Kiến thức lớp 10
Nguyễn Bỉnh Khiêm –Nhàn-phần 4
Đôi điều cần bàn lại về mối quan hệ giữa
Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nguyễn Dữ -
Phùng Khắc Khoan
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhân cách văn hoá lớn,
một nhà tư tuởng - triết học lớn, một đại thụ bao trùm bóng mát
cả vườn cây văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Ông là người có khả
năng “huyền cơ tham tạo hoá” (nắm được cái lẽ huyền vi của tạo
hoá) như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có ngợi ca; là “một bậc kỳ
tài, hiền danh muôn thuở” như Phan Huy Chú đã xưng tụng. Văn
chương của ông “không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà
rất lưu loát, thanh đạm mà có nhiều vị” (…) “như gió mát trăng
thanh, nghìn năm sau còn tưởng thấy” mà Vũ Khâm Lân đã nhận
định trong bài Phả ký; “thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có
ý thú tự nhiên” như Phan Huy Chú đã bình trong Văn tịch chí ở
sách Lịch triều hiến chương loại chí. Ông sống gần trọn thế kỷ
XVI, đã chứng kiến những cảnh tranh giành xâu xé giữa các tập
đoàn phong kiến bấy giờ, hết Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn. Nếu
trừ khoảng 8 năm ông ra làm quan cho nhà Mạc tại triều đình
trung ương thì thời gian còn lại ông đều sống ở quê nhà (44 năm
trước khi xuất chính và 44 năm sau khi cáo quan về vườn), nhờ
thế mà ông có dịp gần gũi nhân dân, thấu hiểu dân tình khốn khổ
trong cảnh binh đao. Đây cũng là một trong những yếu tố hình
thành tư tưởng thân dân của Tuyết Giang phu tử, với tấm lòng ưu
thời mẫn thế, tiên ưu hậu lạc đến già vẫn không nguôi, đúng như
Vũ Khâm Lân đã viết: “Tuy ở nhà 44 năm mà không ngày nào
Trạng nguyên, mà chỉ đậu Nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng
giáp vào năm 1580, lúc 53 tuổi, tại hành tại Vạn Lại, Thanh Hoá,
chỉ đứng sau Nguyễn Văn Giai). Khi đi sứ nhà Minh ông đã được
vua Minh phong là Trạng nguyên. Ông làm quan trải mấy đời vua
của nhà Lê trung hưng (thời Lê-Trịnh còn ở Thanh Hoá cho đến
khi đuổi được nhà Mạc, về lại Thăng Long); từng giữ nhiều chức
vụ, mà chức vụ cuối đời là Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ
Hộ, tước Mai Lĩnh hầu rồi Mai Quận công. Khi mất được truy tặng
Thái phó.
Ai cũng biết rằng truyền thuyết và giai thoại, xét đến cùng tuy ít
nhiều có cái cốt lõi sự thật lịch sử, nhưng dù sao cũng vẫn là
truyền thuyết, là giai thoại, khó có sức thuyết phục vì thiếu tính
khoa học.
Nhưng nếu không có nó thì các nhân vật lịch sử của ta ít nhiều sẽ
mất đi vẻ uy linh, đẹp đẽ mà người đời qua bao thế hệ từng
ngưỡng vọng và thêu dệt nên. Tài liệu xưa nhất hiện còn đã đề
cập đến mối quan hệ anh em này giữa Trạng Trình và Trạng
Bùng là bản gia phả họ Phùng ở Phùng Xá, Thạch Thất, Sơn
Tây, mang tên Ký lục tiên tổ sự tích, hiện để tại nhà thờ Phùng
Khắc Khoan ở Phùng Xá. Bản phả ký này do tằng tôn (chắt nội -
tức cháu 3 đời, vậy người này gọi cụ Trạng Bùng bằng cố, tức
tằng tổ). Điều đó có nghĩa là có thể người chắc nội trên đã theo
lời truyền của gia tộc và trong dân gian mà ghi lại ?; và một văn
bản nữa có nhan đề là Mai Lĩnh hầu thành mẫu chí truyện
(Truyện ông Mai Lĩnh hầu hoàn thành chí nguyện của mẹ).
Truyện này do người đời sau chép lại (không rõ người chép),
được đóng chung trong sách Danh gia thi truyện tập (Tập thơ và
truyện các nhà nổi tiếng), trong đó còn có chép Ngôn chí thi tập
- Trong lời chú thích cuốn Đại Nam Quốc sử diễn ca của Lê Ngô
Cát và Phạm Đình Toái viết năm 1870, người phiên âm và chú
thích có ghi: Phùng Khắc Khoan người làng Phùng Xá, thuộc tỉnh
Sơn Tây (tức gọi là Bùng), là con cùng mẹ khác bố của Nguyễn
Bỉnh Khiêm (2).
