khảo sát khả năng nhân sinh khối và đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh của chủng nấm trichoderma sp - Pdf 24

- 1 -

MỤC LỤC
Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN 2
1.1. Bệnh cây và những đặc điểm sinh học của nấm gây bệnh cây 2
1.1.1. Giới thiệu về bệnh cây 2
1.1.1.1. Khái niệm 2
1.1.1.2. Phân loại 2
1.1.1.3. Các giai đoạn phát triển bệnh 2
1.1.1.4. Bệnh truyền nhiễm và những điều kiện
cơ bản quy định sự phát sinh bệnh 3
1.1.2. Nấm gây bệnh hại cây trồng 4
1.1.2.1. Đặc điểm chung của nấm 4
1.1.2.2. Hình thái sợi nấm 4
1.1.2.3. Biến thái của nấm 6
1.1.2.4. Dinh dưỡng ký sinh và trao đổi chất của nấm 6
1.1.2.5. Chu ký phát triển của nấm 8
1.1.2.6. Quá trình xâm nhiễm và lan truyền của nấm 10
1.1.2.7. Cấu trúc vách tế bào nấm bệnh 11
1.1.3. Đặc điểm sinh học của một số loài nấm bệnh 12
1.1.3.1. Nấm Fusarium sp 12
1.1.3.2. Nấm Phytophthora sp 14
1.2. Giới thiệu về nấm Trichoderma sp. 15
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu về nấm Trichoderma 15
1.2.2. Tiềm năng sử dụng nấm Trichoderma trong đất 16
1.2.3. Đặc điểm của nấm Trichoderma sp. 17
1.2.3.1. Vị trí phân loại 17
1.2.3.2. Hình thái, sự sinh trưởng và

2.1.2.2. Thiết bị 31
2.1.3. Môi trường nuôi cấy 31
- 3 -

2.1.3.1. Môi trường PGA 31
2.1.3.2. Khoáng Crapek 32
2.1.3.3. Môi trường lên men xốp 32
2.2. Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1. Quan sát hình thái nấm 33
2.2.1.1. Quan sát hình thái đại thể 33
2.2.1.2. Quan sát hình thái vi thể 33
2.2.2. Phương pháp đối kháng trực tiếp 33
2.2.2.1. Nguyên tắc 33
2.2.2.2. Cách tiến hành 34
2.2.2.3. Thí nghiệm 34
2.2.2.4. Bố trí thí nghiệm 34
2.2.3. Phương pháp lên men xốp tạo chế phẩm Trichoderma 35
2.2.3.1. Mục đích 35
2.2.3.2. Tiến hành thực nghiệm trên môi trường lên men xốp 35
2.2.3.3. Cách tiến hành 36
2.2.4. Phương pháp đếm số lượng bào tử trên 1 gam chế phẩm 36
2.2.4.1. Nguyên tắc 36
2.2.4.2. Cách tiến hành 36
2.2.4.3. Đọc và tính toán kết quả 37
PHẦN 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 38
3.1. Hình thái nấm Trichoderma sp. 38
3.2. Khả năng đối kháng trực tiếp của nấm Trichoderma sp. 38
3.2.1. Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma
chủng T40 với nấm Phytophthora sp. 38
3.2.2. Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma

Hình 1.3: Nấm Phytophthora sp 14
- 5 -

Hình 1.4: Nấm Trichoderma sp 18
Hình 1.5: Nấm Trichoderma sp. quấn lấy sợi nấm gây bệnh 20
Hình 1.6: Cơ chế hoạt động của nấm Trichoderma sp. 21
Hình 2.1: Thí nghiệm đối chứng trực tiếp 35
Hình 2.2 : Phương pháp pha loãng mẫu theo dãy thập phân 38
Hình 3.1: Hình thái khuẩn lạc Trichoderma sp. (40X) 39
Hình 3.2 : Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma
chủng T40 với nấm Phytophthora 40
Hình 3.3: Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma
chủng T40 với nấm Fusarium 41
Hình 3.4: Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma
chủng T14 với nấm Phytophthora 43
Hình 3.5: Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma
chủng T14nấm Fusarium 44
Hình 3.6: Chế phẩm Trichoderma thô 45
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Đường kính (mm) khuẩn lạc nấm Trichoderma và nấm gây bệnh 44
Bảng 3.2: Số lượng bào tử Trichoderma trên môi trường nuôi cấy 45

