Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
1
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến
Thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em
tận tình, chu đáo để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Em xin cảm ơn các thầy, các cô giáo của khoa Lịch sử trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu đề tài.
Sự thành công của em ngày hôm nay phải kể đến sự cổ vũ động viên và
tạo mọi điều kiện của gia đình, người thân và bạn bè.
Do sự hạn chế về thời gian, nên khoá luận tốt nghiệp không tránh khỏi
những thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn sinh viên.
Một lần nữa em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với các thầy cô
và người thân!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2011
Tác giả khoá luận Đỗ Kim Oanh Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
2
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhắc đến Arập người ta nghĩ ngay đến nơi sản sinh ra một trong những
tôn giáo lớn trên thế giới; đó chính là đạo Hồi (đất nước Arập cũng là cái nôi
hình thành và phát triển tôn giáo này). Đạo Hồi (tôn giáo của tộc người Hồi)
là cách gọi của người Trung Quốc gọi đạo Islam (theo tiếng Arập nghĩa là
phục tùng theo ý chân chủ) xuất hiện ở bán đảo Arập vào khoảng thế kỉ thứ
VII do Môhamét là người sáng lập và truyền bá. Xét về mặt lịch sử, đạo Hồi
là tôn giáo mang tính quốc tế ra đời muộn nhất, nhưng lại là tôn giáo phát
triển nhanh nhất. Ngày nay, đạo Hồi đã trở thành một tôn giáo đa văn hóa,
còn những tín đồ của thánh Ala là cả một cộng đồng tôn giáo bao trùm lên
nhiều khu vực địa lí và nhiều nền hóa của thế giới.
Đạo Hồi ra đời có vai trò xác lập quyền thống trị của giai cấp quý tộc
và đi tới thành lập nước Arập. Đạo Hồi ra đời do hàng loạt nguyên nhân kinh
tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với quá trình chuyển biến từ chế độ công xã
nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp của các tộc người vùng Trung Cận Đông
và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Arập thành một nhà nước
phong kiến thần quyền.
Ra đời vào đầu thế kỉ VII, đạo Hồi đã dần dần được truyền bá và phát
triển ra các vùng ở Châu Á, Châu Phi, đặc biệt là Tây Á, Bắc Phi, đại lục
Nam Á và Đông Nam Á. Từ đầu thế kỉ XX trở lại đây, đạo Hồi đã được
truyền bá mạnh mẽ tới Tây Âu và bắc Mĩ. Hiện nay, tín đồ đạo Hồi chiếm tới
sâu và tìm hiểu vấn đề đạo Hồi ở những khía cạnh, góc độ khác nhau.
Cuốn “Mười tôn giáo lớn trên thế giới” (1999) của Hoàng Tâm Xuyên,
Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, đã đề cập đến vấn đề đạo Hồi là một trong
mười tôn giáo lớn ở trên thế giới (bối cảnh ra đời, quá trình phát triển, những
giáo lí cơ bản ).
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
5
Cuốn “Lịch sử văn hoá thế giới cổ trung đại” (2001) do Lương Ninh
(cb), Nxb Giáo dục, đã nhìn nhận đạo Hồi trên nhiều khía cạnh khác nhau:
thành tựu văn hóa truyền thống, giáo lí cơ bản, các giáo phái.
Trong cuốn “Lịch sử văn minh thế giới” (2001) do Vũ Dương Ninh
(cb), Nxb Giáo dục, là cuốn sách trình bày về các nền văn minh lớn trên thế
giới, trong đó có đề cập đến đất nước Arập và đạo Hồi. Cuốn sách đã trình
bày một cách khái quát sự ra đời của nhà nước Arập, hệ thống giáo lí, giáo
luật và những thành tựu văn hoá của Arập.
Cuốn “Lịch sử Trung Cận Đông” (2002), Nxb Giáo dục TPHCM,
là sách tài liệu tham khảo, trong đó có đề cập tới sự ra đời và phát triển của
Hồi giáo.
Cuốn “Hồi giáo” (2002) của Dominique Sourdel, Nxb Thế giới,
Hà Nội, đã trình bày về sự ra đời, giáo lí, giáo luật và phong trào của các giáo
phái Hồi giáo.
Cuốn “Lịch sử văn minh Arập” (2003) của Will Durant, Nxb Văn hoá
- Thông tin, Hà Nội, đã trình bày khá đầy đủ về sự hình thành và phát triển
của quốc gia Arập, những giáo lí, giáo luật, các lĩnh vực văn hoá - xã hội của
đạo Hồi.
