1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TRỊNH THỊ ÁNH TUYẾT
DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO
HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA
HỌC SINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội
yếu để phù hợp với trẻ em. Đổi mới phương pháp dạy học là phải khắc phục
cách thức truyền thụ “thầy giảng – trò ghi”, phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học.
3
Ở Tiểu học, giúp các em có những hiểu biết về thế giới xung quanh,
những hiện tượng khoa học, những vấn đề thiên nhiên là mục tiêu quan trọng.
Môn Khoa học cung cấp cho các em những kiến thức đó. Đó là môn học tích
hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò
quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đực của con người.
Đáp ứng mục tiêu của hệ thống giáo dục và giáo dục Tiểu học chương trình
môn Khoa học đề ra mục tiêu môn học phải khơi dạy tính tích cực trong hoạt
động của học sinh. Người giáo viên phải hình thành ở học sinh những tri thức
môn học đồng thời cũng phải hình thành niềm tin khoa học cho các em. Trên
cơ sở đó đòi hỏi hoạt động tổ chức, hướng dẫn của giáo viên phải hướng tới
hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng học tập của học sinh. Học
sinh phải được hoạt động, được bộc lộ mình và được phát triển tối đa thông
qua hoạt động học tập. Khi tổ chức cho học sinh học tập phải sử dụng phối
hợp linh hoạt các phương pháp có tác dụng phát huy tính tích cực của người
học như phương pháp động não, thảo luận nhóm, trò chơi học tập, khám
phá…
Đặc biệt, dạy học môn Khoa học với nhiều chủ đề đa dạng luôn đòi hỏi
tính đầy đủ và chính xác của những tri thức khoa học và người giáo viên phải
làm thế nào để hình thành niềm tin khoa học sâu sắc ở học sinh. Vì thế tôi
chọn đề tài nghiên cứu “Dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh” để tìm hiểu nghiên cứu trong khóa luận của mình.
Qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi nắm vững về các phương pháp dạy
học nói chung và các phương pháp dạy học môn Khoa học nói riêng để nâng
cao năng lực sư phạm của bản thân.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
1. Cơ sở lý luận
5
1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
1.1.3. Tìm hiểu môn Khoa học lớp 4
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học
1.2.2. Phân tích thực trạng
1.2.3. Kết luận
Chương 2: Dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát huy tính tích cực
của học sinh.
2.1. Các nguyên dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát huy tính
tích cực của học sinh
2.2. Một số phương pháp dạy học môn Khoa học lớp 4
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề được toàn Đảng, toàn dân
quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học không phải
là sự thay thế các phương pháp cũ bằng hàng loạt các phương pháp mới. Về
mặt bản chất, đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành phương
pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức tổ chức. Triển khai các phương
pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của phương pháp truyền thống và
vận dụng linh hoạt các phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học, giúp người học đạt được năng lực mong
muốn.
*Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Đảng và Nhà nước ta đã xác định “đầu tư cho giáo dục là Quốc sách
hàng đầu, phát triển giáo dục nền tảng đào tạo nhân lực chất lượng cao là
yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa
– hiện đại hóa đất nước”. Giáo dục góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân
cách tốt đẹp cho học sinh, đặc biệt là giáo dục Tiểu học. Đây là bậc học nền
tảng để các em học tiếp bậc học cao hơn. Do vậy Đảng và Nhà nước ta đã nêu
rõ ở nghị quyết Trung ương II là: “Nâng cao chất lượng toàn diện ở Tiểu
học”. Đổi mới về phương pháp dạy học ở tất cả các môn học thông qua việc
đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5. Đó là yêu cầu tất
yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường ở trong tình hình hiện
nay.
8
Như vậy mục đích của đổi mới phương pháp dạy học Tiểu học là thay
đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp tích cực
nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo hứng thú học tập cho học
Khi sử dụng phương pháp truyền thống giáo viên cần khai thác chức
năng khêu gợi vốn có của mỗi phương pháp để kích thích và phát huy vai trò
chủ động nhận thức của người học. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, động
viên, khích lệ học sinh. Giáo viên cần tìm tòi phương pháp truyền đạt hiệu
quả để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh. Điều đó đòi hỏi giáo viên
không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tự học, tự nghiên cứu
để đáp ứng việc dạy học trong thời đại.
