đánh giá hiệu quả phòng trừ của chitosan đối với tuyến trùng hạt tiêu tại bình phước - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
o0o ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CỦA CHITOSAN
ĐỐI VỚI TUYẾN TRÙNG HẠI TIÊU
TẠI BÌNH PHƯỚC
Chuyên ngành: Công Nghệ Sinh Học
Mã số ngành : 111

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH : Trương Kim Trọng
MSSV
:
105111068
LỚP : 05DSH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KTCN TPHCM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

KHOA: Môi Trường & CNSH
BỘ MÔN: Công nghệ sinh học
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
HỌ VÀ TÊN: TRƯƠNG KIM TRỌNG
NGÀNH: MÔI TRƯỜNG VÀ CNSH
MSSV: 105111068
LỚP: 05DSH
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 - Mật độ tuyến trùng trước lúc xử lý thuốc 23
Bảng 3.2 - Mật độ tuyến trùng sau 5 ngày lúc xử lý thuốc 26
Bảng 3.3 - Mật độ tuyến trùng sau 15 ngày lúc xử lý thuốc 27
Bảng 3.4 - Mật độ tuyến trùng sau 30 ngày lúc xử lý thuốc 29
Bảng 3.5 - Hiệu lực (%) diệt tuyến trùng của thuốc sau 5 ngày xử lý thuốc 31
Bảng 3.6 - Hiệu lực (%) diệt tuyến trùng của thuốc sau 15 ngày xử lý thuốc 32
Bảng 3.7 - Hiệu lực (%) diệt tuyến trùng của thuốc sau 30 ngày xử lý thuốc 33
Bảng 3.8 - Độc tính của thuốc đối với cây tiêu sau 5 ngày sử dụng thuốc 34
Bảng 3.9 - Độc tính của thuốc đối với cây tiêu sau 15 ngày sử dụng thuốc 36
Bảng 3.10 - Độc tính của thuốc đối với cây tiêu sau 30 ngày sử dụng thuốc 37 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT BVTV: Bảo vệ thực vật.

Hình 3.17 - Lô tiêu sau 30 ngày xử lý thuốc ở công thức 1, 2 và 3 38
Hình 3.18 - Lô tiêu sau 30 ngày xử lý thuốc ở công 4, 5 vả 6 38
Hình 3.19 – Lô tiêu sau 30 ngày xử lý thuốc ở công thức . 38
ĐỒ THỊ:
Đồ thị 1: Diển biến mật độ tuyến trùng trong đất trồng tiêu (số cá thể/ 10 ml dịch lọc)
ở các công thức thử nghiệm (Bình Phước, 2009) 30 LỜI CẢM ƠN


Để hoàn thành được đồ án này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình
đến:
Trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để
em được hoàn thành đồ án tốt nghiệp của mình.
Quyù thầy cô Khoa Môi Trường & Công Nghệ Sinh Học Trường ĐH Kỹ
Thuật Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến
thức quyù báu trong suốt 4 năm học vừa qua.
Cô TS. Nguyễn Thị Hai đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy và động viên em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
GS. Nguyễn Thơ đã hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ
sở vật chất, trang thiết bị giúp em hoàn thành đề tài này.
Anh CN. Ngô Văn Bình nhân viên tại Phân Viện Cơ Điện và Công Nghệ Sau
Thu Hoạch TP Hồ Chí Minh đã hướng daãn cách lấy mẫu và xác định tuyến trùng
tạo điều kiện thuận lợi để em làm tốt đề tài.
Các bạn bè và gia đình đã không ngừng động viên em trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn tất cả Quý Thầy, Cô và các anh chị đã
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Xin kính chúc Quý Thầy, Cô và toàn thể các cô chú, anh chị, dồi dào sức khỏe

CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu 19
2.2.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu 19
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 19
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Mật độ tuyến trùng Meloidogyne spp. trong mẫu rễ và trong mẫu đất ở các
thời điểm 23
3.2. Hiệu lực diệt tuyến trùng của Chitosan 31
3.3. Ảnh hưởng của thuốc đến cây tiêu 34
3.3.1. Sau 5 ngày xử lý thuốc 34
3.3.2. Sau 15 ngày xử lý thuốc 35

3.3.3. Sau 30 ngy x lý thuc 37
KT LUN V KIN NGH 39
Taứi lieọu tham khaỷo Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU

Tiêu là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, giữ vị trí quan trọng
trong cơ cấu cây trồng của nước ta. Việt Nam hiện là nước xuất khẩu tiêu lớn nhất
thế giới, chiếm hơn 50% thị phần mặt hàng này trên toàn cầu. Cả nước hiện có
khoảng 50.000 ha hồ tiêu, chủ yếu tập trung ở một số tỉnh ở Cao Nguyên và miền

 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đồ án là tuyến trùng hại tiêu (Meloidogyne spp.) và
chế phẩm Chitosan 0,5% có nguồn gốc từ Trung Quốc (do Cục Bảo Vệ Thực vật
nhập nội và cung cấp cho đồ án).
 Phạm vi nghiên cứu
Hiệu quả phòng trị tuyến trùng Meloidogyne spp. gây hại trên cây tiêu của
Chitosan tại Bình Phước.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 3


Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 4
 Kết quả nghiên cứu về tuyến trùng hại hồ tiêu
Tuyến trùng là bệnh phổ biến ở nhiều nước Brazil, Ấn Độ, Indonesia…
(Ramana, 1987). Winoto 1972, Mustika 1978 v.v ). Theo Winoto (1972) ở Sarawak,
tại Malaysia, tuyến trùng Meloidogyne spp. gây hại hàng loạt làm cho cây bị vàng lá,
còi cọc và có triệu chứng thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Triệu chứng bệnh tăng
thêm khi có sự kết hợp giữa sự nhiễm Meloidogyne incognita và Fusarium solani,
trong điều kiện khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng.
Fieldphoto (2004) cho biết, tuyến trùng Meloidogyne spp. có hầu hết trên thế
giới và đặc biệt là ở những nước có khí hậu ẩm. Ở Hy Lạp tuyến trùng Meloidogyne
spp. gây nguy hiểm cho nền nông nghiệp (D. Prophetou, 2003).
Tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne, Pratylenchus…), rệp vảy, rệp sáp không
chỉ là những sâu bệnh hại nguy hiểm mà vết thương do chúng gây ra tạo điều kiện
thuận lợi cho các loại nấm ký sinh yếu gây hại và làm cho cây hồ tiêu chết nhanh
hơn.
Theo Nguyễn Thơ và CTV (2009), tuyến trùng nốt sưng rễ là một trong những
đại diện chủ yếu của tuyến trùng ký sinh thực vật, phần lớn thuộc chi Meloidogyne
và có ý nghĩa kinh tế. Tuyến trùng nốt sần rễ thường gây hại đối với nhiều loại cây
trồng điển hình là cây hồ tiêu. Chúng chủ yếu sống trong đất, các dạng sợi hạch, bào
tử nang, quả nấm… có sức chống chịu lớn, chúng cũng tồn tại trong rễ, xác thực vật
nằm trong đất.
Tại Đăk Nông, rệp sáp hại rễ và quả, tuyến trùng Pratylenchus, Meloidogyne
hại rễ, các loại nấm Pythium, Phytophthora… gây thối rễ, héo cây là những tác nhân
chủ yếu hạn chế năng suất và sản lượng hồ tiêu ở vùng này. Ngoài ra các loại bệnh
do vi rút, nấm thán thư, tảo… cũng gây hại đáng kể ở nhiều vùng trồng hồ tiêu trong
tỉnh.
Thành phần bệnh hại tiêu ở các tỉnh Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông
Cửu Long gồm có 2 nhóm bệnh hại chính là nhóm bệnh hại thân lá (bao gồm: bệnh

