TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Mục lục
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề:
Ngô và đậu đỗ là các loại cây trồng chính của Việt Nam. Trong nhiều
năm trở lại đây, diện tích trồng ngô liên tục phát triển do nhu cầu trong nước
tăng mạnh cộng với những tiến bộ về công tác chọn tạo giống. Chúng ta đã tạo
được những giống ngô, đậu kháng sâu nên thiệt hại do sâu không đáng kể. Tuy
nhiên, nấm bệnh vẫn là vấn đề nan giải cho cây ngô trong điều kiện ẩm độ cao
như ở nước ta. Trong đó, phổ biến là bệnh do nấm Rhizoctonia solanii. Bệnh
phát sinh ngay từ giai đoạn cây con và kéo dài cho tới khi cây đóng bắp, thu
hoạch. Ở nước ta nói chung và Đông Nam bộ nói riêng, ngô thường được
trồng xen canh hoặc luân canh với các cây họ đậu nên bệnh cũng gây hại
không nhỏ đến sản xuất đậu, đặc biệt là giai đoạn cây con. Nhiều diện tích ngô
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
1
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
và đậu bị mất mật độ, phải gieo lại, làm ảnh hưởng đến mùa vụ gieo trồng là
do nấm gây chết cây con (còn gọi là bệnh lở cổ rễ).
Trong những thập kỷ trước, phòng trừ các loại bệnh hại chủ yếu dựa
vào biện pháp hóa học. Việc sử dụng các hóa chất chất tổng hợp như trước đây
thường gây nên hiện tượng kháng thuốc và dẫn đến hiệu quả phòng trừ thấp
đối với các loại nấm bệnh trong đất. Việt Nam là một trong những nước sử
dụng hóa chất bảo vệ thực vật cao nhất thế giới. Bên cạnh việc làm giảm chất
lượng lương thực, thực phẩm, các loại hóa nông dược còn tích tụ trong đất,
gây ô nhiễm môi trường đất, nước và làm cho sản xuất kém bền vững.
Cùng với sự phát triển của ngành công nghệ sinh học, các chế phẩm
sinh học ngày càng được lựa chọn trong công tác bảo vệ thực vật. Trong đó,
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia
solani trên cây bắp và cây đậu xanh.
Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh của chế phẩm sinh học nấm
Trichodema konigii đối với bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani .
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng khảo nghiệm: bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani gây
ra.
Đối tượng cân nghiên cứu đánh giá : nấm Trichoderma konigii
1.4 Giới hạn đề tài
Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh lở cổ rễ trên cây bắp và cây đậu xanh
của nấm Trichoderma konigii do nấm Rhizoctonia solani ở phạm vi trong chậu
nhựa
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU:
2.1 Tổng quan tìm hiểu về bệnh lỡ cổ rễ :
Bệnh lỡ cổ rễ là một bệnh phổ biến trên các loại cây họ đậu, bơng ,
gừng, cà chua… Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm ra rất lồi nấm gây bệnh
LCR như :
• Một số loài Pythium spp. Có thể tấn công trong giai đoạn đầu quá
trình sinh trưởng, gây thối hạt, mất sức nảy mầm, lở cổ rễ hoặc thối thân
làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cây dẫn đến giảm năng suất.
Nấm có thể gây hại cho cả cây trồng trong nhà lưới, nhà kính cũng như
cây trồng trên ruộng sản xuất. Trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, ruộng
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
3
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CƠNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MƠI TRƯỜNG VÀ CƠNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
thoát nước kém, một số nấm Pythium có thể phát triển và gây hại các bộ
phận phía trên của cây như lá, hoa và quả.
• Nấm Rhizoctia solani thường gây nên trong điều kiện nhiệt độ trung
phân hủy giải phóng chất hữu cơ làm tăng sự sinh trưởng tiếp tục của nấm.
Nấm Rhizoctonia thường gây bệnh ở rễ, phần thân sát mặt đất ở cây
non và trên bắp, thân và lá ở cây trưởng thành. Một số triệu chứng thường
gặp do Rhizoctonia gây ra bao gồm: thối rễ, lở cổ rễ cây non, teo thắt thân,
khô vằn và thối nhũn.
