.
Nguyễn Du đã dùng minh triết (sự giác ngộ) và thiện tâm, hai phương tiện duy tâm làm chìa
khoá giải mã những bất công của cuộc đời. Tuân thủ những nguyên lý minh triết của Phật
giáo và những sắc thái duy tình của người Việt, Nguyễn Du đã đưa ra lời giải của ông cho
vấn nạn nhân sinh. Tính chân lý, khả năng ứng dụng, phạm vi giải đáp của con đường ấy tới
đâu còn tuỳ thuộc vào sự tiếp cận của mỗi thế hệ hậu sinh với triết lý cuộc đời và thân phận