Khảo sát khả năng nhận diện, hiểu biết ý nghĩa và giải nghĩa từ ngữ của học sinh tiểu học (KL03771) - Pdf 29

1

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa giáo dục Tiểu học Nguyễn Thị Nhung Đề tài: Khả sát khả năng nhận diện, hiểu biết ý
nghĩa và giải nghĩa từ ngữ của học sinh Tiểu học Người hướng dẫn: Th.s Lê Bá Miên

Hà Nội, Tháng 05 năm 2011
2LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “khảo sát khả năng nhận diện, hiểu biết

Sinh viên
Nguyễn Thị Nhung 4 MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………… 1
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………… 3
3. Mục đích yêu cầu……………………………………………………. 5
3.1. Mục đích…………………………………………………………… 5
3.2. Yêu cầu……………………………………………………………. 5


6PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Bậc Tiểu học là bậc nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy,
các môn học ở bậc Tiểu học ngoài việc cung cấp tri thức thì cần chú trọng hình
thành cho học sinh các kỹ năng học tập. Cùng với các môn học Toán, Tự nhiên –
Xã hội,…, môn Tiếng Việt chú trọng hình thành, rèn luyện cho học sinh các kỹ
năng sử dụng tiếng việt, phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp trong cuộc
sống hàng ngày.
Từ vựng – ngữ nghĩa là một bình diện của ngôn ngữ bên cạnh những bình
diện khác như ngữ pháp, ngữ âm, phong cách,… Dạy từ ngữ là một hoạt động
không thể thiếu trong chương trình Tiếng Việt ở phổ thông nói chung và chương
trình Tiếng Việt bậc Tiểu học nói riêng. Mục tiêu đầu tiên của môn Tiếng Việt
trong chương trình mới (Sau năm 2000) là: “Hình thành và phát triển ở học sinh
các kỹ năng sử dụng tiếng việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong
môi trường hoạt động lứa tuổi”. Điều này có nghĩa là chương trình Tiếng Việt
Tiểu học giúp các em mở rộng và phát triển vốn từ, làm cho các em hiểu được
nghĩa của các từ cụ thể, từ đó vận dụng vào giao tiếp và học tập.
Về từ ngữ, các tác giả cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” khẳng
định: “Từ vựng là một trong các bộ phận của hệ thống ngôn ngữ, thiếu từ vựng

Việt và các môn học khác.
Với những lí do thiết thực trên đây chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu
đề tài “Khảo sát khả năng nhận diện, hiểu biết ý nghĩa và giải nghĩa từ ngữ của
học sinh Tiểu học” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Việc giải nghĩa từ không chỉ sử dụng chủ yếu trong môn Tiếng Việt, đặc
biệt phân môn Luyện từ và câu mà còn được sử dụng trong các môn học khác
nữa, nó được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước để tâm nghiên cứu. Sau
đây chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề
này :
Tác giả Đỗ Hữu Châu với cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng việt” đã viết về
từ vựng ở tiếng việt với các loại từ: Từ Thuần việt, từ Hán việt, từ gốc Ấn – Âu,
từ hỗn chủng. Về nghĩa thì cuốn sách này đề cập hiện tượng đa nghĩa, hiện tượng
đồng âm, hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, hiện tượng từ tương tự. Theo tác giả
Đỗ Hữu Châu thì: “Người ta chia hệ thống từ vựng thành những tập hợp từ vựng
có sự đồng nhất ngữ nghĩa xét theo một phương diện nào đấy để phát hiện ra tính
hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa – đó là trường từ
vựng – ngữ nghĩa”. Bên cạnh đó, Đỗ Hữu Châu đã dành riêng chương XVII, đặc
biệt từ trang 273 đến trang 279 để nói về “giải nghĩa từ”. Ông còn cho rằng:
“Dạy từ không chỉ thu hẹp trong việc giải nghĩa từ, mặc dù đó là việc then chốt”.
Tác giả đưa ra 3 cách giải nghĩa biểu niệm đó là giải nghĩa theo cách định nghĩa,
khái niệm. Giải nghĩa theo lối so sánh từ đồng nghĩa, trái nghĩa và giải nghĩa
theo cách miêu tả.
9