Vết bệnh ở cây non thường có màu nâu, thối nhũng và teo thắt lại ở
phần thân sát mặt đất và dẫn tới hiện tượng cây bò đổ rạp trên đất được gọi
là lở cổ rễ cây con. Trên những cây già hơn vết bệnh hóa gỗ rắn chắc và
thắt lại tại phần thân tiếp giáp với mặt đất được gọi là hiện tượng teo thắt
thân.
Khi chúng gây bệnh trên lúa và bắp thì có những vết chết loang lổ như
hình vân mây trên phiến lá và bẹ lá được gọi là bệnh khô vằn. Bệnh
thường xuất hiện khi cây đã lớn và đang đóng bắp.
Nấm này còn gây bệnh trên cây cải bắp và xà lách gọi là bệnh thối
ướt, vết bệnh lúc đầu là vết lá chết màu nâu vàng ở các lá ngoài với các sợi
nấm màu trắng xám, sau đó vết bệnh lan rất nhanh và gây thối toàn bắp.
Khi trời ẩm trên vết bệnh vừa nhìn thấy sợi nấm gây bệnh vừa thấy hạch
của nấm gây bệnh, hạch nấm dẹt, có màu nâu, trên bề mặt hạch có các lỗ
rất nhỏ.
Nấm R.solani là một nấm có thể ký sinh trên rất nhiều loại cây
trồng. Nấm phát triển rất nhanh, hạch nấm và sợi nấm có thể tồn tại trên
các mô cây sống hoặc tồn tại trên tàn dư cây trồng và trong đất trong thời
gian rất dài vì chúng chứa một lượng lớn chất dự trữ.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
5
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CƠNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MƠI TRƯỜNG VÀ CƠNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Sự xâm nhiễm của nấm bắt đầu từ hạch nấm, nguồn hạch nấm có
thể từ đất, rễ, tàn dư cây trồng, hạt hay củ giống bò bệnh. Hạch nấm có thể
* Điều kiện phát sònh của bệnh:
Nhiệt độ trung bình cho bệnh phát triển là 25 – 29
o
C. Trời mưa và
ẩm là thích hợp cho bệnh phát triển. Bệnh gây hại nặng trong điều kiện
đất thiếu canxi, sắt, magiê, đạm, photpho, lưu huỳnh hoặc sự phối hợp
của bất kỳ những nguyên tố khoáng này.
2.3 Tình hình bệnh LCR trong và ngồi nước:
Trên thế giới: Đây là một vấn đề nan giải ở một số nước trên thế giới
như Thái Lan, Mianma , Philipin…bệnh xuất hiện nhiều vào mùa mưa vào vào
giai đoạn cây con đang nảy mầm. thiệt hại của nó rất đáng kể lên hàng triệu
USD/ năm. Theo C.Lode (1999) ở Indonesia tổng diện tích cao su bị bệnh lỡ
cổ rễ trên 3 triệu ha, trong đó khoảng 84% diện tích tḥc tiểu điền. Bệnh LCR
mợt trong những bệnh gây hại nghiêm trọng trên cây cao su tại Indonesia. Tỷ
lệ bị bệnh 3% đới với đại điền, 5-15% đới với cao su tiểu điền, bình qn tỷ lệ
cây chết trên vườn cây là 3% gây thiệt hại về kinh tế khoảng 40 triệu
USD/năm. Ngun nhân chính là do chi phí phòng trừ loại bệnh này rất cao,
sự quản lý chưa đúng phù hợp, sự hiểu biết và kỹ năng nhận biết bệnh của tiểu
điền còn hạn chế.Chính phủ đã hỡ trợ hướng dẫn kỹ tḥt, cung cấp vớn (ở
mức thấp) và ngun liệu giúp nơng dân phòng trừ bệnh. Một nghiên cứu đánh
giá nữa ở Sri Lanka theo Catania (2001) có khoảng 116.000 ha trong đó diện
tích của tiểu điền cao su chiếm khỏang 65%, khỏang 5% diện tích bị nhiễm
bệnh LCR làm giảm tỷ lệ cây đứng và sản lượng của vườn cây, phòng trừ bệnh
rất tốn kém. Do nhiều lý do đã khiến mức độ bệnh ngày càng tăng gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sản xuất.