Như vậy biết vận dụng những phương pháp dạy học truyền thống một
cách tích cực phù hợp với từng môn, từng bài sẽ góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Tiểu học. Đây là quan niệm đổi mới đúng đắn phù hợp thực tế.
Vì thế cần phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học
chương trình ở Tiểu học nói chung và môn Khoa học lớp 4 nói riêng.
1.1.3. Tìm hiểu môn Khoa học lớp 4
1.1.3.1. Mục tiêu chương trình
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản ban đầu và thiết thực
về:
- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người;
cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm.
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật và thực vật.
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng
lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất.
Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh những kỹ năng:
10
- Ứng xử phù hợp với các vấn đề với sức khỏe của bản thân, gia đình
và cộng đồng.
- Quan sát và làm một số thí nghiệm, thực hành khoa học đơn giản
gần gũi với đời sống, sản xuất.
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin
để giải đáp.
- Vật chất và năng lượng gồm 38 bài:
Ở chủ đề này học sinh sẽ biết được nước có tính chất gì? Tồn tại như
thế nào? Biết được vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên, vị trí vai trò của
nước trong cuộc sống, những việc làm cần thiết để bảo vệ nguồn nước.
Nước và không khí là hai yếu tố quan trọng của sự sống vì vậy trong
chủ đề này cung cấp cho học sinh những kiến thức liên quan tới không khí
như: cách nhận ra không khí, không khí có những tính chất gì, có những thành
phần nào, vai trò, tác dụng của không khí v.v
Ngoài nước và không khí âm thanh cũng được đề cập đến trong chủ đề
này. Biết được sự hình thành của âm thanh, cách phát hiện ra âm thanh, tác
dụng của âm thanh, tác hại của âm thanh trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta. Ánh sáng là yếu tố không thể thiếu của sự sống trên Trái Đất vì vậy
học sinh cũng được tìm hiểu trong chủ đề này. Ngoài ra học sinh còn biết
được nhiều về các hiện tượng khác như: nóng, lạnh, nhiệt độ, vật dẫn điện, vật
cách điện v.v…
- Chủ đề thực vật và động vật gồm 14 bài
Ở chủ đề này học sinh cũng có những kiến thức về động vật và thực vật
tồn tại xung quanh chúng ta như: động vật, thực vật cần gì để sống, chúng có
nhu cầu về nước như thế nào? Nhu cầu dinh dưỡng ra sao và nhu cầu về
12
không khí như thế nào? Sự trao đổi chất ở thực vật như thế nào có giống với
sự trao đổi chất ở động vật không?
Từ nội dung trên ta thấy cần phải áp dụng các phương pháp dạy học
tích cực trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
1.1.3.3. Đặc điểm của môn Khoa học lớp 4
- Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp.
+ Chương trình xem xét Tự nhiên – Con người – Xã hội trong một thể
thống nhất, có quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau.
+ Kiến thức trong chương trình là kết quả của việc tích hợp kiến thức
dạy học khám phá bởi khi kiến thức được nâng cao dần, tính phức tạp tăng thì
giáo viên phải là người giúp các em sáng tỏ tri thức, khi bài học có độ phức
tạp khái quát các em sẽ khó đạt được yêu cầu của bài học khi làm việc độc
lập. Tuy nhiên với những kiến thức gần gũi với thực tế thì giáo viên và học
sinh có thể trao đổi, học sinh động não giải quyết vấn đề đặt ra trong bài.
- Chương trình chú ý tới những vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh
trong việc tham gia xây dựng các bài học.
Các nguồn thông tin về thiên nhiên, con người và xã hội gần gũi, bao
quanh học sinh ngày càng nhiều và dễ tiếp nhận. Vì thế, hình thành và phát
triển các kỹ năng khoa học như quan sát, giải thích các hiện tượng tự nhiên
đơn giản và kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống.
Với đặc điểm này phương pháp tái hiện, đàm thoại, khám phá sẽ kích
thích hứng thú học tập của học sinh. Trong khi học các em sẽ có điều kiện thể
hiện những hiểu biết vốn có của mình, có thể trình bày và tranh luận cũng như
bảo vệ ý kiễn của bản thân trên cơ sở những điều các em đã thấy từ trong thực
tế cuộc sống.