Tiếp tục tìm hiểu về ngữ nghĩa, nghĩa của từ thì hai tác giả Vũ Đức
Nghiệu và Nguyễn Văn Hiệp với cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” gồm 18
chương, trong đó nội dung về ngữ nghĩa, nghĩa của từ và nghĩa của câu được đề
cập trong hai chương lớn là chương XV và XVI.
Nhóm tác giả Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga trong cuốn “Phương pháp

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm 3 mục đích cơ bản sau :
Thứ nhất: Muốn tìm hiểu được khả năng giải nghĩa từ của học sinh Tiểu học
trước hết phải tìm hiểu khả năng nhận diện, hiểu nghĩa của từ của học sinh Tiểu học.
Thứ hai: Tìm hiểu khả năng giải nghĩa từ của học sinh Tiểu học.
Thứ ba: Trên cơ sở thực tế về khả năng nhận diện, hiểu nghĩa và giải nghĩa
từ của học sinh Tiểu học lớp 4, 5 chúng tôi đề ra những phương pháp cụ thể
nhằm giúp học sinh nhận diện, hiểu nghĩa và biết cách giải nghĩa từ một cách tốt
hơn.
3.2. Yêu cầu :
Để thực hiện được những mục đích trên và đặc biệt giúp khóa luận này có
hiệu quả, người viết phải đảm bảo tốt những yêu cầu sau:
- Nắm được khái niệm nghĩa của từ, các loại nghĩa.
- Biết được các cách giải nghĩa từ ở Tiểu học.
11

- Một số dạng bài tập giải nghĩa từ phổ biến, hay gặp trong chương trình
Tiếng Việt Tiểu học sau năm 2000.
- Tiến hành điều tra, thống kê, mô tả khả năng nhận diện, hiểu nghĩa và giải
nghĩa từ của học sinh lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn .
- Đề xuất được một số phương pháp cụ thể giúp học sinh nhận diện, hiểu
nghĩa và giải nghĩa từ tốt hơn.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp
sau :
4.1. Phương pháp điều tra
Điều tra khả năng tìm hiểu nghĩa và giải nghĩa từ của học sinh dưới dạng
bài kiểm tra ( phiếu điều tra ).
4.2. Phương pháp thống kê
Tập hợp, thống kê kết quả điều tra.
4.3. Phương pháp phân tích – tổng hợp :
13

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Nghĩa của từ
1.1.1.1. Khái niệm nghĩa của từ
Để trả lời câu hỏi “nghĩa của từ là gì ?”, trước hết phải trở lại với bản chất
tín hiệu của từ. Từ là tín hiệu, nó phải “nói lên”, phải đại diện cho, phải được
người sử dụng quy chiếu về một cái gì đó. Từ có thể được phân loại theo nhiều
cách : phân loại dựa vào ý nghĩa khái quát và hoạt động ngữ pháp của từ - ta có
các lớp từ theo từ loại; phân loại dựa vào nghĩa - ta có các lớp từ theo chủ đề,
tiểu chủ đề; phân loại theo các lớp nghĩa - ta có các lớp từ như đồng nghĩa, trái
nghĩa ; phân loại theo nguồn gốc - ta có từ thuần Việt, từ Hán Việt; phân loại
theo phạm vi sử dụng - ta được từ địa phương, từ toàn dân. Mỗi khi học nghĩa
của một từ, chúng ta đều học bằng cách liên hệ với những cái mà từ đó chỉ ra
(trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc tính… mà từ đó làm tên
gọi cho nó). Mặt khác nghĩa của từ cũng được học thông qua hoặc liên quan tới
vô vàn tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó sử dụng. Nghĩa của từ chính là
nội dung tư tưởng gợi ra ở trong từ.
Trong một đơn vị từ vựng người ta phân chia thành hai lớp nghĩa: Lớp
nghĩa bên ngoài (nghĩa liên hội) và lớp nghĩa bên trong (nghĩa cấu trúc, nghĩa
ngữ pháp).
Lớp nghĩa bên ngoài được hình thành trong mối quan hệ với xã hội, lịch
sử, dân tộc. thời đại và cá nhân người sử dụng ngôn ngữ. Cụ thể mỗi từ khi đưa
vào sử dụng thì trong quá trình sử dụng ấy đã hình thành một lớp nghĩa bao