- Ở Malaysia (theo nguồn Agriviet.com.,2008) thì bệnh lại xuất hiện
vào những vùng đất tái canh tác theo nghiên cứu vào năm 2000-2005 có
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
7
gian từ khi cây bắt đầu mọc đến khi cây được 20 ngày tuổi. Tuổi cây càng lớn
thì khả năng nhiễm bệnh càng giảm.( theo Nguyễn Văn Vinh, 2005-2006).
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
8
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Theo những điều tra về số liệu của bệnh gây ra gần đây thì bệnh thường
xuất hiện ở hầu hết các vùng đồng bằng , trung du, miền núi trên các loại đậu,
bắp… làm thực phẩm cho vụ Đông Xuân và Xuân Hè . Bệnh phá hoại suốt
thời kỳ sinh trưởng của cây nhưng chủ yếu là vào thời ký cây con gây thiệt hại
lớn cho nguồn nông sản nước ta (theo Võ Thị Thu Oanh ,2000).
2.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh lỡ cổ rễ trong và ngoài nước:
2.4.1 Đối với thế giới:
Những nghiên cứu tại Philippin (2002-2005) (nguồn Agriviet.com.
2008) cho thấy rằng chính phủ tại đây đã tiêu tốn rất nhiều cho việc phòng trừ
bệnh LCR, bệnh làm cho sản lượng cao su ở đây giảm sút nặng nề. Tuy nhiên
việc phòng trừ nó lại rất lỏng lẻo bởi vì chỉ khuyế khích sử dụng thuốc hóa học
bởi lẽ kết quả phòng trừ chúng rất nhanh nhưng bênh cạnh đó chế độ luân canh
liến tục và việc chăm sóc giống tại đây nghiêm ngăt vì thế mà bệnh đã có phần
thuyên giảm mặc dù luôn luôn tái phát. Những thuốc hóa học thường được phổ
biến dùng là: Alvince50, phun Bayfidan 250EC, Folicur 250EW…
- Còn tại Thailan, Dasseco Meka (2006) cho biết chính phủ tại đây lại
khuyến khích nhân dân sử dụng các chế phẩm sinh học để giúp bảo vệ mối
trường và an toàn thực phẩm cho người dân đồng thời có thể triệt bệnh lâu dài,
tận gốc. theo thống kê vào năm 2006 thì việc sử dụng chế phẩm sinh học
Trichoderma spp. là 85.7%
- Đối với Ada Viterbo và Ilan Chet ở Viện khoa học Weizmann, Ixraen
(2009) tại các nước Châu Phi phân tích rằng Trichoderma là loại nấm có mặt
trong hầu hết các loại đất nông nghiệp. Chúng có khả năng kiềm chế các loại
những gen đã tăng cường sang các loại cây trồng khác hay nói vắn tắt là có thể
gây độc hại cho các loại cây trồng xung quanh. Chính vì thế giải pháp dùng
chế phẩm sinh học đang là một vấn đề thiết yếu và an toàn nhất trong thời
diểm hiện nay. Theo nguồn Agriviet.com.(2008).
2.4.2 Tình hình phòng bệnh lỡ cổ rễ ở trong nước:
Tại các tỉnh hoặc thành phố trong cả nước khi gieo trồng các loại cây
dù là cây kiểng hoặc cây hoa màu thì đều gặp tình trạng bệnh lỡ cổ rễ xuất
hiện chính vì lẽ đó mà theo những chuyên gia trong Cục Bảo Vệ Thực Vật
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
10
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
( Sở Khoa Học Và Đời Sống, tỉnh Vĩnh Long,2006) thường định hướng cho
người dân bằng nhiều biện pháp bảo vệ tốt cho cây trồng khỏi mắc bệnh theo
những cách sau:
- Thiết kế hệ thống thóat nước để ruộng không bị đọng nước, ẩm ướt,
đặc biệt là trên những chân ruộng trũng, ruộng luân canh với lúa nước.
- Tăng cường bón phân chuồng đã được ủ hoai mục để bổ xung nguồn
dinh dưỡng tổng hợp cho cây, cải tạo kết cấu của đất và bổ xung vi sinh vật
đối kháng giúp khống chế sự phát triển của nấm bệnh gây hại. Tăng cường bón
thêm Lân và Kali.
