HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
1. Khái quát chung về hoạt động phát hành và niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần 4
1.1. Vài nét về công ty cổ phần 4
1.1.1. Công ty cổ phần nôi bộ 4
1.1.2. Công ty cổ phần đại chúng 4
1.1.3. Công ty cổ phần niêm yết 5
1.2. Một số khái niệm cơ bản 5
1.2.1. Phát hành chứng khoán 5
1.2.2. Niêm yết chứng khoán 5
2. Điều kiện và thủ tục để công ty cổ phần đươc phát hành và niêm yết cổ phiếu 5
2.1. Điều kiện để công ty cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu 5
2.1.1. Điều kiện để công ty cổ phần phát hành cổ phiếu 5
2.1.2. Điều kiện để công ty cổ phần niêm yết cổ phiếu 7
2.1.2.1. Điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở GDCK TP HCM 7
2.1.2.2. Điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở GDCK Hà Nội 7
2.2. Thủ tục để công ty cổ phần phát hành và niêm yết cổ phiếu 8
3. Ưu điểm, nhược điểm của hoạt động phát hành và niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần
11
3.1. Ưu điểm, nhược điểm của hoạt động phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần 11
3.1.1. Đối với công ty phát hành 11
3.1.2. Đối với nhà đầu tư 12
3.1.3. Đối với cổ phiếu thường 12
3.1.4. Đối với cổ phiếu ưu đãi 13
3.2. Ưu điểm, nhược điểm của hoạt động niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần 14
4. Vài nét về hoạt động phát hành và niêm yết cổ phiếu ở Việt Nam 16
4.1. Hoạt động phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần trog những năm gần đây 16
4.2. Hoạt động niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần trong những năm gần đây 20
5. Giải pháp chung cho việc phát hành và niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần 22
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 1
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 2
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
1.1 Vài nét về công ty cổ phần:
Luật doanh nghiệp do Quốc hội thông qua tháng 12/1999 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được dăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Doanh
nghiệp có thể thuộc một trong các loại hình sau đây: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và công ty cổ phần. Luật doanh nghiệp định nghĩa công
ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp trong đó:Vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chịu trách nhiêm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệpCổ đông có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ phần ưu đãi do cổ
đông biểu quyết không được chuyển nhượng và trường hợp 20% cổ phần phổ thông phải
nắm giữ trong 3 năm đầu.Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân, số lượng cổ đông tối
thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.Công ty cổ phần có thể là công ty cổ phần nội
bộ, công ty cổ phần đại chúng hoặc là công ty cổ phần niêm yết.
1.1.1 Công ty cổ phần nội bộ (Private Company)
Là công ty cổ phần chỉ phát hành cổ phiếu trong số những người sáng lập ra công ty,
những cán bộ công nhân viên trong công ty và các pháp nhân là những đơn vị trực thuộc
những đơn vị trong cùng tập đoàn sáng lập. Đây là cổ phiếu kí danh không được chuyển
nhượng hoặc chỉ được chuyển nhượng theo một số điều kiện nhất định trong nội bộ công
ty. Việc tăng vốn của công ty rất hạn chế, chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc
tích lũy từ trong nội bộ công ty.
1.1.2 Công ty cổ phần đại chúng (Public Company)
Là công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, ngoài những đói tượng
nội bộ như công ty cổ phần nội bộ.Phần lớn công ty cổ phần mới thành lập đã bắt đầu như
những công ty cổ phần nội bộ. Đến khi công ty đã phát triển, tiếng tăm đã lan rộng, hội đủ
điều kiện họ có thể phát hành cổ phiếu rông rãi ra công chúng, trở thành một công ty cổ
phần đại chúng.Khi một công ty cổ phần lần đầu tiên phát hành cổ phiếu rộng rãi trong
công chúng, người ta gọi công ty đó “trở thành công cộng” (go public). Và đợt phát hành
Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán đã đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở
giao dịch chứng khoán, là quá trình mà Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận cho công ty
phát hành có chứng khoán được yết giá và giao dịch trên Sở giao dịch.