Khi nghiên cứu nghĩa biểu vật của từ phải đặt từ trong mối liên hệ với
thực tế khách quan. Bởi vì đó là những “mẩu” , những “mảnh” , những “đoạn
cắt” của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế khách quan, giữa từ với
thực tế khách quan ít có sự tương ứng 1 – 1, cùng một sự vật nhưng có rất nhiều
tên gọi hoặc cùng một từ nhưng chỉ nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau.
Các từ trong Tiếng Việt có từ có ý nghĩa biểu vật rộng, có từ có ý nghĩa
biểu vật hẹp. Những từ có ý nghĩa biểu vật rộng là những từ có ý nghĩa khái quát
và có thể gọi tên được nhiều sự vật, hiện tượng đó là những từ đơn âm tiết, từ
ghép (nhà cửa, ruộng nương ) , láy cá thể (máy móc, chim chóc, tiệc tùng…).
Những từ mang ý nghĩa biểu vật hẹp là những từ chỉ gọi tên được một hay một
số ít các sự vật, hiện tượng, đó là các từ ghép phân nghĩa (xe đạp, xe máy…), láy
sắc thái hóa (xanh xao, vàng vọt ).
b. Nghĩa biểu niệm :
Nghĩa biểu niệm là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm). Cái ý đó
người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của
biểu vật và trong ý thức con người).
Nghĩa biểu niệm bắt nguồn từ chức năng biểu niệm của từ. Nghĩa biểu
niệm là nghĩa biểu thị khái niệm về sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan.
Mỗi sự vật, hiện tượng được nhận thức bằng tư duy thông qua những dấu hiệu
của nó và được phản ánh bằng ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật (được gọi
tên), từ nghĩa biểu vật sẽ có một nghĩa biểu niệm tương ứng. Khi nghiên cứu
16

nghĩa biểu niệm phải đặt từ trong mối liên hệ với các dấu hiệu của khái niệm.
Như vậy gọi tên theo lối biểu niệm là gọi tên có lý do.
Ví dụ : Sự vật có mặt phẳng, làm bằng nguyên liệu rắn, có chân, dùng để
viết là cái bàn.
Mỗi dấu hiệu được đưa vào nghĩa biểu niệm là một nét nghĩa. Ý nghĩa
biểu niệm là tập hợp một số nét nghĩa.
Ý nghĩa biểu niệm và khái niệm có quan hệ với nhau nhưng không phải

danh thông thường. Muốn tìm hiểu ý nghĩa sắc thái hóa của những từ định danh
thông thường thì phải đặt nó trong mối quan hệ với dãy đồng nghĩa để ta so sánh
từ này với từ kia, xét nó ở mức độ nào. Ví dụ : Dãy đồng nghĩa : Đi, chuồn,
phắn, lặn,…
Như vậy, nghĩa của từ có 3 thành phần nghĩa: Nghĩa biểu vật gọi tên sự
vật bên ngoài (khách quan), cụ thể; nghĩa biểu niệm chỉ ra khái niệm bên trong
(bản chất), trừu tượng; nghĩa biểu thái chỉ ý nghĩa đi kèm thái độ, cảm xúc của
người dùng. Cả ba nghĩa đều quan trọng, không có nghĩa nào quan trọng hơn
nghĩa nào, nó là ba mặt của một vấn đề, có vai trò như nhau và liên hệ với nhau.
1.1.1.3. Quan niệm về nghĩa của từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học
Khi nói về nghĩa của từ các tác giả sách giáo khoa Tiểu học đưa ra các loại
nghĩa trong từ nhiều nghĩa :
18