- Cày bừa ruộng kỹ, bón thêm vôi bột để giúp tiêu hủy nhanh tàn dư cây
bệnh có sẵn trong đất từ vụ trước, phơi rải đất nếu điều kiện cho phép.
- Tránh xuống giống vào những thời điểm có mưa nhiều, không nên gieo
hột giống sâu qúa. Sau khi mưa nếu đất bị đóng váng nên tranh thủ xới xáo
phá váng ngay.
- Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng thuốc trừ nấm Benlate 50WP (hoặc
Bendazol 50WP; Viben 50BTN ) bằng cách cứ mỗi kg hạt giống trộn đều
với 5-7 gram thuốc.
ngô làm lương thực chính với số lượng lớn (1999) như Lesotho
(116,2kg/năm), Nam Phi (98.8kg/ng/năm).
Ngô là một trong những cây trồng có khả năng cơ giới hóa cao. Hiện
nay, ở các nước đang tiên tiến cứ 30 phút lao động có thể sản xuất ra 100kg
hạt ngô.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
12
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Hình 2.1: cây bắp trên đồng ruộng
2.5.2 Tình hình bệnh LCR ở cây bắp và cách phòng chống bệnh LCR
đối với bắp:
Nấm R.solani gây hại trên cây bắp vào giai đoạn bắp mọc cây con
khoảng 20 ngày tuổi là lúc bệnh xâm nhập và phát hiện rõ nhất. bệnh thường
xuất hiện ở phần rễ cây, cây càng lớn và trưởng thành thì bệnh càng giảm.
Đặc điểm của bệnh là xuất hiện trên bẹ, phiến lá, thân và bắp ngô tạo ra
nhiều vết lớn loang lổ, đốm vằn da hổ, hình dạng bất kỳ như hình đám mây.
Vết bệnh lan từ lá phía dới gốc lên bắp, cờ, làm cây tàn lụi, bắp thối, gây tổn
thất lớn trên các giống ngô mới ( theo Bệnh Cây Nông Nghiệp,1998)
Một số biện pháp phòng trừ bệnh LCR được nghiên cứu bằng các thí
nghiệm phòng trừ trên đồng ruộng trong vụ xuân 2001 cho thấy các loại thuốc
Validacin 5 DD và Rovral 50 WWP sau phun 7 ngày có hiệu lực cao, đạt
86,52% và 83,3% tương ứng. Bón chế phẩm sinh học Trichoderma đạt hiệu
quả phòng trừ thấp hơn 72,7%. Tuy nhiên thời gian càng về sau, sau phun
thuốc hóa học 27 ngày thì hiệu lực phòng trừ giảm dần chỉ đạt 27,24% ( theo
nguồn: Bảo vệ Thực vật, 2002, Số 1, tr.32). Vì thế mà người dân được khuyến
khích dùng các chế phẩm có nguồn gốc là nấm đối kháng Trichoderma spp.
Bên cạnh đó còn những biện pháp sau:
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
đầu phát triển, dần khoảng 20 ngày tuổi là lúc ta quan sát được bệnh rõ nhất.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
14
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Bệnh này thường xuất hiện ở phần rễ của cây. Bên cạnh đó nấm bệnh còn có
thể cạnh tranh thức ăn, chất dinh dưỡng của hạt giống, làm cho hạt giống
không thể nảy mầm trong quá trình trồng.
Biểu hiện đặc trưng nhất của triệu chứng bệnh là rễ và gốc thân sát mặt
đất bị thâm đen, thối mục, gây bệnh héo chết cây đỗ gục xuống ruộng .
Ban đầu vết bệnh chỉ là một chấm nhỏ màu đen ở gốc thân, cổ rễ sau
đó lan rộng ra gốc thân và bọc quanh cổ rễ. bộ phận bị bệnh thì thối mục, màu
đen ủng nước hoặc hơi khô, cổ rễ bị héo tóp, bộ phận lá thân bị heo rũ nhưng
vẫn giữ được màu xanh ở lá. 5-6 ngày bị héo rũ và chết hàng loạt trên đồng
ruộng, để lại từng chòm vạt trống khuyết cây.