2 Điều kiện và thủ tục để các công ty phát hành và niêm yết cổ phiếu
2.1 Điều kiện để các công ty cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu.
2.1.1 Điều kiện để phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần.
Các công ty cổ phần (ngoại trừ các tổ chức tín dụng, các DNNN và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài khi thực hiện CPH) phải đáp ứng các điều kiện quy định 5
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 4
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
mới được phát hành cổ phiếu ra công chúng và phải làm thủ tục đăng ký với UBCKNN
trước khi phát hành.
Các điều kiện phát hành cổ phiếu thường:
- Điều kiện về quy mô: công ty phải đáp ứng được yêu cầu vốn điều lệ ban đầu, mức vốn
điều lệ thực có tính đến ngày xin phép phát hành là 10 tỷ đồng Điều kiện về tính liên tục
của hoạt động sản xuất kinh doanh: công ty đã được hoạt động và hoạt động trong lĩnh
vực đang hoạt động trong một thời gian nhất định.
- Điều kiện về hiệu quả sản xuất kinh doanh: công ty phải hoạt động sản xuất kinh doanh
có lãi không thấp hơn mức quy định trong một số năm nhất định.
- Điều kiện về phương án sử dụng vốn: công ty phải có phương án khả thi về việc sử dụng
nguồn vốn thu được từ đợt phát hành, được đại cổ đông thông qua.
- Điều kiện về đội ngũ quản lý công ty: thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều
hành phải có đủ năng lực trình độvà kinh nghiệm quản lý các hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty.
- Điều kiện về phạm vi phát hành:
+ Đảm bảo tỷ lệ phần trăm tối thiểu về vốn cổ phần công ty nắm giữ và số lượng công
chúng nắm giữ. Ở Việt Nam, tối thiểu 20% và trên 50 người đầu tư ngoài công ty phát
hành. Trường hợp vốn cổ phần của công ty phát hành từ 100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối
thiểu là 15%.
+ Đảm bảo tỷ lệ phần trăm về vốn cổ phần cổ đông nắm giữ. Ở Việt Nam, cổ đông sáng
nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể 7từ ngày niêm yết
và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở
hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ.
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ.
2.1.2.2 Điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở GDCK Hà Nội
- Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán.
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có
các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà
nước.
- Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ.
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 6
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
- Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết
nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và
50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở
hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ.
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ.
2.2 Thủ tục để các công ty cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu
Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
+ Luật Chứng khoán số 70/QH11 ngày 29/6/2006; có hiệu lực ngày 01/01/2007.
+ Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Chứng khoán; có hiệu lực ngày 08/02/2007.
+ Quyết định 13/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Ban hành
mẫu Bản cáo bạch trong Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng và Hồ sơ
đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở GDCK, Trung tâm GDCK; có hiệu lực ngày
12/8/2007.
+ Thông tư 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên
thị trường chứng khoán; hiệu lực ngày 13/8/2007.
đầu tiên.
- Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ký Quyết định chấp thuận niêm yết, tổ chức niêm yết
không thực hiện việc đưa chứng khoán vào giao dịch tại Sở GDCK/Trung tâm GDCK
thì Quyết định chấp thuận niêm yết sẽ hết hiệu lực.
Cách thức thực hiện:
Gửi Hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Sở GDCK TP.Hồ Chí Minh hoặc Sở GDCK Hà Nội hoặc
theo đường bưu điện.
- Thành phần hồ sơ, bao gồm:
+ Giấy đăng ký niêm yết.
+ Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua việc niêm yết cổ phiếu; Sổ đăng ký cổ
đông của tổ chức đăng ký niêm yết được lập trong thời hạn một tháng trước thời điểm nộp
hồ sơ đăng ký niêm yết; Bản cáo bạch theo mẫu kèm báo cáo tài chính.