“Trong tiếng nói, mỗi từ bao giờ cũng có một nghĩa chính được gọi là
nghĩa đen… Mỗi từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa phụ. Nghĩa phụ được hiểu
rộng ra từ nghĩa đen, thường được gọi là nghĩa bóng”.
Như vậy sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học đề cập đến hai thành phần
nghĩa : nghĩa cơ sở hay còn gọi là nghĩa đen (nghĩa chính) và nghĩa phái sinh từ
nghĩa gốc, nó được chi phối bởi các yếu tố xung quanh, còn gọi là nghĩa bóng
(nghĩa phụ).
1.1.2. Một số biện pháp giải nghĩa từ ở Tiểu học
Để dạy nghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa
phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh.
Ở Tiểu học, người ta thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau:
1.1.2.1. Giải nghĩa bằng trực quan :
Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật thật, tranh ảnh, sơ
đồ để giải nghĩa từ. Lúc này, vật thật, tranh vẽ, biểu bảng, sơ đồ được dùng để
đại diện cho nghĩa của từ.
Ví dụ : Giáo viên đưa lá tía tô cho học sinh xem và nói: “Đây là lá

Yêu cầu của các bài tập này là dùng những từ cùng nghĩa hoặc có nghĩa
trái ngược với nghĩa của từ cần giải nghĩa làm phương tiện để giải nghĩa từ.
Những từ đồng nghĩa được dùng để giải nghĩa phải là những từ gần gũi, quen
thuộc với học sinh. Loại bài tập này khơi gợi được sự liên tưởng tương đồng và
20

khác biệt để kích thích học sinh xác lập được nghĩa của từ, đồng thời cũng giúp
học sinh mở rộng, phát triển vốn từ cũng như góp phần hình thành khái niệm từ
đồng nghĩa, trái nghĩa.
Tuy nhiên cần lưu ý là khác với loại bài tập giải nghĩa từ bằng định nghĩa,
nhiều khi đáp án của bài tập này có nhiều từ (nhiều đáp án).
1.1.2.4. Giải nghĩa bằng cách phân tích từ thành các thành tố (tiếng) và giải
nghĩa từng thành tố này.
Ví dụ : Tổ quốc là từ ghép gốc Hán. Tổ là ông cha ta từ xa xưa, quốc là
nước, đất nước. Cách giải nghĩa này có ưu thế đặc biệt khi giải nghĩa từ Hán
Việt. Sách giáo khoa không có những bài tập yêu cầu giải nghĩa theo cách phân
tích từng thành tố nhưng ý thức được việc nắm nghĩa của các tiếng sẽ làm tăng
nhanh chóng vốn từ hơn là nắm nghĩa của từng từ nên trong sách giáo khoa có
rất nhiều bài tập yêu cầu nêu nghĩa của tiếng trong từ và dùng nghĩa của tiếng có
trong từ để làm căn cứ phân loại các từ đó. Chúng ta xếp những bài tập này vào
nhóm bài tập hệ thống hoá vốn từ và sẽ trình bày sau.
1.1.2.5. Giải nghĩa bằng định nghĩa :
Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa phổ biến nhất trong
SGK. Đây là biện pháp giải nghĩa bằng cách nêu nội dung nghĩa (tập hợp các nét
nghĩa) bằng một định nghĩa.
Ví dụ : “Tự trọng là coi trọng và gìn giữ phẩm giá của mình” (Tiếng Việt
4 - tập 1 - tr 49)
Giải nghĩa bằng tập hợp các nét nghĩa là cách dạy nghĩa đầy đủ nhất
nhưng là một yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học. Vì vậy, các dạng bài tập giải
21