Khi gặp ẩm độ cao, nơi vết bệnh xuất hiện những hạch nấm màu nâu
đen trên các đám trơ nấm màu trắng .
Nguyên nhân bệnh là do cá loại nấm như Fusarium solani, Rhizoctonia
solani …
2.5.3.2 Cách phòng bệnh LCR ở nước ta:
Theo thạc sĩ Võ Thị Thu Oanh (2000) thì biện pháp phòng tốt nhất đối
với cây họ đậu là :
+ Thực hiện luân canh với cây họ hòa hảo như lúa nước nhằm hạn chế
bệnh tồn tại trong đất từ 2 đến 3 năm .
+ Áp dụng đúng các kỹ thuật canh tác từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch,
cày bừa kỹ, để ải khô, bón vôi để tiêu hủy tàn dư cây bệnh
+ Chọn giống tốt có sức nảy cao, gieo hạt đúng thời vụ tránh bị mưa
going, gieo hạt quá sâu. Sau khi mưa cần phá váng, xới xáo kịp thời, vun
luống cao tránh để ứ đọng nước, chú ý bón lót vôi và bón thúc sớm bằng phân
16
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Hình 2.2: Trichoderma sp.
Theo Agrios G.N (1997), Hrman G.E (2002), hầu hết Trichoderma spp
có giai đoạn sinh sản vô tính (đây là lý do Trichoderma spp được phân loại
thuộc nhóm nấm bất toàn Deuteromycetes, bộ Moniliales), tuy nhiên một vài
loài Trichoderma spp. cũng có khả năng sinh sản hữu tính nên được phân vào
lớp nấm tíu Ascomycetes, bộ Hypocreales, giống Hypocrea.
2.6.2 Tìm năng của Trichoderma trong phòng trừ sinh học:
2.6.2.1 Quần thể Trichoderma trong đất
Trichoderma có khả năng tái tạo quần thể, được xem là một hiện tượng
phòng trừ sinh học vẫn chưa được giải thích về cơ chế. Theo Bliss(1959)
Trichoderma có khả năng thiết lập quần thể và tái hoạt động rất mạnh mẽ và
nhanh trên đất đã được xử lý khử trùng xông hơi bằng cacbon disulfide để diệt
nấ, Armillaria mellea trênn cây cam, quýt, nhưng không công bố bằng chứng
quần thể Trichoderma phòng chống bệnh. Orh và công tác viên (1973) , cung
cấp các bằng chứng xác thực thuyết phục nhất quần thể Trichoderma trong
đất có khả năng phòng chống nấm Armillaria mellea trên đất đã được xử lý
xông hơi bằng methyl bromde, Trichoderma kháng methyl bromide hơn là
Acetyl mellea.
Các bằng chứng về vai trò của quần thể Trichoderma trong đất được
củng cố về vấn đề phòng trừ sinh học như thêm sulfur vào đất để duy trì độ pH
dưới 3,9 làm tăng khả năng phòng trừ bệnh thối rễ và thối ngọn dứa ở Úc.
Cách phòng trừ bệnh này đã làm giảm túi bào tử của nấm Rhizoctonia solani
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
17
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
18
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
rắn phụ thuộc vào nhiệt độ, loại môi trường nuôi trồng trên môi trường nuôi
trồng và thời điểm cấy nấm vào đất ( Elad và công tác viên,1980) tỷ lê
câytrichoderma vào giá thể và mật độ nấm gây bệnh (Hadar và công tác viên
1979).
Những vấn đề phức tạp liên quan đến khả năng chống bệnh của
Trichoderma cũng được nghiên cứu . Kelley (1976), công bố T.harzianum
được cấy vào đất sét với mục đích phòng trừ bệnh chết rạp cây con trên dưa
Ông ta nhận thấy rằng khả năng kháng bệnh của nấm này phụ thuộc vào dư
lượng dinh dưỡng trong đất , đặc biệt trong đất ẩm bệnh chết rạp phát triển rất
cao . Khi cấy T.harzianum dạng viên hưu cơ vào môi trường nhiều dinh dưỡng
, làm tăng quần thể Pytium, hậu quả là bệnh phát triển trong vườn dây leo
(Moody và Gindrat, 1977). Bệnh chết rạp xảy ra khi thêm Trichoderma dạng
viên vào trước khi gieo hạt dưa leo.