và đậu quả kém. Tạo thành những nốt sần ở rễ tiêu là đặc điểm rất cơ bản và đặc
trưng của bệnh này, nếu bệnh nặng cây có thể chết. Nhìn chung các biểu hiện của
bệnh ở phần cây trên mặt đất rất khác nhau tùy theo mức độ bệnh nặng hay nhẹ
(Nguyễn Ngọc Châu và CTV, 1990).
Phạm Văn Biên (1989) cho rằng, cây tiêu bị tuyến trùng hại nặng lúc đầu có
hiện tượng vàng đều các lá ở nửa dưới tán lá. Lá có màu vàng tươi và không có
những vết nâu đen như ở bệnh nấm. Dần dần lá chuyển khô vàng, kém phát triển như
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 6
khi cây bị hạn hoặc thiếu phân.
1.2.1. Đặc điểm sinh học của tuyến trùng Meloidogyne spp.
Tuyến trùng Meloidogyne incognita (Kofoid & White, 1919), (Chitwood,
1949) là loài tuyến trùng nội ký sinh rễ thuộc: giống Meloidogyne, Họ
Meloidogynidae, Bộ Tylenchida
Cũng như các loài tuyến trùng gây hại cây khác, tuyến trùng Meloidogyne
incognita con cái nhiều hơn con đực, đẻ trứng thành từng bọc, trứng nở ra tuyến
trùng non.
M. incognita sinh sản đơn tính, mặc dù con đực phổ biến và có thể tập hợp ở
giai đoạn cuối để dẫn dụ con cái (Whitehead, 1998).
Vòng đời của tuyến trùng M. incognita phát triển qua 5 giai đoạn chính:
Trứng - Ấu trùng tuổi 1 - Ấu trùng tuổi 2 - Ấu trùng tuổi 3 - Ấu trùng tuổi 4 - Tuyến
trùng trưởng thành. Trong 5 giai đoạn này thì ấu trùng tuổi 2 và tuyến trùng M.
incognita cái thường dùng để xác định loài. Khi nghiên cứu đặc điểm hình thái của
tuyến trùng M.i ở vùng Tân Lâm, Quảng Trị cho thấy chiều dài của ấu trùng tuổi 2
biến thiên từ 390 - 520 m (Nguyễn Vũ Thanh, Nguyễn Ngọc Châu, 1993)
Chiều rộng của ấu trùng tuổi 2 biến thiên từ 10,0 - 17,5 m, trung bình từ 13,6  1,3
m. Chiều dài kim chích biến thiên từ 10 - 15 m, trung bình 13,05  0,90 m.
Tuyến trùng cái có dạng quả lê, lúc nhỏ có màu trắng sữa, khi trưởng thành cơ
thể trong suốt, chiều dài biến thiên từ 570 - 970 m, trung bình 785  49,45 m. So
với chiều dài của tuyến trùng M. incognita ở Tân Lâm, Quảng Trị (510 - 740