Trong cuốn “Đạo Hồi và thế giới Arập” (2004) của Tiến sĩ
Nguyễn Thọ Nhân, Nxb Tổng hợp TPHCM, đã đưa ra một số thông tin về đạo
Hồi và những biến động của nó.
Các báo chí, tạp chí nghiên cứu tôn giáo, …
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương
pháp logic. Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khác như: so sánh, đối chiếu, tổng hợp, diễn dịch,…
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
7
5. Đóng góp của khóa luận
Góp phần làm rõ về quá trình ra đời của đạo Hồi và vai trò của nó trong
quá trình thống nhất bán đảo Arập, truyền bá văn hoá Hồi giáo, đồng thời góp
phần khắc hoạ một cách rõ nét quá trình phát triển của đế quốc Arập từ thế kỉ
VII đến thế kỉ VIII.
Khóa luận là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm đến
Hồi giáo và quá trình phát triển của nó trên phạm vi thế giới nói chung.
6. Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận
gồm có 2 chương:
Chương 1: Sự ra đời của đạo Hồi ở thế kỉ VII
Chương 2: Vai trò của đạo Hồi đối với sự ra đời và phát triển nước
Arập (Thế kỉ VII - Thế kỉ VIII)
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
8
Chương 1
SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠO HỒI Ở THẾ KỈ VII
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH BÁN ĐẢO ARẬP TRƯỚC THẾ
9
Bán đảo Arập là quê hương của người Arập, thuộc chủng Sêmít,
phân biệt thành hai nhóm: Là hậu duệ của Abraham: Người Arập miền Nam
(hay người Yêmen) con cháu dòng dõi Quatar và người Arập miền bắc (hay
người Nidarit) con cháu của Ismael. Họ chia thành nhiều nhánh khác nhau,
trong đó có một vài nhánh - Quais, Koraich trong số những người Nidarit.
Còn Lakhm, Kinda, Ghassas trong số những người Yêmen - đóng vai trò quan
trọng trong lịch sử.
1.1.2. Về kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo Arập trước thế kỉ VII
Về kinh tế: Do vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên nên vào thế kỉ VI đầu
thế kỉ VII, kinh tế nông nghiệp Arập trong tình trạng thấp kém duy nhất có
vùng Yêmen ở phía tây nam là có nguồn nước phong phú và nhiều đất đai để
canh tác. Họ biết trồng lúa và rau, nuôi được gia súc. Khoảng 5/6 dân cư trên
bán đảo Arập là người chăn nuôi du mục; họ chăn nuôi lạc đà, ngựa, cừu và
gia súc có sừng lớn, kinh tế của họ bấp bênh và phụ thuộc vào thiên nhiên.
Do tiếp giáp với biển thương nghiệp trên bán đảo khá phát triển và là
nghề được dân bán đảo ưa chuộng; tại vùng đất phía tây chạy dài song hành
với biển Đỏ tạo thành một dãy đất hẹp và dài; trở thành một con đường thông
thương quan trọng từ Á sang Âu. Dọc hai bên đường thương lộ này đã mọc
lên nhiều thành trấn; trong đó có Mécca “Mecca là một thành trấn quan trọng
nằm giữa đường của thương lộ. Trước và sau thế kỉ VI, cư dân Mecca có
chừng 15000 người. Họ chủ yếu sống bằng nghề thương nghiệp và dịch vụ,
cũng có một số người làm nghề thủ công” [10, tr.256].
Như vậy, trái với nông nghiệp thì thương nghiệp lại khá phát triển và
đem lại nguồn lợi lớn cho người dân.
Về chính trị - xã hội: Trước khi đạo Hồi ra đời, cư dân Arập đang trong
quá trình chuyển biến từ công xã thị tộc sang xã hội có giai cấp và nhà nước.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
11
dẳng trong suốt thế kỉ VI. Điều này đã làm ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế của
cư dân trên bán đảo. Đồng thời cuộc hỗn chiến giữa các hoàng đế Byzantine
và các vua chuyên chế Ba Tư đã cản trở việc đạt đến sự thống nhất chính trị
của Cận Đông rất cần cho sự phát triển thương nghiệp. Điều đó đã gây nên sự
sụp đổ của các thành thị Arập. Các thành thị lớn như Mécca, Yatơríp vốn có
một quá khứ phồn thịnh nay chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát, rơi vào
thảm cảnh tiêu điều, xơ xác. Mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, giai cấp quí
tộc muốn thống trị nhân dân trong vòng vương quyền của mình, trấn áp mọi
tư tưởng chống đối và ý muốn nổi dậy của nhân dân, nên cần một lực lượng
đủ mạnh, xu hướng liên kết giữa các thị tộc bộ lạc được ủng hộ với mục đích
cao nhất là bảo vệ quyền lợi giai cấp và quyền lợi thương mại.