+ Cam kết của cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc
Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng nắm giữ
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 8
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số
cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo (đối với niêm yết cổ phiếu).
+ Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức đăng ký niêm yết đối với người đầu tư, bao
gồm các điều kiện thanh toán, tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và các điều kiện khác.
+ Cam kết bảo lãnh thanh toán hoặc Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm, kèm tài
liệu hợp lệ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp và hợp đồng bảo hiểm (nếu có).
+ Hợp đồng tư vấn niêm yết (nếu có).
+ Giấy chứng nhận của Trung tâm lưu ký chứng khoán về việc cổ phiếu của tổ chức đó
đã đăng ký lưu ký tập trung.
+ Các tài liệu khác tại Quy chế niêm yết của Sở GDCK/Trung tâm GDCK
- Số lượng hồ sơ: 02 bộ trong đó có 01 bộ gốc và 01 bộ bản sao kèm theo 01 bản dữ liệu
điện
- Thời hạn giải quyết: 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.tử.
- Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: công ty cổ phần.
Ngoài việc có thể huy động vốn dưới các hình thức vay kể cả phát hành trái phiếu như các
doanh nghiệp khác, thì công ty cổ phần còn có một ưu điểm là có thể tạo vốn và tăng vốn
qua việc phát hành các các loại cổ phiếu.Hình thức này cũng mang lại những lợi ích đáng
kể cho nhà đầu tư cổ phiếu.
3.1.1 Đối với Công ty phát hành: Việc phát hành Cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể
huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không
cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả
năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trongkhi sử dụng các phương
thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng thì hoàn toàn
ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và
nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 10
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích
hợp.
3.1.2 Đối với nhà Đầu tư Cổ phiếu: Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ
phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới
dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên
thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác,
người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng
có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát
triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một
phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời
giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của
công ty mình đã chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ
thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường.
Tuy nhiên, đối với từng loại cổ phiếu khác nhau sẽ có những ưu điểm và nhược điểm khác
nhau. Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ
phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty
* Ưu điểm:
- Cổ phiếu ưu đãi chỉ hứa hẹn chi trả cổ tức cho cổ đông , do đó tránh việc chia sẻ quyền
thu nhập của cổ đông thường. Hơn nữa trách nhiệm trả lãi cho các cổ đông cổ phiếu ưu
đãi không phải là một nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lý như đối với chủ nợ và trái chủ.
- Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có các quyền lợi sau:
+ Quyền được nhận cổ tức trước các cổ đông thường, mặc dù người có cổ phiếu ưu đãi
chỉ được quyền hưởng lợi tức cổ phần giới hạn nhưng họ được trả cổ tức trước khi chia
lợi tức cho cổ đông thường. Khác với cổ tức của cổ phiếu phổ thông, cổ tức của cổ phiếu
ưu đãi được xác định trước và thường được xác định bằng tỷ lệ phần trăm cố định so với
mệnh giá của cổ phiếu hoặc bằng số tiền nhất định in trên mỗi cổ phiếu.
+ Quyền ưu tiên được thanh toán trước, khi giải thể hay thanh lý công ty, nhưng sau
người có trái phiếu.
Tương tự như cổ phiếu phổ thông, nhưng cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được
tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng Quản trị và quyết định những vấn đề quan trọng
của công ty.
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 12
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
+ Cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá và mệnh giá của nó cũng
không ảnh hưởng tới giá thị trường của cổ phiếu ưu đãi. Mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi có
ý nghĩa hơn đối với mệnh giá của cổ phiếu phổ thông, vì nó là căn cứ để trả cổ tức và là
căn cứ để hoàn vốn khi thanh lý hay giải thể công ty.
+ Cổ phần ưu đãi còn giúp công ty tránh được việc chia sẻ quyền tham gia vào việc điều
hành và kiểm soát công ty.