incognita như bí đỏ, cà chua, thuốc lá, cỏ hôi (Nguyễn Ngọc Châu, Nguyễn Vũ
Thanh, 1991).
1.2.3. Các biện pháp quản lý tuyến trùng hại tiêu
Theo Feldphoto (2004), việc quản lý tuyến trùng hại tiêu ở Úc chủ yếu dựa
vào giống kháng cộng với luân canh hoặc xử lý đất bằng biện pháp xông hơi.
Tuy nhiên, việc chọn lọc giống tiêu kháng tuyến trùng là một vấn đề tương
đối khó khăn cho nhiều quốc gia. Vì vậy, các biện pháp canh tác được quan tâm
nhiều hơn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, bón phân đạm với liều lượng cao (56 – 147
kg/hecta), phân vi lượng (Bo, Mangan, đồng, molipđen) làm giảm 50 – 60% mật độ
tuyến trùng nốt sưng và tăng năng suất lên từ 30 đến 40% (Treskova, 1962). Biện
pháp kiểm dịch thực vật được cho rằng có hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến trùng
hại tiêu tại Canada (Ray Cerkauskas, 2005). Theo tác giả, biện pháp này bao gồm:
Kiểm dịch nghiêm ngặt khi chuyển giống từ vùng này sang vùng khác, chọn giống
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 8
thích hợp cho từng vùng và khi phát hiện khu vực nhiễm bệnh cần cách ly lây lang
sang các khu vực khác và không trồng những loại cây dễ nhiễm bệnh tuyến trùng
như: Cây hành, tỏi; Giữ đất khô, cây lật đất vào cuối mùa khô để tiêu diệt trứng của
tuyến trùng, kiểm soát cỏ dại trên đồng ruộng để cắt đứt ký chủ của tuyến trùng cho
phép mật độ tuyến trùng trong đất không vượt quả giới hạn cho phép, không nhập
giống ở những nơi bị bệnh tuyến trùng; Sau khi thu hoạch quả thu nhặt những cây bị
bệnh đem đi xử lý, bón phân hữu cơ để tăng vi sinh vật đất để giảm mật độ tuyến
trùng; Bón phân hữu cơ với lượng 4-10 tấn/ ha.
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng bánh dầu neem vào
việc kiểm soát tuyến trùng ký sinh thực vật. Những công bố đầu tiên đã cho thấy
những hoạt chất sinh học của dầu neem có tác dụng phòng trị tuyến trùng bướu rễ
Meloidogyne incognita trên cây đậu tương (dẫn theo Nguyễn Thơ và CTV , 2009).
Việc phòng trừ tuyến trùng hại tiêu ở nước ta chủ yếu là dựa vào biện pháp
hóa học (Viện khoa học kỹ thuật NN miền Nam, 2008). Tuy nhiên, sau khi dùng
thuốc hóa học 60 ngày thì tuyến trùng ở vùng rễ đã phục hồi. Một số sản phẩm trừ

 Sử dụng thuốc BVTV:
- Dùng nấm đối kháng Trichoderma bón vào đất (ủ chung với phân bón),
phun Trichoderma nước vào đất và phun lên cây để trừ nấm bệnh.
- Bón bã dầu neem cùng với phân bón.
- Sử dụng chất kích thích tính kháng.
- Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học.
- Sử dụng thuốc hóa học hạn chế khi thật cần thiết, không đổ thuốc độc
hóa học xuống gốc tiêu.
Mô hình IPM/ICM nói trên là biện pháp chẳng những rất có hiệu quả quản lý
dịch hại trên cây hồ tiêu mà còn làm tăng chất lượng của sản phẩm hồ tiêu Việt Nam
hiện nay.
 Hướng giải quyết vấn đề kiểm soát mầm bệnh và bảo vệ đất đai:
Tiến sĩ Paul Sultie (người mỹ) chuyên gia nghiên cứu độ phì nhiêu của đất đã
đưa ra quan điểm: Quản lý đất đai tổng hợp và cây trồng (IPSM : Integrated Plant
Soil Management). Hướng giải quyết này lúc đầu chưa được chú ý nhiều, nhưng sau
đó không những các nhà khoa học mà nông dân ngày càng quan tâm ủng hộ nhiều
hơn nhờ tính xác thực của nó.
Theo nguyên lý của TS. Paul Sultie, giải quyết vấn đề tác hại của hóa chất bảo
vệ thực vật và phân bón vô cơ có 2 cách như sau:
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 10
- Dùng tác nhân sinh học để làm vệ sinh đất, giúp lông hút của cây trồng
không bị sự cản ngại của tuyến trùng và các mầm bệnh, để có thể hút hữu hiệu phân
bón và nước sẵn có trong đất hoặc được cung cấp vào. Nhờ vậy giảm hẳn nhu cầu
bón đạm của cây trồng cạn.
- Dùng tác nhân sinh học để khởi động trực tiếp hoạt động của rễ và khởi
động hoạt động của vi sinh vật vùng rễ, giúp cho đất tơi xốp, dễ thoát hơi nước, hòa
tan lân, vi lượng, phân hủy hữu cơ… và vì vậy sinh khối rễ tăng lên, nuôi được thân
rễ, củ, quả, lá tốt hơn. Sinh khối rễ gia tăng cũng có nghĩa là đã bón hữu cơ vào
trong đất. Bên trên mặt, nếu là các loài cây trồng được thu hoạch hết như các loại rau