- 6 -


thiết. Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “bước đầu khảo sát
khả năng nhân sinh khối và đánh giá hiệu quả phòng trừ nấm bệnh cùa một số
chủng nấm Trichoderma sp.”
PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. BỆNH CÂY VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM GÂY HẠI
CÂY TRỒNG
1.1.1. Giới thiệu về bệnh cây
1.1.1.1. Khái niệm
Bệnh cây là một động thái phức tạp, đặc trưng của một quá trình bệnh lý xảy ra
liên tục ở cây do các nhân tố sinh vật hoặc do các yếu tố môi trường gây ra. Nó dẫn
đến sự phá hủy chức năng sinh lý, cấu tạo, làm giảm sút năng suất, phẩm chất của
cây trồng trong điều kiện ngoại cảnh nhất định.
1.1.1.2. Phân loại
Chia các tác nhân gây bệnh thành 2 nhóm chính:
 Tác nhân phi vi sinh vật là những yếu tố tự nhiên, yếu tố điều kiện ngoại cảnh
bất lợi làm phát sinh quá trình bệnh lý ở cây gọi là bệnh không truyền nhiễm (bệnh
sinh lý).
 Tác nhân vi sinh vật là thể sống bao gồm các loại ký sinh vật nhỏ bé như
virus, vi khuẩn, dịch khuẩn bào, nấm, tuyến trùng và thực vật thượng đẳng ký sinh.
Những sinh vật này gây bệnh, gọi là bệnh truyền nhiễm.
1.1.1.3. Các giai đoạn phát triển bệnh
Trong những bệnh truyền nhiễm, hàng loạt các sự kiện rõ hay không rõ rệt xảy ra
dẫn đến sự tồn tại và phát triển của bệnh và mầm bệnh. Chuỗi các sự kiện này gọi là
chu kỳ bệnh. Các sự kiện chính trong chu kỳ bệnh gồm:
 Giai đoạn gây nhiễm: là cách ký sinh tiếp cận ký chủ. Lượng ký sinh tiếp xúc
và gây bệnh trên ký chủ là nguồn bệnh.
 Giai đoạn xâm nhập: các bào tử và trứng, hạt cần phải phát triển thành cơ thể
sinh dưỡng mới gây bệnh. Khi bào tử nảy mầm chúng sinh ra ống mầm, là phần đầu
- 8 -


- 9 -

 Cây trồng mẫn cảm với tác nhân gây bệnh. 1.1.2. Nấm gây bệnh hại cây trồng
Nấm (từ La Tinh là Fungi, từ Hy Lạp là Mycota), có nhiều chức năng sinh học
hiện nay còn chưa biết hết. Nấm có hơn 20 vạn loài đã được ghi nhận, sống ở khắp
mọi nơi trên trái đất; trong đó có trên 10 vạn loài nấm hoại sinh, hàng trăm loài nấm
sống ký sinh trên động vật và cơ thể con người. Hơn 1 vạn loài nấm gây bệnh hại
thực vật và trên 80% số bệnh hại cây trồng là do nấm gây ra với thành phần loài rất
phong phú, đa dạng (Vũ Triệu Mân, 2007).
1.1.2.1. Đặc điểm chung của nấm
 Nấm là một loại vi sinh vật, kích thước bé nhỏ (đơn vị đo là micromet – µm).
 Tế bào nấm có nhân thật (có hạch nhân và màng nhân).
 Nấm không có diệp lục (Chlorophyll). Vì vậy chúng là cơ thể dị dưỡng, sống
ký sinh và có khả năng đồng hoá.
 Cơ quan sinh trưởng là sợi nấm (Hyphae) hầu hết có cấu tạo dạng sợi (đơn
hoặc đa bào) không di chuyển, nhiều sợi nấm hợp thành tản nấm (Mycelium). Chỉ trừ
một vài loại nấm cổ sinh có dạng nguyên sinh bào (Plasmodium).
 Nấm sinh sản bằng bào tử (Spore). Bào tử nấm là những đơn vị cá thể bé nhỏ,
chứa bộ genom của cơ thể sống (sợi nấm), có đầy đủ chất dinh dưỡng và có khả năng
phát triển hình thành một quần thể nấm mới. Bào tử thường có một, hai hoặc nhiều tế
bào thường không thể tự di chuyển (trừ bào tử động – Zoospore).
Từ các đặc tính cơ bản nói trên, trong nhiều năm qua có nhiều loại sinh vật sống
được xếp vào nấm trước đây đã được thay đổi. Một vài loài mốc nhầy có đặc điểm
giống nấm, đặc biệt là phương thức dinh dưỡng và sinh sản bằng bào tử, hiện nay
chúng được coi là sinh vật tiền nhân (Prokaryote). Vì vậy, trong danh pháp của nấm
- 10 -