Về tôn giáo: Tín ngưỡng đa thần giáo đã gây trở ngại lớn đối với quá
trình thống nhất bán đảo Arập. Các bộ lạc chỉ thờ một vị thần tổ của riêng
mình. Muốn thống nhất các bộ lạc trên bán đảo Arập thì trước tiên phải thống
nhất về tín ngưỡng. Bên cạnh đó, đạo Do Thái và Cơ Đốc giáo cũng ra sức phát
huy ảnh hưởng của mình; đây cũng là một rào cản cho công cuộc thống nhất.
Tình hình trên là điều kiện thuận lợi cho sự ra đời một tôn giáo mới phù
hợp với tín ngưỡng, nguyện vọng của nhân dân.
1.2.2. Môhamét sáng lập ra đạo Hồi
Môhamét (Muhammad - nghĩa là “Người được tôn vinh”) (570-632) là
người thuộc bộ lạc Carét, sinh ra tại Mécca (nay thuộc Arập Xê út). Ông là
người “Trung bình, không cao không thấp. Nước da trắng hồng, mái tóc đẹp,
dầy và láng, rủ xuống hai vai… Nét mặt thật hiền từ, tới nỗi ai thấy một lần
rồi thì không thể rời được nữa” [11, tr.26-27]. Ông mồ côi cha từ lúc ra đời,
đến năm 6 tuổi thì bà mẹ Amina mất; được ông nội Abd al - Muttalib, sau đó
là chú Abu - TaLib nuôi dạy. Thủa nhỏ, ông đi chăn gia súc, dẫn đường cho
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
“Năm 622, 73 người dân Yathrib lấy tư cách cá nhân lại thăm
Muhammad mời ông về Yathrib. Họ cam kết thừa nhận Muhammad là nhà
tiên tri, và thề sẽ trung thành chiến đấu vì Thượng đế và Sứ giả của người”
[11, tr.34-35].
Môhamét đã tới Yatơríp để làm người hoà giải cho những bất đồng thị
tộc theo sự thỉnh cầu của người dân nơi đây và cuộc di cư bí mật của những
tín đồ Hồi giáo tới Yatơríp bắt đầu (diễn ra vào năm 622) đánh dấu sự kiện
trọng đại trong lịch sử Hồi giáo gọi là Hijra (Đại di cư). Mười bảy năm sau,
Calipha Umar quyết định lấy năm 622 là năm khởi đầu cho kỉ nguyên Hồi
giáo. Tháng 7 năm 622 được coi là mở đầu kỉ nguyên Hồi giáo. Vì vào thời
gian này hội thánh được thành lập vừa phục vụ cho việc truyền giáo, vừa
chuẩn bị lãnh đạo đánh chiếm Mécca.
Cuộc Đại di cư này là sự khởi đầu của Hồi giáo với tư cách là một tôn
giáo có tính chất xã hội. Ở Yatơríp, tôn giáo trở thành một hiện tượng xã hội,
góp phần phát triển lịch sử cũng như tạo ra các điều luật phức tạp. Yatơríp
được đổi tên thành Mêđina (Thành phố của Nhà Tiên Tri). Môhamét nhanh
chóng thăng tiến về địa vị xã hội; từ chỗ chỉ là một sứ giả đơn thuần ông trở
thành người lãnh đạo chính trị, tôn giáo, xã hội của toàn thể cộng đồng.
Sau khi vững chân ở Mêđina, Môhamét chuyển trọng tâm hoạt động
sang giải quyết những vấn đề xã hội, phát động và tổ chức những cuộc đấu
tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, tôn giáo.
Lúc này, sự phản đối Hồi giáo ngày càng phát triển cuối cùng dẫn đến
“thánh chiến”. Theo quan điểm của tín đồ Hồi giáo tất cả những người không
tin tưởng và thờ phụng đều không có quyền bình an.