- Nguyễn Ngọc Kim trong Danh nhân đất Việt, có viết: Ông sinh
thời Lê mạt, con cùng mẹ khác bố với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm (3).
- Quang Khánh trong bài Chí hướng và hành vi của Trạng Bùng,
đăng trên tờ Văn hoá nguyệt san, cũng khẳng định như thế (4).
- Lãng Nhân Phùng Tất Đắc trong Giai thoại làng Nho (1963) ở
mục từ Phùng Khắc Khoan, có khẳng định mối quan hệ anh em
này của hai ông (5).
- Lê Bá Sinh trong bài viết Về làng Bùng tìm di tích Trạng, in trong
sách Danh nhân quê hương, đã khẳng định như thế (6).
- Trần Lê Sáng trong Phùng Khắc Khoan cuộc đời - thơ văn (viết
xong 1984), ở chương 2, mục II Gia thế, ông đã dành 20 trang
(51-70) viết về Phùng Khắc Khoan. Sau khi nêu những băn
khoăn, thắc mắc và nói nhiều năm thực tế điền dã cùng trưng ra
nhiều tư liệu dẫn chứng về mối quan hệ (là anh em, không phải là
anh em), nêu chủ kiến của ông để phản biện những ý kiến không
công nhận mối quan hệ anh em giữa hai cụ Trạng, cuối cùng nhà
nghiên cứu tuy không tuyên bố rõ nhưng người đọc vẫn nhận ra
là tác giả cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là anh trai cùng mẹ khác
cha với Phùng Khắc Khoan: “Dĩ nhiên, những chuyện ấy được kể
lý giải vấn đề này mà theo tôi là chưa thuyết phục, khi viết: Trong
thơ văn, Phùng Khắc Khoan không nói gì về người mẹ đẻ của
mình. (…) Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn Phùng Khắc Khoan đến 38
tuổi, bà mẹ họ Nhữ khó có thể sinh một đứa con sau cách đứa
con trước nhiều năm như thế. (…) Câu chuyện về bà mẹ họ Nhữ
và việc gặp gỡ ngẫu nhiên, thú vị giữa Phùng Khắc Khoan và
Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc chỉ là huyền thoại, khó tin và có thực
(8).
Ý kiến trên của nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân và Ngọc Liễn vừa
dẫn, ông Trần Lê Sáng trong công trình viết về cuộc đời và thơ
văn Phùng Khắc Khoan có phản biện, nhưng theo chúng tôi,
những ý kiến phản biện lại của ông Trần cũng vòng vo, không
thuyết phục. Đó là chưa nói lập luận có chỗ nhầm lẫn (không chỉ
ở chỗ này mà trong công trình trên còn có những sai sót khác, để
tránh dông dài, tôi không nêu ra ở đây, hẹn sẽ nói kỹ trong bài
viết khác, khi có dịp). Xin trở lại ý vừa trích dẫn trên. Thiết nghĩ,
nếu một phụ nữ nào đó lấy chồng từ lúc 13, 14 hay 15 tuổi (người
xưa có quan niệm “Nữ thập tam, nam thập lục” mà!) và năm sau
sinh con ngay thì 38 năm tiếp vẫn có thể sinh con vì mới có dưới
53 tuổi, cái tuổi vẫn còn có thể sinh đẻ được. Cho nên viết như
các tác giả vừa nêu là chưa hết lý lẽ.
Người thứ hai là Nguyễn Quân trong cuốn Trạng trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm đã căn cứ vào câu “Bà (tức Nhữ Thị Thục, mẹ của
Nguyễn Bỉnh Khiêm) vẫn không nguôi giận, bỏ về ở bên cha mẹ
đẻ, cách ít lâu sau thì mất” trong bài Phả ký của Vũ Khâm Lân
“Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” (Phả ký về
Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt) mà khẳng định mẹ cụ Trạng
trình không phải là mẹ cụ Trạng Bùng (9).
lúc ấy, các cụ đã quy Tiên rồi. Trong bài ký, Vũ Khâm Lân còn
cho biết: Ông nội được tập phong là Thiếu bảo Tư Quận công; bà
nội là Chinh phu nhân Phạm thị Trinh Huệ; thân sinh được tặng
phong Thái bảo Nghiêm Quận công; thân mẫu họ Nhữ được
phong là Từ Thục phu nhân (12).