Trong các loài thủy sản đặc biệt là trong vỏ tôm, cua, ghẹ, hàm lượng chitin -
chitosan chiếm khá cao dao động từ 14 - 35% so với trọng lượng khô.
Vì vậy vỏ tôm, cua, ghẹ là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất chitin –
chitosan. Về mặt lịch sử, chitin được Braconnot phát hiện đầu tiên vào năm 1821,
trong cặn dịch chiết từ một loại nấm. Ông đặt tên cho chất này là “Fungine” để ghi
nhớ nguồn gốc của nó. Năm 1823 Odier phân lập được một chất từ bọ cánh cứng mà
ông gọi là chitin hay “chiton”, tiếng Hy lạp có nghĩa là vỏ giáp, nhưng ông không
phát hiện ra sự có mặt của nitơ trong đó. Cuối cùng cả Odier và Braconnot đều đi
đến kết luận chitin có dạng công thức giống với xellulose.
1.3.2. Tính chất lý hóa và độc tính của chitosan
 Cấu trúc hóa học.
Trong số các dẫn xuất của chitin thì chitosan là một trong những dẫn xuất
quan trọng vì nó có hoạt tính sinh học cao và có nhiều ứng dụng trong thực tế.
Việc sản xuất chitosan rất đơn giản, không cần dung môi, hóa chất độc hại,
đắt tiền. Chitosan thu được bằng phản ứng deacetyl hóa chitin, biến đổi nhóm N-
acetyl thành nhóm amin ở vị trí C
2
.
Do quá trình khử acetyl xảy ra không hoàn toàn nên người ta quy ước nếu độ
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 12
deacetyl hóa (degree of deacetylation) DD > 50% thì gọi là Chitosan, nếu DD < 50%
thì gọi là chitin.
Chitosan có cấu trúc tuyến tính từ các đơn vị 2-amino-2-deoxy--D-
glucosamine liên kết với nhau bằng liên kết - (1-4) glucozit.
Công thức phân tử: [C
6
H
11
O

0
C.
Chitosan có tính kiềm nhẹ, không tan trong nước, trong kiềm nhưng hòa tan
được trong dung dịch axit hữu cơ loãng như: axit acetic, axit fomic, axit lactic , tạo
thành dung dịch keo nhớt trong suốt. Chitosan hòa tan trong dung dịch axit acetic 1 –
1,5%. Độ nhớt của chitosan trong dung dịch axit loãnh liên quan đến kích thước và
khối lượng phân tử trung bình của chitosan (đây cũng là tính chất chung của tất cả
các dung dịch polime). Chitosan kết hợp với aldehit trong điều kiện thích hợp để
hình thành gel, đây là cơ sở để bẫy tế bào, enzym. Chitosan phản ứng với axit đậm
đặc, tạo muối khó tan. Chitosan tác dụng với Iod trong môi trường H
2
SO
4
cho phản
ứng lên màu tím.
 Tính chất sinh học.
Chitosan không độc, dùng an toàn cho người. Chúng có tính hòa hợp sinh học
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 14
cao với cơ thể, có khả năng tự phân hủy sinh học.
Chitosan có nhiều tác dụng sinh học như: tính kháng nấm, tính kháng khuẩn
với nhiều loại khác nhau, kích thích sự phát triển tăng sinh của tế bào, có khả năng
nuôi dưỡng tế bào trong điều kiện nghèo dinh dưỡng, tác dụng cầm máu, chống sưng
u.
Ngoài ra, Chitosan còn có tác dụng làm giảm cholesterol và lipid trong máu,
hạ huyết áp, điều trị thận mãn tính, chống rối loạn nội tiết.
Với khả năng thúc đẩy hoạt động của các peptit – insulin, kích thích việc tiết
ra insulin ở tuyến tụy nên chitosan đã được dùng để điều trị bệnh tiểu đường. Nhiều
công trình nghiên cứu đã công bố khả năng kháng đột biến, kích thích làm tăng
cường hệ thống miễn dịch cơ thể, khôi phục bạch cầu, hạn chế sự phát triển của các