Bình thường sợi nấm làm nhiệm vụ dinh dưỡng sinh trưởng song trong những
trường hợp đặc biệt như gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi (nhiệt độ quá cao, quá thấp,
khô hạn, thiếu dinh dưỡng…), sợi nấm có thể thay đổi hình thái, cấu tạo để biến
thành các cấu trúc đặc biệt làm tăng khả năng chống chịu, bảo tồn của sợi nấm lâu
dài hơn trong các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh. Nấm thường có các dạng biến thái
chính như sau:
 Bó sợi (Rhizomorph) là hình thức biến thái đơn giản, bó sợi gồm nhiều sợi
nấm xếp song song với nhau tạo ra những bó sợi to nhỏ khác nhau, bên ngoài gồm
những tế bào có màu tương đối thẫm, vỏ dày.Ví dụ: Nấm mạng nhện hại cà phê.
 Hạch nấm (Sclerote) là hình thức biến thái phức tạp, nhiều sợi nấm đan kết
chặt chẽ, chằng chịt với nhau tạo thành những khối rắn chắc có kích thước, hình
dạng khác nhau, có khi nhỏ li ti như hạt cải, có loại hình bầu dục, hình cựa gà.
 Biến thành dạng rễ giả (Rhizoide): sợi nấm biến đổi thành dạng hình rễ cây
chỉ làm chức năng bám giữ trên bề mặt vật chủ.
 Vòi hút (Haustorium): ở một số loài nấm ký sinh chuyên tính, hệ sợi nằm trên
bề mặt tế bào hoặc phát triển trong gian bào có thể hình thành vòi hút xuyên qua
màng tế bào ký chủ đi vào nguyên sinh chất để hút các chất dinh dưỡng trong tế bào.
- 12 -

Vòi hút của nấm thường có nhiều hình dạng khác nhau: hình dùi trống, hình trụ ngắn
đâm nhánh giống chùm rễ, hình chiếc xẻng, hình bàn tay.
1.1.2.4. Dinh dưỡng ký sinh và trao đổi chất của nấm
Trao đổi chất là cơ sở của sự sống và sự phát triển của cơ thể nấm. Từ sợi nấm là
cơ quan sinh trưởng dinh dưỡng, chúng tiết ra các enzyme (ngoại enzyme), để phân
giải nguồn hợp chất hữu cơ phức tạp ở bên ngoài thành hợp chất đơn giản dễ hoà tan,
nhờ tính bán thấm chọn lọc của màng tế bào chất chúng hấp thụ các chất dinh dưỡng
có sẵn vào cơ thể.
Ví dụ: nấm hấp thụ đường glucose vào cơ thể, trước hết được chuyển thành dạng
ester metaphotphoric có khả năng hoà tan trong lipoit ở bề mặt tế bào chất của nấm
nhờ enzyme photphatase. Sau đó nhờ hệ thống nội men (nội enzyme). Nấm chế biến