+ Khác với việc phát hành trái phiếu, khi phát hành cổ phiếu ưu đãi công ty không phải
đem thế chấp tài sản. Cũng là loại chứng khoán vốn không có kỳ hạn nên công ty không
phải lo việc trả nợ khi đáo hạn.
* Nhược điểm: thông thường công ty phải trả cổ tức cho cổ phiếu ưu đãi cao hơn so với
lợi tức của trái phiếu. Bên cạnh đó, cổ tức cổ phiếu ưu đãi cũng nhưcổ tức cổ phiếu
thường lấy từ lợi nhuận ròng sau thuế để trả nên không phải là một chi phí khấu trừ khỏi
thuế.
giá cả chứng khoán niêm yết, nghĩa vụ công bố thông tin đại chúng trong một số trường
hợp làm ảnh hưởng đến bí quyết, bí mật kinh doanh và gây phiền hà cho công ty. Khi
niêm yết chứng khoán, doanh nghiệp phải công bố ra bên ngoài các thông tin như số
lượng chứng khoán do các nhân vật chủ chốt nắm giữ, thông tin về tình hình tài chính,
doanh thu, chi phí, định hướng, chiến lược phát triển…điều này đòi hỏi nguồn lực về tài
chính và con người. Mặt khác, chính việc công bố này đôi khi cũng bất lợi cho doanh
nghiệp, khi đối thủ cạnh tranh nắm được thông tin.
Chi phí khi niêm yết khá tốn kém:
Để chứng khoán có thể niêm yết được công ty phải bỏ ra rất nhiều khoản chi phí như hội
họp, thuê tư vấn, kiểm toán, chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ, quảng cáo.Quyền kiểm soát có thể bị
đe dọa: khi niêm yết, việc giao dịch chứng khoán khiến cơ cấu cổ đông thường thay đổi,
dẫn đến sự biến đổi và bất ổn định trong quá trình quản lý doanh nghiệp và có thể đe dọa
đến quyền kiểm soát của các cổ đông lớn.
- Áp lực đối với lãnh đạo doanh nghiệp về hoạt động sản xuất kinh doanh:
Tổ chức niêm yết luôn phải chịu áp lực giám sát của xã hội, áp lực phải nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh nhằm duy trì và tăng giá cổ phiếu trên thị trườngchứng khoán và
những người đứng đầu doanh nghiệp hiển nhiên sẽ chịu áp lực lớn nhất.
4 Vài nét về hoạt động phát hành và niêm yết cổ phiếu ở Việt Nam.
4.1 Hoạt động phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần trong những năm gần đây:
Tính chung vốn hóa hai sàn tại thời điểm 30/6/2013 đạt hơn 900.166 tỷ đồng, tương đương 42,86
tỷ USD, tăng 6,8 tỷ USD so với đầu năm.
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 14
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
Vn-Index chốt phiên giao dịch cuối tháng 6/2013 đạt 481,12 điểm, giảm 7,19% so với
tháng trước, giảm 2,02% so với cuối quý 1 nhưng so với cuối năm 2012 vẫn tăng 16,29%.
Trong khi đó, HNX-Index chốt phiên cuối tháng 6 ở mức 62,59 điểm, giảm 3,14% so với
cuối tháng 5 nhưng 6 tháng vẫn tăng 9,63%.
Tháng 6 thị trường bị ảnh hưởng mạnh bởi động thái rút vốn của các quỹ ETF, khá nhiều
bluechips giảm từ 10-15% trong tháng 6 đã khiến Vn-Index giảm 7% so với tháng 5. Thị
trường cũng đã giảm xuống dưới mốc 500 điểm với thanh khoản có dấu hiệu giảm dần về
Tổng mức huy động trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ phiếu, đấu giá
cổ phần hóa và đấu thầu trái phiếu chính phủ trong 6 tháng đầu năm 2013 đạt 114.840 tỷ
đồng (tăng 37% so với cùng kỳ năm 2012).