Hai là, cũng trong bài ký trên, cụ Ôn Đình hầu còn cho biết vì bà
“vốn người thông minh, học rộng văn hay, lại tinh giỏi cả môn
tướng số”; “có chí hướng phò vua giúp nước của bậc trượng phu,
muốn chọn một người vừa ý mới chịu kết duyên, nên đã chờ ngót
20 năm trời, khi gặp ông Văn Định có tướng sinh quý tử, bà mới
chịu lấy” (trong bản Phả ký này, Vũ Khâm Lân còn ghi lại chi tiết
bà gặp Mạc Đăng Dung ở bến đò Hàn thuộc dòng Tuyết Giang,
mà bà đã than tiếc “Lúc trẻ chẳng gặp, ngày nay tới đây làm gì?”
(13), cũng đủ rõ thêm cái chí muốn lớn lao của bà).
GS. Bùi Văn Nguyên trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam,
tập 2 (thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII), xuất bản 1962 và Văn học Việt
Nam thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII, xuất bản 1989 đã căn cứ vào lời
trên mà cho rằng “cuối cùng bà lấy ông Văn Định, khi bà đã quá
lứa, xấp xỉ tuổi 30. Mãi cho đến khi sinh ra Văn Đạt, bà vẫn ôm ấp
hoài bão không tưởng của mình, cuối cùng bỏ chồng, bỏ con, đi
lang thang, rồi trở về quê hương cha mẹ đẻ ở An Tử thượng”.
Nhiều tài liệu cũ, trong đó có nhiều bộ văn học sử đều ghi rằng
“cụ Nguyễn Văn Định nhờ nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ văn nên
quan Thương thư Nhữ Văn Lan gọi đến gã con gái luống tuổi
cho” (14).
Chúng tôi cũng đồng ý với suy luận của GS. Bùi Văn Nguyên về
tuổi tác của bà Thục lúc lấy chồng. Đồng thời xin bổ sung thêm,
không đồng tình với giai thoại, truyền thuyết dân gian đã lưu
truyền và người xưa đã viết lại, khi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm
và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha mà những tài
liệu xưa nhất hiện được biết là phả ký họ Phùng ở Phùng Xá và
truyện Mai Lĩnh hầu thành mẫu chí truyện chép trong sách Danh
gia thi truyện tập.
Thiết nghĩ, cụ Vũ Khâm Lân thật có lý khi trong bài Phả ký về
Nguyễn Văn Đạt (Bỉnh Khiêm), đã viết rằng bà Thục giận chồng,
bỏ về nhà cha mẹ đẻ, cách ít lâu sau thì mất, mà không đá động
gì đến chuyện bà Thục “bước đi bước nữa” với ông nho sinh họ
Phùng ở Thạch Thất để sinh ra cụ Phùng Khắc Khoan, một nhân
vật lỗi lạc đầu thời Lê trung hưng. Và có thể là hồi ấy cụ cũng đã
có nghe lời truyền về mối quan hệ đó trong dân gian, chứ không
phải là cụ né tránh việc này. Bởi bài Phả ký được cụ Vũ Khâm
Lân hoàn thành vào cuối năm Quý Hợi 1743, tức sau khi cụ
Trạng Trình đã quy Tiên đúng 158 năm; và cụ Trạng Bùng đã tạ
thế đúng 130 năm. Trong bài Phả ký, tác giả có nói đến tận nhà,
hỏi người cháu 7 đời của cụ Trạng Trình là Nguyễn Thì Đương
để xem tộc phả, nhưng ông này lại đưa ra những trang giấy rách
nát, chỉ biên danh tính tiền nhân, ngoài ra chẳng có gì khác. Cho
nên họ Vũ đành phải “thâu thái ý kiến mọi người rồi hợp với
những điều mắt thấy tai nghe trong lúc ngày thường để viết nên
bài ký” (15). Như vậy, tuy không viết ra cụ thể nhưng cụ Ôn Đình
hầu ngày ấy cũng không tin là giữa cụ Trạng Trình và cụ Trạng
Bùng có mối quan hệ anh em cùng mẹ khác cha !
Kết luận vấn đề này của chúng tôi là quan hệ giữa cụ Trạng Trình
với cụ Trạng Bùng chỉ là quan hệ Sư - Đệ, chứ không phải là anh
em cùng mẹ khác cha.