, C
5
, tinh bột, axit hữu cơ và axit béo. Đa số các loại nấm sử
dụng tốt nhất đường glucose (C
6
).
 Nguồn đạm rất quan trọng song số lượng cần cho nấm ít hơn nguồn cacbon.
Một số loài nấm như: helminthosporium, colletotrichum và rhizoctonia có khả năng
khử đạm Nitrat thành NH
3
:
NO
3
 NO
2
 NH
4
OH  NH3
Nấm Pyricularia chỉ sử dụng đạm ở dạng amon.
 Một số nấm có thể tự tổng hợp Vitamin cần thiết cho cơ thể nếu không có
trong môi trường. Ví dụ: nấm Pythium, nấm Aspergillus nhưng cũng có loại nấm
không tự tạo được vitamin cần thiết cho sự sinh trưởng (nấm Phytophthora infestans
cần vitamin B
1
).
 Ngoài hệ thống enzyme, nhiều loại nấm còn sản sinh ra các độc tố khác nhau
trong quá trình dinh dưỡng ký sinh.
 Độc tố (Toxin): là những sản phẩm trao đổi chất của nấm có tác động làm tổn
thương hoạt động sống của tế bào thực vật ở một nồng độ rất thấp.
Căn cứ vào phổ tác động của độc tố nấm người ta thường phân thành 2 nhóm

tái xâm nhiễm và hữu tính (bảo tồn). Đây là chu kỳ phát triển hoàn toàn của nấm có
sơ đồ chung như sau:
Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển khác nhau và ảnh hưởng của các điều kiện địa
lý sinh thái mà trong chu kỳ phát triển nhiều loại nấm không thấy xuất hiện giai đoạn
hữu tính hoặc bỏ qua một giai đoạn phát triển nào đó gọi là chu kỳ phát triển không
hoàn toàn.
Chu kỳ phát triển của nấm có thể hoàn thành trên một loài cây ký chủ trong một
vụ, một năm (nấm sương mai) song có loại phải tiến hành trên cây ký chủ chính và
trên ký chủ trung gian (bệnh nấm gỉ sắt lúa mì).
Nắm được đặc điểm chu kỳ phát triển của nấm và các mặt biến động của nó có ý
nghĩa lớn làm cơ sở để hiểu rõ chu kỳ xâm nhiễm (chu kỳ bệnh) và tiến hành các
biện pháp phòng bệnh kịp thời, có hiệu quả.
Chu kỳ bệnh (còn gọi là chu kỳ xâm nhiễm): bao gồm tất cả các giai đoạn nấm
ký sinh bên trong ký chủ và giai đoạn không ký sinh ở bên ngoài ký chủ.
Chu kỳ bệnh là một chu kỳ bao gồm chu kỳ phát triển dinh dưỡng ký sinh và giai
đoạn bảo tồn của nấm, trong đó chu kỳ phát triển của nấm không chỉ phụ thuộc vào
- 15 -