Tuy nhiên, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu giảm mạnh, chỉ đạt 2.344 tỷ đồng (giảm
58% so với cùng kỳ năm ngoái); đấu giá cổ phần hoá đạt 420 tỷ đồng (tăng 75% so với
cùng kỳ); Tổ chức được 110 đợt đấu thầu TPCP với tổng giá trị trúng thầu đạt trên
112.000 tỷ đồng (chiếm 67% so với tổ ng khối lượng trúng thầu cả năm 2012).
Điều kiện phát hành ngày càng cao
Năm 2011, Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam dự kiến tăng vốn từ 2.500 tỷ
đồng lên 5.000 tỷ đồng, Vinaconex dự kiến tăng vốn từ 3.000 tỷ đồng lên5.000 tỷ đồng…
Mở lại nghị quyết ĐHCĐ của nhiều doanh nghiệp lớn trên thị trường chứng khoán thì
thấy phần việc quan trọng nhất mà doanh nghiệp đề ra cho năm 2011 là tăng vốn đã
không thành công.Thành tích èo uột của chứng khoán, trong đó nhiều cổ phiếu rớt xuống
dưới mệnh giá là bước cản lớn nhất cho kế hoạch tăng vốn của các doanh nghiệp.
“Năm 2012, lợi nhuận 5% mới được phát hành cổ phiếu”.Bộ trưởng Vương Đình Huệ cho
biết năm 2012, doanh nghiệp phải có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đạt ít nhất 5% một năm mới
được phát hành để tăng vốn.
Trong năm năm 2013, phải quyết liệt và cương quyết lập lại trật tự trong việc quản lý
phát hành, hậu kiểm việc sử dụng vốn để hạn chế tối đa những hệ lụy, lấy lại niềm tin của
nhà đầu tư. Dự thảo quy định mới về điều kiện phát hành ra công chúng đã tăng tiêu
chuẩn lên ngặt nghèo hơn rất nhiều. Trong đó, nhấn mạnh đến tỷ lệ lợi nhuận đạt được
trên vốn ít nhất 5% một năm. Đặc biệt, Ủy ban Chứng khoán sẽ có những đoàn thanh
kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn, từ đó có những chế tài yêu cầu buộc các công ty đại
chúng tăng cường và coi trọng hơn công tác quản trị rủi ro.
Phát hành cổ phiếu giá thấp
Gần đây, nhiều doanh nghiệp (DN) niêm yết thi nhau lên kế hoạch phát hành cổ phiếu
dưới mệnh giá, thậm chí chỉ bằng 50% mệnh giá.Đây là điều chưa từng xảy ra trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 18
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
như công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt, công ty cổ phần chứng khoán Kim Long,
công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn.Hiện nay trên thị trường chứng khoán đã xuất hiện
tình trạng các DN hủy bỏ niêm yết cổ phiếu (ngay cả khi hoạt động kinh doanh có hiệu
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 19
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
quả), tạm dừng niêm yết cổ phiếu để chờ tín hiệu từ thị trường, thậm chí một số DN đã
được cấp phépniêm yết còn chần chừ chưa muốn lên sàn. Nguyên nhân là do các DN gặp
nhiều bất lợi trong quá trình niêm yết về chi phí niêm yết (hội họp, thuê tư vấn, kiểm
toán, chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ, quảng cáo); áp lực đối với lãnh đạo DN về kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, quyền kiểm soát có thể bị đe dọa và phải chịu nhiều nghĩa vụ
công bố thông tin cũng như các ràng buộc khác (khi niêm yết, DN phải công bố ra bên
ngoài thông tin về cổ phiếu, thông tin tình hình tài chính, doanh thu, chi phí, định hướng,
chiến lược phát triển…điều này đòi hỏi nguồn nhân lực về tài chính và con người. Hơn
thế nữa, việc công bố này đôi khi gây bất lợi cho DN khi đối thủ cạnh tranh nắm được
thông tin)….Đây chính là những rào cản lớn khiến DN muốn không muốn niêm yết hoặc
muốn hủy bỏ niêm yết.