14
Như vậy, từ việc tìm hiểu mục tiêu, nội dung và đặc điểm của môn
Khoa học lớp 4, giáo viên phải sử dụng linh hoạt các phương pháp nhưng
phải tùy thuộc vào nội dung từng bài học mà lựa chọn phương pháp cho phù
hợp. Có vậy mới phát huy được tính tích cực chủ động trong việc chiếm lĩnh
tri thức của học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Để nắm được thực trạng dạy và học môn Khoa học và việc sử dụng sử
dụng các phương pháp dạy học môn Khoa học ở lớp 4, chúng tôi đã tiến hành
điều tra tại 2 trường Tiểu học:
- Trường Tiểu học Lưu Quý An – Thị xã Phúc Yên
- Trường Tiểu học Trưng Nhị - Thị xã Phúc Yên
1.2.1. Thực trạng dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
M c 1 M c 2 M c 3
Biểu đồ 2:
Ý kiến của giáo viên về sự cần của việc áp dụng phương pháp dạy học
tích cực, đổi mới phương pháp dạy học vào dạy học môn Khoa học 4
16
Qua đây cho thấy đại đa số giáo viên đều nhận thức được tác dụng của
việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Khoa học lớp
4 (có 25% giáo viên được hỏi cho rằng việc áp dụng phương pháp dạy học
tích cực, đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết và 65% giáo viên được
hỏi cho rằng áp dụng dạy học tích cực, đổi mới phương pháp dạy học là cần
thiết). Một số ít giáo viên cho rằng tác việc áp dụng phương pháp dạy học tích
cực vào dạy môn Khoa học lớp 4 là không cần thiết. Như vậy hầu hết các giáo
viên được hỏi đều có nhận xét rằng áp dụng phương pháp dạy học tích cực
vào dạy học môn Khoa học lớp 4 tạo không khí học tập rất tích cực với cả
thầy và trò.
1.2.1.3. Đảm bảo dạy đủ thời gian dành cho 1 tiết học môn Khoa học
Nội dung phiếu điều tra: câu 3 (phụ lục 1)
Kết quả điều tra được chúng tôi tổng kết ở biểu đồ 3
0%
5%
10%
80%
90%
Thuyt
trình
Tho lun
nhóm
Dy hc
nêu vn
đ
Ph ng
pháp khác
Thường xuyên Hiếm khi
Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
Biểu đồ 4:Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học môn
Khoa học lớp 4
Biểu đồ cho thấy hiện nay các phương pháp dạy học được giáo viên sử
dụng chủ yếu vẫn là các phương pháp dạy học truyền thống. Phương pháp ưu
thế nhất vẫn là phương pháp thuyết trình (83% giáo viên được hỏi cho rằng
thường xuyên sử dụng phương pháp này) và 67% giáo viên thường xuyên sử
dụng phương pháp thảo luận nhóm. Các phương pháp dạy học hiện đại như:
18
dạy học theo dự án, dạy học nêu vấn đề, thực hành thí nghiệm giáo viên sử
dụng ở mức hạn chế (0% giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp này).
1.2.2. Phân tích thực trạng
Qua điều tra thực trạng dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học cho
thấy hầu hết giáo viên đều nhận thấy môn Khoa học là môn học quan trọng,
thiết thực, cung cấp cho học sinh những kiến thức hết sức cơ bản về con
người và sức khỏe, vật chất và năng lượng, thực vật và động vật. Những kiến
kiên trì xây dựng cho mình một phương pháp học tập chủ động một cách vừa
sức từ thấp đến cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có cả sự hợp
tác của cả thầy và trò, sự hợp tác nhịp nhàng giữa hoạt động dạy với hoạt
động học thì mới thành công. Như vậy việc dùng thuật ngữ “dạy học và tích
cực” chỉ là để phân biệt với “dạy và học thụ động”.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học – đối tượng của hoạt
động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các
hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám
phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu tiếp thu những
tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời
sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải
quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kỹ
năng mới vừa nắm được phương pháp làm ra kiến thức, kỹ năng đó, không
rập khuôn theo những khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng
sáng tạo. Vì thế cần phải dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh.