nhiều sản phẩm thuốc chữa được nhiều loại bệnh khác nhau.
Trước đây, người ta thử chiết tách Chitosan từ thực vật biển nhưng nguồn
nguyên liệu không đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất. Trữ lượng Chitosan phần lớn có
nguồn gốc từ vỏ tôm, cua. Trong một thời gian các chất phế thải này không được thu
hồi mà thải ra ngoài gây ô nhiễm môi trường. Năm 1977, Viện Kỹ thuật
Masachusetts (Mỹ), khi tiến hành xác định giá trị của chitosan và protein trong vỏ
tôm, cua đã cho thấy việc thu hồi chất này có lợi nếu sử dụng trong công nghiệp,
phần protien thu được sẽ dùng để chế biến thức ăn gia súc, còn phần Chitosan sẽ
được dùng như một chất khởi đầu để diều chế các dẫn xuất có nhiều ứng dụng trong
lĩnh vực công nghiệp.
Năm 1961, nhà khoa học Nga BousBeloisov đã khởi xướng việc bào chế
thuốc chống nhiễm xạ từ Chitosan. Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm tiêm
thuốc cho động vật chó và khỉ trước khi chúng bị nhiễm xạ, kết quả cho thấy, khả
năng sống sót tới 45%. Rất tiếc, trong thảm hoạ hạt nhân Chernobyl năm 1968, các
thuốc chống xạ trên chưa được công bố rộng nên không được áp dụng cứu người.
Đến sau thảm hoạ tàu nguyên tử Komsomlets, các nhà khoa học đã lên tiếng kêu gọi
nên sử dụng chitosan làm vật liệu kết cấu trong xây dựng các lò phản ứng nguyên tử
và làm vỏ cách ngăn cho các con tàu nguyên tử.
Tại Nhật Bản, năm 1975, Chitosan đã được đưa vào làm chất xúc tác để xử lý
nước thải. Hiện nay, các hãng mỹ phẩm trên thế giới đã ứng dụng thành phần
chitosan vào hàng loạt các sản phẩm của mình. Chúng ta có thể tìm thấy chất này
trong các sản phẩm kem đánh răng, kem chống nắng, phấn mắt, nước xúc miệng, kẹo
chewing-gun Riêng hãng Mỹ phẩm Wella đã dùng Chitin-Chitosan trong ít nhất 15
sản phẩm bảo vệ tóc, và hãng Shiseido, thương hiệu nổi tiếng có mặt nhiều năm tại
thị trường Việt Nam cũng đã dùng chất này trong 13 sản phẩm mỹ phẩm của hãng.
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH: Trương Kim Trọng Trang 16
Thế giới ngày càng có xu hướng sử dụng dược phẩm chiết xuất từ nguồn gốc
thiên nhiên. Vì thế, trong nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới và cả ở Việt
Nam đã tích cực nghiên cứu chiết tách chitosan từ hàng ngàn tấn vỏ tôm đang được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status