đặc điểm sinh vật học của mỗi loại nấm mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu
tố sinh thái môi trường. Do vậy, chu kỳ bệnh của mỗi loại nấm có thể thay đổi trong
giai đoạn ký sinh hoặc giai đoạn bảo tồn ở mỗi vùng có điều kiện khí hậu và các yếu
tố sinh thái hoàn toàn khác nhau. Ở chu kỳ bệnh, giai đoạn ký sinh trong chu kỳ có
thể được lặp lại nhiều lần (tái xâm nhiễm) tuỳ thuộc vào đặc điểm và tốc độ sinh sản
nhiều thế hệ của ký sinh trong mùa, (vụ) sinh trưởng của cây ký chủ và các yếu tố
ngoại cảnh.
Nắm vững chu kỳ bệnh cụ thể có ý nghĩa lớn trong công tác phòng trừ bệnh nấm
đạt hiệu quả cao. Qua đó tìm được điểm yếu hoặc điểm quyết định để hình thành
bệnh trong chu kỳ và có thể lựa chọn biện pháp, thời điểm phòng trừ thích hợp nhất.
trên bề mặt, góc độ lá với thân cây,… đều có ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập qua
bề mặt tế bào ký chủ của tất cả các loại nấm gây bệnh trên cây.
Cơ chế bảo vệ của cây gồm nhiều phản ứng và những biến đổi của tế bào cây
chủ như: tahy đổi độ pH tế bào, sản sinh phytoalexin và các chất hóa học độc có tác
dụng kháng nấm như: Glycoankaloid, Tanin, Phenol, Hydroquinol, Anthocyanin,…
Các cơ chế bảo vệ chủ động của cây như phản ứng siêu nhạy, hiện tượng tự chết của
mô tế bào nhằm bao vây, cô lập các loại nấm ký sinh chuyên tính, như hiện tượng tạo
lớp bám, lớp vỏ bao, tầng rơi,… để tách biệt với nấm gây bệnh.
c. Giai đoạn phát triển bệnh
Là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn tiềm dục, kể từ khi đã hiện rõ triệu chứng
bên ngoài, bệnh tiếp tục phát triển cho đến khi kết thúc. Đây là thời gian kéo dài để
nấm sinh sản hình thành các đợt bào tử mới, phát tán lây lan tạo tiền đề cho các đợt
tái xâm nhiễm tiếp theo làm bệnh gia tăng, phát triển thành dịch trên đồng ruộng.
Lan truyền của nấm: trong tự nhiên nấm được lan truyền bằng nhiều hình thức
khác nhau. Sự lan truyền của bào tử nấm có thể thực hiện một cách chủ động hay thụ
động tùy thuộc vào đặc điểm sinh vật học của mỗi loài nấm và chịu ảnh hưởng lớn
của các yếu tố môi trường.
- 17 -

Bào tử nấm lan truyền chủ động: bào tử hữu tính từ quả thể đĩa, quả thể bầu tự
phóng ra ngoài không khí.
Bào tử nấm lan truyền thụ động: mưa và tưới nước làm bào tử bị bắn tung tóe
(bào tử nấm Collectotrichum); gió, bão thổi bào tử nấm đi xa (bào tử nấm phấn
trắng); côn trùng mang truyền bào tử (ví dụ: bọ cánh cứng Carpophilus spp.); các
yếu tố lan truyền khác (tàn dư, đất, hạt giống, cây giống, vật liệu làm giốn, động vật
và con người).
1.1.2.7. Cấu trúc vách tế bào nấm bệnh
Thành tế bào nấm bệnh dày khoảng 0,2µm, có tính phản quang rất mạnh nên có
thể phân biệt rõ ràng với kính hiển vi quang học. Nhiều công trình nghiên cứu đã
chứng minh cấu tạo thành tế bào vi nấm vừa có cấu trúc bảng mỏng vừa có cấu trúc

cây chết trong vài ngày. Hiện tượng hóa nâu ở phần ngoài của thân (triệu chứng hóa
nâu mạch dẫn) thường thể hiện rõ rệt.
 Trên bầu bí: cây bệnh có thể héo và chết rất nhanh khi thời tiết nóng, đặc biệt
là vào cuối vụ khi cây có nhiều quả. Hiện tượng vàng lá xảy ra ở một số giống dưới
các điều kiện mát hơn, ít stress hơn. Hóa nâu rễ và thân có thể không biểu hiện rõ rệt
cho đến khi héo trầm trọng xảy ra.
c. Cơ chế xâm nhiễm của nấm Fusarium sp.
Sợi nấm và bào tử vô tính nảy mầm trong tàn dư cây bệnh và đất xâm nhiễm vào
rễ non còn non hơn và lan dần vào các mạch xylem. Nấm bệnh sau đó sẽ phát triển
trong mạch xylem và lan lên hệ thống mạch dẫn trong thân. Quá trình này gây phản
ứng của cây, tạo ra các hợp chất phenol và thể sần có màu nâu. Những hợp chất này
gây hiện tượng hóa nâu của mạch dẫn, một dấu hiệu dễ nhận thấy của bệnh héo khi
cắt ngang thân. Hiện tượng tắc mạch xylem làm giảm lượng nước di chuyển lên cây,
khiến cho cây bệnh bị héo rồi chết.
- 19 -