1.2.2.2. Khó khăn của việc dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh.
20
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi giáo viên phải có năng
lực thiết kế giáo án, giáo viên phải đầu tư công sức, thời gian nhiều so với
kiểu dạy và học thụ động. Giáo viên phải có năng lực tổ chức tiết học từ dạy
và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không chỉ đóng vai trò
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế tổ
chức hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ.
Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu, rộng, có trình độ sư phạm
lành nghề mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều
khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
Về phía học sinh vẫn quen với lối thầy giảng trò ghi, vốn sống của các
22 Chương 2: DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
2.1. Các nguyên tắc khi dạy học môn Khoa học lớp 4 theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Đảm bảo tính khoa học trong dạy học môn Khoa học lớp 4 là đảm bảo
dạy đúng, dạy đủ những tri thức quy định trong chương trình sách giáo khoa,
là đảm bảo logic chặt chẽ, phân bố thời gian hợp lý.
Thực hiện bài giảng đảm bảo học sinh và giáo viên phải nắm chắc
các hoạt động hăng hái, nhiệt tình.
Tính tích cực được đánh giá ở việc học sinh trực tiếp tham gia vào các
hoạt động thực hành, thảo luận, nghiên cứu tìm hiểu nội dung bài học theo
hướng nghiêm túc và hiệu quả. Chúng xây dựng các khối kiến thức cần đạt
với tư cách là tác giả, tự mình chiếm lĩnh tri thức.
Tính độc lập nhận thức của học sinh thể hiện từ các tình huống có vấn
đề, các em nảy sinh nhu cầu giải quyết vấn đề, tìm ra các ý tưởng phục vụ cho
nội dung bài học. Các em lập luận bảo vệ ý kiến của mình, biết thừa nhận,
làm việc cho mục đích chung. Các em có năng lực hoạt động nhóm, tự điều
khiển các hoạt động của mình mang lại kinh nghiệm cho bản thân.
Ba phẩm chất trên có liên quan chặt chẽ với nhau. Các phẩm chất ấy
được hình thành và phát triển dưới vai trò chủ đạo của giáo viên. Giáo viên là
người hướng dẫn, chỉ đạo trong suốt quá trình học sinh tiến hành các nhiệm
vụ học tập. Chính vì vậy khi tổ chức cho học sinh trao đổi, làm thí nghiệm,
24
thảo luận… giáo viên theo dõi các thao tác của từng nhóm học sinh để uốn
nắn, sửa chữa những sai sót cần thiết nhưng không làm thay học sinh. Giáo
viên cổ vũ học sinh nêu vấn đề, đưa ra những ý kiến bình luận tạo điều kiện
cho học sinh tự chủ.
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa
sức riêng
Dạy học vừa sức nghĩa là những yêu cầu và nhiệm vụ mà giáo viên đề
ra học sinh đều có thể thực hiện được với sự nỗ lực cao nhất về mặt trí tuệ và
thể lực. Nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên khi dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh, giáo viên phải chú ý đến trình độ của tất cả học
sinh và trình độ riêng của mỗi đối tượng học sinh. Trình độ chung là trình độ
của cả lớp (tiếp thu được tất cả các đơn vị kiến thức cơ bản của bài), trình độ
riêng bao gồm trình độ khá, giỏi (có khả năng tiếp thu kiến thức cơ bản một
cách nhanh chóng, mở rộng kiếm thức vượt ra ngoài bài học). Trên cơ sở đó
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim hình thức dạy học phân hóa có thể thực
hiện theo hai hướng: phân hóa nội tại và phân hóa về tổ chức.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu, dạy học phân hóa bao gồm những hình
thức chủ yếu sau: hình thức dạy học phân ban, hình thức dạy học tự chọn,
hình thức dạy học phân ban kết hợp với dạy học tự chọn.
Từ những quan điểm về phân hóa, dạy học phân hóa trên đây có thể đi
đến kết luận về phương pháp dạy học phân hóa như sau: Dạy học phân hóa là
phương pháp dạy học đi sâu về cá thể hóa, đối tượng hóa, đối xử cá biệt theo
năng lực nhận thức của học sinh. Giáo viên lựa chọn nội dung, áp dụng các
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng học
sinh trong điều kiện toàn lớp, trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm của từng học