Năm 624 “Cuộc chiến Badr” nổ ra giữa quân của Môhamét và quân đội
Mécca, kết quả cuối cùng quân đội của Môhamét đã dành được thắng lợi. Vị
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
14
15
1.2.3. Khái quát giáo lí, giáo luật của đạo Hồi
Giáo lí của Hồi giáo rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp
và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra khỏi
phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lí của xã hội. Giáo lí cơ
bản của Hồi giáo là Kinh Coran (Coran theo nguyên nghĩa tiếng Arập là
“tụng đọc”).
“Kinh này là lời nói của Allah, tức những lời nói của Allah thông qua
sứ giả của mình truyền đến cho người đời… Theo đó thì nguyên lí cơ bản của
đạo Islams được chia ra thành tín ngưỡng tôn giáo và nghĩa vụ tôn giáo”
[10, tr.259].
Giáo lí Hồi giáo gồm các điểm cơ bản sau:
Ala là đấng tối cao sinh ra trời đất.
Ala là đấng tối cao sinh ra muôn loài trong đó có con người.
Con người là bình đẳng trước Ala nhưng số phận và tài năng tạo nên sự
khác nhau giữa những con người.
Số phận con người có tính định mệnh và do Ala sắp đặt.
Tín đồ Hồi giáo phải luôn có thái độ đúng: trong cộng đồng (Hồi giáo)
thì phải kiên nhẫn chịu đựng, phục tùng Ala, đối với người ngoài thì phải kiên
quyết bảo vệ mọi lợi ích của Hồi giáo và phải có tinh thần thánh chiến.
Về y lý: khuyên bảo con người phải giữ gìn sức khoẻ.
Những lời khuyên về đạo lí:
Tôn thờ thần cao nhất là Ala.
Sống nhân từ độ lượng.
Thưởng phạt công minh, trừng phạt chủ yếu đối với kẻ thù.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
16
Niệm: Tín đồ phải thường xuyên tụng niệm thành tiếng tín điều cơ bản
(Vạn vật không phải là Chúa, chỉ có Chân chúa, Môhamét là sứ giả của Chúa).
Lễ: tức là lễ bái, các tín đồ mỗi ngày lễ năm lần (sáng, trưa, chiều, tối,
đêm). Thứ 6 hàng tuần thì làm lễ tại thánh đường một lần vào buổi trưa.
Trước khi làm lễ, tín đồ phải rửa mặt, tay chân, quỳ xuống, hướng về đền
Caaba để cầu nguyện.
Trai: tức là trai giới. Tháng 9 theo lịch Hồi là tháng trai giới của Hồi
giáo. Trong tháng này mọi sinh hoạt đều vào buổi đêm, trừ một số trường
hợp đặc biệt.
Khoá: Các tín đồ có nghĩa vụ đóng góp cho các hoạt động từ thiện. Sự
đóng góp đó có thể là tự nguyện, nhưng cũng có khi là bắt buộc dựa vào tài
sản của tín đồ (khoảng 1/40 tài sản).
Triều: Các tín đồ phải có nghĩa vụ hành hương về Mécca ít nhất một
lần trong cuộc đời, để triều bái Caaba trong tháng 12 theo lịch Hồi (hành
hương Haji). Cuộc triều bái này kéo dài trong 10 ngày, vào ngày cuối cùng tín
đồ sẽ hiến lễ là một con cừu hoặc lạc đà, hoặc một con vật có sừng.
Ngoài ra, Hồi giáo còn có nhiều quy định cụ thể về hành vi của tín đồ
trong các mối quan hệ xã hội.
Về tổ chức Hồi giáo:
Thánh đường Hồi giáo là nơi sinh hoạt tập thể và có tính chất thiêng
liêng đối với các tín đồ.
Hệ thống chức sắc gồm có: Giáo chủ (Mufty), Phó giáo chủ (Naib
Mufty), Giáo cả (Ha Kim), Phó giáo cả (Naib Ha Kim), Imân, Khatib, Tuan,
Bilat, Slak, HaDji.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
18
Tóm lại, bản thân xã hội Hồi giáo là một xã hội hỗn hợp tôn giáo
- chính trị nên tất cả những điều luật đều được thi hành không kém gì luật
nguyên thuỷ, cùng với sự phân hoá giàu nghèo diễn ra mạnh mẽ thì mâu
thuẫn xã hội cũng phát triển cao (dân nghèo, nô lệ với quý tộc; các bộ lạc;
quý tộc với quý tộc) kéo theo nó là nhiều phong trào đấu tranh của quần
chúng nhân dân chống lại quý tộc, chủ nô và bọn cho vay nặng lãi.