Bệnh héo do Fusarium sp. thường liên hệ với tuyến trùng nốt sưng. Nấm
Fusarium sp. xâm nhiễm vào cây qua vết thương do tuyến trùng gây ra.
d. Phòng trừ
Các bệnh héo do Fusarium sp. rất khó phòng trừ do bào tử hậu tồn tại qua thời
gian dài trong đất. Luân canh các cây trồng có khả năng kháng bệnh ít nhất 2 năm
trước khi trồng lại các cây trồng mẫn cảm có thể giúp làm giảm nguồn bệnh. Tuy
nhiên, loại nấm này có thể tồn tại bằng cách xâm nhiễm vào vỏ rễ các cây trồng
không phải là ký chủ và không biểu hiện triệu chứng. Vì vậy rất khó quản lý được sự
tồn tại của chúng trong đất.
Có những giống cây trồng có khả năng kháng bệnh héo do Fusarium sp. Tuy
nhiên, một giống kháng bệnh không có nghĩa là có khả năng kháng với tất cả các
chủng của một dạng loài nào đó. Hiện chưa có thuốc trừ nấm hữu hiệu để phòng trừ
các bệnh do nấm Fusarium sp. gây nên, có thể sử dụng nấm đối kháng làm tác nhân
phòng trừ nấm bệnh.

b. Triệu chứng bệnh
Cây bị bệnh chết dần từ ngọn cây và có thể có triệu chứng thối rễ và nứt ở phần
thân gần mặt đất. Các cây rau bị thối rễ, như ớt, trở nên còi cọc và héo. Cây thường
chết nhanh sau khi các triệu chứng héo trầm trọng xảy ra.
c. Cơ chế xâm nhiễm
Cách thức xâm nhiễm tùy thuộc từng loài. Tuy nhiên, bào tử trứng, bọc bào tử
động và du động bào tử tạo điều kiện cho việc xâm nhiễm vào các bộ phận khác của
cây. Mưa tạt phân tán bào tử lên bộ lá của cây vì vậy quá trình xâm nhiễm có thể bắt
đầu từ thân, lá và quả, tùy thuộc loài Phytophthora sp. và ký chủ. Côn trùng bò hoặc
bay cũng có thể mang nấm từ đất tới các bộ phận phía trên của cây.
d. Phòng trừ
- 21 -

Để phòng trừ thành công các bệnh do nấm Phytophthora sp. thường phải có sự
kết hợp các biện pháp phòng trừ khác nhau: thoáng nước tốt, dùng giống sạch bệnh,
ngăn chặn Phytophthora sp., tiêm phosphonate vào cây, nhúng rễ cây con vào thuốc
trước khi trồng để giảm số cây con chết, sử dụng nấm đối kháng.
1.2. GIỚI THIỆU VỀ NẤM ĐỐI KHÁNG Trichoderma sp.
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu nấm Trichoderma sp.
Lịch sử nghiên cứu về Trichoderma sp. đã được phát hiện ra gần 200 năm trước
nhưng không được chú ý đến cho đến khi Thế Chiến lần thứ II xảy ra Trichoderma
sp. được phát hiện ra và hiện nay loài đó được biết là Trichoderma viride.
Hơn 150 năm sau, Trichoderma sp. chỉ là đối tượng của vài nhà phân loại nấm
học nhưng không hấp dẫn được mối quan tâm của các ngành khoa học khác. Tình
hình thay đổi trong Thế Chiến lần thứ II, khi quân đội Mỹ cảnh báo về hiện tượng
các trang bị quân sự bị mục ở xứ nhiệt đới, đặc biệt là ở Nam Thái Bình Dương.
Chương trình điều tra của quân đội Mỹ chỉ ra rằng Trichoderma "viride" mã số QM
6a là loài nấm phân hủy cellulose ở khu vực này. Sự nhầm lẫn này kéo dài suốt 20
năm cho đến khi chủng Trichoderma QM 6a này được nhận diện và đặt tên lại là
Trichoderma reesei để tỏ lòng tôn kính người đã khám phá ra loài này là Elwyn T.