2.6.2.3 Bào tử nấm Trichoderma trong đất:
Với các bào tử phân sinh trần, phương pháp xử lý bằng khử trùng xông
hơi hay bay hơi trên đất làm tăng số lượng bào tử trong đất . thí nghiệm phòng
trừ bệnh Fusarium trên cây hoa cúc đã được ghi nhận gần đây thêm vào đất
dung dịch T. viride kháng thuốc Benomyl. Sử dụng nồng độ 10
4
bào tử/ cm
2
dòng nấm này trộn vào đất sau khi dược khử trùng bằng hơi nước (82
0
C trong
2 giờ), số bào tử của dòng nấm này tăng rất nhanh, nấm gây bệnh cây, không
Nấm Trichoderma spp hiện diện gần như trong tất cả các loại đất và các
môi trường khác. Chúng hiện diện với mật độ cao và phát triển mạnh ở vùng
rễ của cây, một số giống có khả năng phát triển ngay trên rễ.
Đất tự nhiên có khả năng kháng nấm và khả năng này mất dần đi. Điều
này có liên quan đến sự xuất hiện và mật độ phân bố cơ học của Trichoderma.
Bào tử phân sinh của Trichoderma có khả năng kháng nấm cao và liên quan
đến hiện tượng làm giảm khả năng kháng nấm trong đất. Độ nhạy của đất
kháng nấm được công bố trên đất trung tính, đất kiềm chua và acide. Các bào
tử phân sinh kháng nấm nhiều hơn hậu mô bào tử, sợi nấm ít kháng nâm hơn
bào tử phân sinh
Thiết lập quần thể và hiện tượng nảy mầm trong đất: vi sinh vật trong
đất hoạt động phụ thuộc vào nhiều loại chất nền trong đất, có nhiều phương
pháp xác định khác nhau. Khi sợi nấm non ( chưa có bào tử) vào đất liên quan
chặt chẽ với tình trạng thành phần môi trường đất. Bào tử sinh sôi nảy nở và
thiết lập quần thể cân bằng trong đất ( mật độ duy trì cân bằng trong đất từ 9-
36 tuần sau khi cấy nấm vào đất). Điều này cũng phụ thuộc vào nấm và như
vậy có liên quan đến thành phần thức ăn, việc hình thành quần thể sợi nấm.
Trichoderma từ thành phần nuôi trồng không liên quan đến loại đất.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
20
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Thiết lập quần thể tại vùng rễ cây: Trichoderma được phân lập tại vùng
rễ cây chính vì thế chúng có thể dùng vào việc phòng trừ sinh học đối với bệnh
ở vùng rễ cây. Hiệu quả của Trichoderma không chỉ xử lý hạt phát triển nhanh
xung quanh hệ rễ tạo các bào tử xâm nhiễm cây trồng. Nếu Trichoderma được
cây vào trong đất để ngăn bệnh cho cây trồng thì bắt buộc phải cấy theo bề
mặt rễ cây. Trichoderma có khả năng trong việc phòng chống bệnh thốii rễ
cây, hạt và bệnh cây chết non. Quan sát bào tử trên vùng rễ cây gồ: rễ, vỏ hạt
bệnh bị chết. Sau này khi quan sát dưới kính hiể vi thì hiện tượng trên được
mô tả như sau: tại những điểm nấm Trichodrma tiếp xúc với nấm gây bệnh đã
làm cho nấm gây bệnh teo lại và bị chết ( Dubey,1995). Ngược lại ở những
chỗ nấm không tiếm xúc với nâm gây bệnh thì nấm vẫn chết mặc dù không
tiếp xúc với Trichoderma. Từ đó Agrowcal và các cộng sự (1979,1996) đã
khẳng định rằng Trichoderma có khả năng tiết ra chất gây độc làm chết các
loại nấm gây bệnh.
2.6.2.6 Các hệ enzyme trao đổi của Trichoderma
Trichoderma có thể sinh rất nhiều loại enzyme ngoại bào như chitinase,
glucanase, xylase, lipase, pectinase, cellulase, protease, … để phân hủy xác
thực vật và tế bào nấm bệnh trong đời sống hoại sinh và ký sinh của chúng.