Sự tồn tại của tín ngưỡng đa thần giáo gây trở ngại cho sự thống nhất
bán đảo Arập.
Lúc này, nhiều quốc gia trên thế giới đang trong quá trình hình thành
chế độ phong kiến (riêng Trung Quốc đang ở giai đoạn phát triển cao của chế
độ phong kiến); Arập thì đang ở trong quá trình chuyển biến từ chế độ công
xã thị tộc sang xã hội có giai cấp và nhà nước. Trong bối cảnh đó, xã hội Arập
không thể có một bước đi tuần tự bình thường mà buộc phải bỏ qua một hình
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
20
thái kinh tế xã hội đi thẳng từ chế độ công xã nguyên thủy lên chế độ phong
kiến. Nhu cầu thống nhất quốc gia trở thành xu thế lịch sử tất yếu của bán
đảo Arập.
Tất cả khát khao có một nhà nước thống nhất, hùng mạnh để đoàn kết
các bộ lạc Arập, giành lại những con đường thông thương vốn có, đẩy lùi sự
xâm lăng của các nước láng giềng. Môhamét đã xuất hiện và đáp ứng được
yêu cầu bức thiết đó của lịch sử. Môhamét đã sáng lập và truyền bá đạo Hồi;
dựa vào nó để tiến hành cuộc cách mạng chính trị - xã hội trên toàn bán đảo;
tiến tới thống nhất và phát triển mở rộng lãnh thổ của đế quốc Arập sau này.
2.1.2. Quá trình hình thành nhà nước Arập
Quá trình thành lập nhà nước Arập trải qua một thời gian dài, gắn liền
với tên tuổi và cuộc đời của Môhamét. Sau khi đã được thần linh “khải thị”,
vào năm 40 tuổi (năm 610) Môhamét đã bắt đầu truyền giáo. Ban đầu
Môhamét bí mật truyền giáo, sau đó dần dần chuyển sang công khai; từ chỗ
những người được truyền giáo là người thân của nhà tiên tri chuyển dần sang
cốc. Năm 622 có tất cả tám thị tộc sinh sống trên ốc đảo này, trong đó có ba
thị tộc người Do Thái chiếm được những vùng đất tốt và tỏ ra có ưu thế hơn
cả. Ở thời điểm Môhamét truyền bá đạo của mình thì các thị tộc xảy ra những
xung đột mạnh mẽ dẫn đến cuộc chiến Buat (năm 618); sau trận chiến bất
đồng này thì những mâu thuẫn vẫn không được giải quyết. Họ bắt đầu hi vọng
vào Môhamét và khẩn cầu ông sẽ là người hoà giải cho những xung đột này.
Ở Mêđina, với tư cách là Nhà Tiên Tri, Môhamét đã dần nâng cao địa
vị của mình và trở thành nhà ngoại giao chuyên hoà giải những xung đột bộ
lạc. ông liên minh với những bộ lạc láng giềng một mặt để giữ vững sự ổn
định khu vực, mặt khác để truyền đạo cho họ. Những nỗ lực của ông nhằm
thực hiện một cuộc cách mạng tôn giáo. Ông bắt đầu thành lập nên một cộng
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
22
đồng Hồi giáo với hệ thống chính quyền, luật pháp và những thể chế riêng.
Ông đề xuất tư tưởng “Muslim và anh em” - những người theo đạo Hồi được
gọi là Muslim, có nghĩa là “Phục tùng Allah và Người Tiên Tri” [10, tr.259].
Để củng cố cộng đồng Muslim, Môhamét còn đặt ra “Hiến chương Mêđina”
với các nguyên tắc về quan hệ đối nội, đối ngoại và chính trị. Như vậy, trong
thời gian ở Mêđina, Môhamét đã phải đề xuất hàng loạt những chủ trương cải
cách đời sống xã hội, những nguyên tắc pháp luật, quy phạm đạo đức,…
để xử lý các vấn đề xảy ra tại Mêđina đồng thời nhằm tạo nên sức mạnh cho
chính quyền. Môhamét đã làm cho Mêđina được thống nhất và bước đầu xây
dựng được một chính quyền hợp nhất; chính quyền này lấy hình thức là
Umma (Cộng đồng Hồi giáo).