(Tiếng Việt 5 - tập 2)
Ví dụ 3 : Em hiểu các thành ngữ dưới đây như thế nào?
a. Cầu được ước thấy. b. Ước sao được vậy.
c. Ước của trái mùa. d. Đứng núi này trông núi nọ.
(Tiếng Việt 4 - tập 1 – tr 88)
Ví dụ 4 : Mỗi câu tục ngữ sau đây khuyên người ta điều gì?
a. Lửa thử vàng, gian nan thử sức.
b. Nước lã mà vã nên hồ
Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.
c. Có vất vả mới thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.
(Tiếng Việt 4 - tập 1 - tr 118 - 119)
Đây là dạng bài tập khó đối với học sinh Tiểu học.Để thực hiện loại bài
tập này, HS phải có kĩ năng định nghĩa.
Giải nghĩa bằng định nghĩa sẽ làm cho ngôn ngữ và tư duy của học sinh
trở nên rõ ràng và sâu sắc hơn. Càng bắt đầu dạy cho học sinh định nghĩa từ sớm
bao nhiêu thì các em càng biết tư duy chính xác và nói năng đúng đắn sớm bấy
nhiêu. Khi định nghĩa từ, cần bảo đảm các yêu cầu sau : nghĩa của từ được định
nghĩa cần được rút ra trên những nghĩa đơn giản hơn để tránh sự luẩn quẩn trong
định nghĩa. Các thành tố nghĩa của từ được định nghĩa cần đầy đủ nhưng tổ hợp
các thàn

Giải nghĩa từ là một biện pháp nêu rõ những đặc tính của từ. Trong khi
23

giải nghĩa, cần tách các dấu hiệu mà học sinh sẽ chú ý đến khi làm quen với từ.
Ở Tiểu học, một từ nhiều khi được dạy nghĩa nhiều lần nên lần đầu có thể không
cần khám phá hết nội dung của nó, những lần sau sẽ mở ra tất cả nội dung của
từ.
Việc phân chia thành các biện pháp và các bài tập giải nghĩa như trên chỉ

thì hiện nay, khi xây dựng sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, các nhà biên
soạn đều xác định phạm vi vốn từ tối thiểu về thế giới xung quanh, công việc của
học sinh Vì thế, những từ ngữ được dạy ở bậc Tiểu học gắn liền với thiên
nhiên, đất nước, con người giúp làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học
sinh, giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các
em biết yêu và ghét.
Xét về mặt kết cấu và phân bố chương trình, trong tổng số 175 tuần học
của chương trình Tiếng Việt tiểu học mới, từ ngữ hiện vẫn chỉ được dạy tích hợp
qua các phân môn của Tiếng Việt mà chưa có giờ riêng. Chương trình 165 tuần
và chương trình 100 tuần học trước đây thì đã có phân môn Từ ngữ, có giờ học
từ ngữ riêng, bắt đầu từ lớp 2. Thời lượng giảng dạy từ ngữ trong tổng số quỹ
thời gian của năm học ở cả hai chương trình cũ và mới là vừa phải. Tuy nhiên,
tổng số thời gian dành riêng cho việc giải nghĩa từ (chỉ xét qua một phân môn
tiêu biểu là Từ ngữ trước đây và Luyện từ và câu hiện nay) vẫn còn quá ít. Bởi
lẽ, nếu "phạm" phải lượng thời gian chuẩn thì các giờ học không đảm bảo, dễ
25

dẫn tới tình trạng chồng chéo; ngược lại, nếu chú trọng đến việc giải nghĩa từ,
lượng thời gian như vậy so với nhu cầu cần thiết dành cho việc này là khá khiêm
tốn. Theo quy định mới trong năm học 2008 - 2009 của Bộ Giáo dục - Đào tạo
đối với bậc tiểu học, thời lượng tối đa các môn học chính khóa không vượt quá
25 tiết/tuần. Như vậy, thời gian, tâm huyết dành cho dạy học giải nghĩa từ trong
các phân môn của Tiếng Việt chắc chắn sẽ càng ít hơn.
Thời gian gần đây, nhiều nhà báo, những người vốn nặng lòng với sự
nghiệp phát triển giáo dục Tiểu học đã có những nhận định gai góc về tình trạng
trồi sụt năng lực ngôn ngữ, năng lực tiếng việt của học sinh. Như trên đã chỉ ra,
lượng thời gian thực học giải nghĩa từ là rất hạn chế. Trong khi đó, giải nghĩa từ
giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức cho học sinh, giúp cho trẻ biết đó là "cái gì"
trước khi tìm hiểu chúng ra sao, cấu trúc, quy luật thế nào. Thực tế cho thấy,
không chỉ trong dạy học các phân môn của Tiếng Việt mà trong bất cứ tiết học,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status