solani của chủng nấm T. hamatum phân lập từ đất vườn ươm ở California, Chet và
Baker (1980) cho biết, và T. harziannum được phân lập từ đất tại Mexico có khả
năng ngăn chặn nhiều loại nấm đất (Lumsden, 1977) nấm R. solani không bị tiêu diệt
bởi nhiệt độ và tia phóng xạ gamma nhưng bị diệt trên trên môi trường chứa nấm T.
harziannum (Nelson và ctv., 1983), đây là vai trò chính của Trichoderma sp. trong
việc phòng trừ sinh học.
Trichoderma sp. có khả năng khống chế các loại nấm gây bệnh trong đất như R.
solani, Phythium spp. theo Baker (1974, 1980), Barnett và ctv (1974), Cook và Baker
(1983).
1.2.3. Đặc điểm của nấm Trichoderma sp.
1.2.3.1. Vị trí phân loại
- 23 -

Trichoderma sp. là loại nấm phổ biến trong tự nhiên, tuy nhiên hệ thống phân
loại của chúng chưa rõ ràng và khá phức tạp, do đó có nhiều ý kiến khác nhau đưa ra
khi phân loại giống nấm này.
Theo Rifai (1996), H.Barnett và Barry Bhunter (1972), Trichoderma sp. thuộc
loại nấm toàn Deuteromycetes (Fungi Inperfect). Nhóm nấm bất toàn là những nấm
sinh sản bằng bào tử bởi những giá bào tử có hình dạng khác nhau xếp thành chuỗi
(đính bào tử) ở đầu ngọn có cuống bào tử, thứ tự phân loại như sau:
Ngành: Ascomycota
Lớp: Deuteromycetes
Bộ: Moniliaceae
Họ: Moniliaceae
Hai nhà khoa học Brazil là Esposito và Manuela da silva cho biết Trichoedrma
họ Hypocreaceea, lớp nấm túi Ascomycetes, cũng theo hai tác giả này, những loài
Trichoderma được phân thành 5 nhóm: Trichoderma, Longibrachiatum,
Satunisporum, Pachibarium, Hypocrenum.
1.2.3.2. Hình thái, sự sinh trưởng và sự hình thành bào tử của nấm Trichoderma
 Đặc điểm hình thái: Trichoderma sp. là một loại nấm đất, phát triển tốt trên

độ CO
2
cao trong môi trường kiềm. Điều này có thể giải thích vì sao Trichoderma sp.
thường sống trong môi trường đất phèn, ẩm ướt, ít hiện diện trên đất kiềm. Vì thế
CO
2
có ảnh hưởng đến sinh trưởng của Trichoderma sp. tại độ pH có giá trị cao.
 Sự hình thành bào tử trên môi trường: phần lớn các loại Trichoderma sp. có
cảm quang, dễ nảy mầm ở nhiều điều kiện môi trường tự nhiên và nhân tạo dưới điều
kiện tối sáng lẫn lộn, hay bào tử có thể xuất hiện trong điều kiện sáng. Nhiều tác giả
- 25 -

công bố, Trichoderma sp. không hình thành bào tử ở bước sóng dưới 254 nm hoặc
trên 1.100 nm và hình thành nhiều bào tử ở bước sóng 380 – 440 nm. Các hỗn hợp
như azaguanie, 5 – fluororacil, actiomycin D, cycloheximide, phennethyl alcohol và
ethidium bromide ngăn cản sự hình thành các bào tử hậu, làm tăng khả năng phòng
trừ sinh học của các loài nấm T. hamatum, T. viride, T. virens.
1.2.3.3. Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến nấm Trichoderma sp.
 Nhiệt độ: Trichoderma sp. có thể phát triển trong khoảng nhiệt độ khá rộng từ
15 đến 35
0
C; trong đó, ở nhiệt độ từ 15 đến 20
0
C Trichoderma sp. chậm hình thành
bào tử. Nhiệt độ 25 – 30
0
C là khoảng nhiệt độ tối ưu để Trichoderma sp. sinh trưởng
và phát triển nhanh, lượng bào tử nhiều và thời gian sinh sản bào tử sớm. Ở 35
0
C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status