Có thể nói việc niêm yết cổ phiếu phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như điều kiện chung
của nền kinh tế, luật pháp, chính sách…. Đặc biệt là trạng thái hay xu hướng của TTCK.
Việc này đòi hỏi chính phủ phải ban hành những chính sách thật hợp lí để hỗ trợ cho các
DN, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để DN có thể tham gia thị trường CK, hội nhập, phát
triển, mở rộng quy mô DN, hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn.
Song hành với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các DN niêm yết cổ phiếu trên thị trường
thì chính phủ cũng phải thực hiện “thắt chặt” việc niêm yết. Nghị định 14 ra đời trong bối
cảnh TTCK lúc đó là phù hợp và đã khuyến khích được hàng trăm doanh nghiệp tích cực
tham gia TTCK, làm phong phù hàng hóa cho TTCK. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có
chính sách quản trị doanh nghiệp tốt đã trở thành những doanh nghiệp vừa và lớn nhờ huy
động được vốn từ TTCK; Cho đến nay, đã có khoảng 694 DN tham gia niêm yết.Những
DN tiêu biểu đã gần như hội đủ tại TTCK (xét về phương diện quản trị doanh nghiệp và
tốc độ tăng trưởng).
Tuy nhiên, VAFI (Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam) cho rằng bên cạnh những
bộ và thống nhất phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
+ Phân định rõ từng thị trường để quản lý chúng: thị trường cổ phiếu: nơi niêm yết cổ
phiếu của các doanh nghiệp lớn; thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ; thị trường
UpCoM; thị trường OTC;…Hoàn thiện thị trường giao dịch cổ phiếu của các công ty cổ
phần để khắc phục ngay những trở ngại về tính thanh khoản của thị trường này.
+ Thực hiện chuyển đổi sở hữu của SGDCK và Trung tâm lưu ký chứng khoán từ
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên sang công ty cổ phần, trong đó Nhà nước vẫn
nắm giữ cổ phần chi phối (trên 51%). Cho phép đại diện Công ty chứng khoán (CTCK),
Tổ chức niêm yết, một số chuyên gia kinh tế tham gia vào Hội đồng quản trị của
SGDCK.Khi đó SGDCK là công ty cổ phần đại chúng, hoạt động sẽ năng động và minh
bạch vì mục tiêu phát triển lành mạnh của TTCK.
- Thứ hai, hoàn thiện các văn bản pháp lý, cơ chế chính sách cho sự phát triển của hoạt
động phát hành và niêm yết của công ty cổ phần.Xem xét sửa đổi, bổ sung Luật chứng
khoán theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật cho phù hợp với xu thế hội nhập
của nền kinh tế; ban hành các văn bản hướng dẫn về một số nghiệp vụ chứng khoán….
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 21
HP: Thị trường tài chính GVHD: Phan Trọng Nghĩa
- Thứ ba, tạo hàng hoá có chất lượng tốt cho thị trường. Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá
để tạo hàng hoá có chất lượng cao cho TTCK. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến
lược (trong và ngoài nước) mua cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam theo phương
thức thoả thuận, hoặc đấu giá giữa các nhà đầu tư chiến lược với nhau, để cải thiện nhanh
hơn về năng lực tài chính, chất lượng quản trị doanh nghiệp.
- Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra giám sát hoạt động của của các tổchức tham gia
thị trường, xử lý nghiêm các vi phạm về công bố thông tin, về tin đồn gây bất lợi cho hệ
thống thị trường tài chính, về rò rỉ thông tin.
+ Một là: Rà soát lại thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin và
áp dụng thống nhất cho việc công bố thông tin trên thị trường; tăng cường kiểm tra, giám
sát, xử lý nghiêm khắc việc công bố thông tin chậm, công bố thông tin không chính xác,
để rò rỉ thông tin bất luận là tổ chức hay cá nhân.
+ Hai là: xử lý nghiêm khắc các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng phương tiện
TCNH 34B-Nhóm 1 Trang 24