Nhằm truyền bá đạo Hồi và củng cố chính quyền non trẻ do mình vừa
lập ra, Môhamét cho tổ chức lực lượng vũ trang ở Mêđina; Môhamét biết
trước những người đa thần giáo ở Mécca sớm muộn cũng sẽ tấn công cộng
đồng Hồi giáo tại Mêđina. Ông lo tăng cường binh lực bằng cách cuớp lạc đà,
lực, truyền bá đạo Hồi, sử dụng đạo Hồi như một thứ vũ khí sắc bén để tiến
tới thống nhất toàn bán đảo Arập.
Giai đoạn sau tại Mêđina (627-632)
Sau năm năm đầu chiếm cứ Mêđina (622-627), Môhamét và cộng đồng
Hồi giáo đã gây ra nhiều cuộc đột kích đẫm máu để tấn công các đoàn thương
buôn của Mécca nhằm mục đích cuớp lạc đà, ngựa, vũ khí, tiền bạc và đủ loại
hàng hoá vừa để sống tại ốc đảo Mêđina vừa để tăng cường lực lượng quân
sự. Danh tiếng của Môhamét lan đi khắp vùng và ai cũng phải nể sợ. Lúc này,
tình hình vô cùng thuận lợi, Môhamét quyết định: Trước hết thống nhất tất cả
các bộ lạc Arập thành một quốc gia. Bộ lạc nào tách rời sẽ bị trừng phạt. Sau
đó chiếm thành phố Mécca làm thủ đô phát triển đạo Hồi.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Đỗ Kim Oanh
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Lớp K33 - CN Lịch sử
24
Bằng mưu lược chính trị, dù chưa phải là một quốc vương nhưng
Môhamét đã viết thư và sửa soạn những món quà quý giá rồi cử nhiều phái
đoàn đến yết kiến các hoàng đế của đế quốc Byzantine và đế quốc Ba Tư,
các vua Ai Cập và Êtiôpia. Sau đó, ông gửi thư đến các bộ lạc Arập, không
phân biệt họ theo tôn giáo nào. Trong thư ông nhấn mạnh đạo Do Thái là đạo
của con cháu Jacob, đạo Hồi là đạo của con cháu Ismael. Kinh Thánh Cựu
Ước bằng tiếng Hebrew của Do Thái, Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp của Ki Tô
Giáo, Kinh Koran bằng tiếng Arabic là Kinh Thánh của người Arập. Ông
không yêu cầu mọi người theo đạo Hồi nhưng yêu cầu tất cả các bộ lạc Arập
gia nhập “Cộng đồng Arập”, tương tự như “Umma” ở Mêđina. Sau thư mời
nói trên, nhiều bộ lạc Arập xin gia nhập “Umma”, đặc biệt là các bộ lạc
Bedouine. Chỉ còn lại ba bộ lạc không chịu gia nhập là các bộ lạc Asad,
Thalabah và Sad. Từ cuối năm 627 đến cuối năm 628, Môhamét mang quân
đi tấn công để trừng phạt ba bộ lạc nói trên.
Cũng trong thời gian này, Môhamét mở những cuộc tấn công các đoàn
nhận Mécca là thánh địa của đạo Hồi và ngôi đền cổ Caaba và phiến đá đen là
thánh vật của đạo Hồi. Mécca trở thành hậu thuẫn vững chắc để Môhamét tiến
hành chinh phục các bộ lạc Arập. Với những hoạt động tôn giáo - chính trị
mạnh mẽ của Môhamét lần đầu tiên trong lịch sử, các bộ lạc Arập được kết lại
với nhau bằng một tôn giáo và một thượng đế. Môhamét trở thành người đứng
đầu lập pháp, là đầu não của một chính quyền mới, là thống soái tối cao của
những người Hồi giáo.
Sau khi chiếm thành phố Mécca, vào tháng 1 năm 630, Môhamét sát
nhập quân của thành phố này với quân của Mêđina để thành lập một đạo quân
Hồi giáo lên tới 30000 người. Sau hơn một năm ở Mécca, Môhamét lại trở về
Mêđina. Các bộ lạc đã lần lượt cử người đến xin thần phục và theo đạo Hồi.
Những tín đồ Do Thái và Cơ Đốc cử người tới kí hoà ước và nộp cống vật để
đổi lấy sự khoan dung về tôn giáo. Với chiến dịch Tabuh (tháng 10 năm 630),
đây cũng là chiến dịch cuối cùng do Môhamét tham gia; ba vạn đại quân Hồi