Sau đây là một số hệ enzyme điển hình ở Trichoderma.
Hệ enzyme cellulase:
Cellulose là chất trùng hợp với tiểu đơn vị là D-glucose nối nhau bởi
liên kết beta-1,4-glycosidic, cellulose được sử dụng như một nguồn năng
lượng carbon ở rất nhiều vi sinh vật tiết ra cellulase.
Hệ enzyme cellulase ở Trichoderma spp được phân thành ba lớp:
Beta-1,4-D-glucanase (cellobiohydrolase) giải phóng đơn vị cellobiosyl
từ chuỗi cellulose.
Endo-1,4-D-glucanase phân cắt liên kết glucosidic bên trong cấu trúc
cellulose.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
22
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Beta-1,4-D-glucanase phân cắt cello-oligosaccharide thành glucose
khử.
Quá trình thuỷ phân cellulose có sự phối hợp của ít nhất l hai
Enzyme chlobiohydrolase, hai enzyme endoglucanase và một enzyme
Beta-1,4-N-acetylglucosaminedase: phân cắt chitotetraose, chitotriose,
diacetylchitobiose thành GlcNac monomer.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
23
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ ĐỔ ÁN TỐT NGHIỆP
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC GVHD: TS. NGUYỄN THỊ HAI
Glucosamine là sản phẩm phân giải cuối cùng, glucosamine là một
đường khử có nhóm amin tự do nên vừa có đặc tính của hexo monosaccharide
vừa mang đặc tính của nhóm amino.
Người ta đã tinh chế được rất nhiều enzyme chitinase, trong đó phổ biến
nhất là endochitinase có kích thước 42 kDa, sau đó là N-acetyl-b-D-
glucosaminidase có kích thước 70 – 73 kDa. Ngoài ra cũng có endochitinase
37 kDa và 33 kDa (Cruz và cộng sự, 1992), chitobiosidase kDa (Harman và
cộng sự, 1993), exochitinase 28 kDa (Dean và cộng sự, 1998), beta-1,4-N-
acetylglucosaminidase 102 kDa có vai trò duy nhất trong việc gây ra sự biểu
hiện của các enzyme thủy phân chitin khác nhau nhưng chưa được tinh chế
(Harman và cộng sự, 1995).
Enzyme chitinase của Trichoderma spp được xem là enzyme có hoạt
tính thủy phân mạnh, hoạt động thủy phân của chitinase cũng kết hợp với các
enzyme khác như beta-glucanase, sự phối hợp với các enzyme phân giai chitin
và glucan đã dẫn đến sự tăng cường hoạt động thủy phân. Tuy nhiên, quan
trọng hơn là chitinase làm tăng hiệu quả kháng nấm của các hợp chất không có
bản chất enzyme. Theo báo cáo của Lorito và các cộng sự (1994), cho biết có
sự phối hợp hoạt động giữa các enzyme thủy phân chititn với các hợp chất tự
nhiên cũng như tổng hợp có ảnh hưởng lên màng tế bào (MAC).
Hệ enzyme beta - glucanase
Beta – glucan trong vách tế bào nấm thường ở dạng beta-1,3-glucan và
phần nhánh là dạng beta-1,6-glucan, beta-glucanase cũng là một hệ enzyme
quan trọng của Trichoderma spp trong đặc tính kí sinh nấm, gồm 2 lớp enzyme
beta-1,6-glucanase, enzyme này phân cắt liên kết beta-1,6-glucan trong vách
tế bào nấm.
Hệ enzyme protease
Theo Delgado và Jarana (2000) khi khảo sát trên Trichoderma harvey
đã xác định nhiều loại protease khác nhau tùy thuộc điều kiện môi trường có
pH thấp và bổ sung chitin, glucose, amon, … T.har tiết ra protease acid như là
tác nhân điều hòa, để đáp ứng nhu cầu phân hủy những protein ngoại bào như
chitinase, glucanase, cellulase, ngược lại protease có tính base hoặc trung tính
được T.har sinh ra trong môi trường có nguồn C khó bị phân hủy như vách tế
bào nấm.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trân
Lớp: 05DSH _ MSSV:105111077
25